Báo cáo sơ kết công tác đảng 6 tháng đầu năm 2016 của Đảng bộ công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai

Phát biểu khai mạc Hội nghị và quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung hội nghị;

Hoà chung với khí thế phấn khởi của nhân dân cả nước đang hướng về kỷ niệm 71 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; chào mừng sự thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ 12 của Đảng, thành công của Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Gia Lai (14/4/2006 – 14/4/2016) và Đoàn Khối doanh nghiệp (05/5/2006 – 05/5/2016); Thành công của công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; Được sự chỉ đạo và cho phép của Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối doanh nghiệp. Hôm nay Đảng bộ Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai long trọng tổ chức Hội nghị đảng viên Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2016 và triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2016;

Thay mặt Đảng uỷ công ty, tôi xin nhiệt liệt chào mừng 88 đảng viên tiêu biểu cho sức mạnh đoàn kết và nguyện vọng của toàn Đảng bộ đã về dự Hội nghị Sơ kết hôm nay.

Hội nghị chúng ta rất vinh dự và nhiệt liệt chào mừng:

+ đ/c………………………………

+ đ/c………………………………

+ đ/c …………………………….- Phó Bí thư Đảng uỷ Khối doanh nghiệp,`các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng uỷ và chuyên viên các Ban Đảng, Văn phòng Đảng uỷ về tham dự và chỉ đạo Hội nghị.

Một lần nữa xin nhiệt liệt chào mừng và kính chúc sức khoẻ các đồng chí lãnh đạo cấp trên và toàn thể các đ/c đại biểu của Hội nghị.

Kính thưa các đ/c lãnh đạo cấp trên!

Kính thưa toàn thể Hội nghị!

Phát huy những thành tích và kết quả đã đạt được trong hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng Bộ công ty làn thứ IX, kết quả thực hiện công tác đảng của Đảng bộ công ty 6 tháng đầu năm 2016. Với tinh thần đoàn kết thống nhất, phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, giữ vững kỷ cương, Hội nghị Sơ kết của chúng hôm nay tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau đây:

1/ Tập trung thảo luận, góp ý bổ sung vào bản dự thảo báo cáo Sơ kết công tác Đảng 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2016 (Về công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên, công tác kiện toàn tổ chức cấp uỷ, công tác đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát, công tác lãnh đạo các tổ chức đoàn thể, công tác xây dựng và phát triển đảng, công tác an ninh-quốc phòng, công tác xã hội-từ thiện, công tác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh) Yêu cầu mỗi Chi Bộ đảng trực thuộc đảng bộ công ty có 1 ý kiến tham luận vào bản dự thảo báo cáo sơ kết công tác đảng 6 tháng đầu năm 2016, và đề xuất 1 giải pháp thực hiện cho nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016 của đảng bộ công ty;

2/ Tập trung phát biểu, tham luận đánh giá, kiểm điểm khách quan, toàn diện về những ưu, khuyết điểm, phân tích làm rõ những nguyên nhân hạn chế, yếu kém; rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn qua hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ Công ty và công tác đảng của đảng bộ công ty trong 6 tháng đầu năm 2016. Qua đó xác định đúng đắn phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp để tập trung lãnh đạo công ty hoàn thành nhiệm vụ chính trị 6 tháng cuối năm 2016;

3/ Tập trung bàn bạc, tham luận, tìm giải pháp tối ưu để các chi bộ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch doanh thu năm 2016 đã đề ra; Đặc biệt là nhiệm vụ chính trị hoàn thành kế hoạch doanh thu 6 tháng cuối năm 2016 của mỗi chi bộ thuỷ nông cơ sở;

4/ Đánh giá công tác kiểm tra, giám sát, Kiểm điểm thực hiện Chương trình công tác kiểm tra, giám sát năm 2016 của Đảng ủy;

5/ Tham luận để thực hiện lãnh đạo tốt hơn công tác giáo dục chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên, viên chức quản lý và người lao động trong công ty, nhất là biện pháp đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa, ứng xử, trách nhiệm, nêu gương và lòng tự tôn nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ chuyên môn, viên chức quản lý và người lao động nói chung; Biện pháp để đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị theo hướng thiết thực và hiệu quả. Hoàn thành công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy và Ủy ban Kiểm tra theo Chương trình kiểm tra, giám sát năm 2016 đề ra.

Kính thưa các đ/c lãnh đạo cấp trên !

Kính thưa Hội nghị !

Trên tinh thần đoàn kết, thống nhất cao, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng mỗi đại biểu và toàn thể Hội nghị sẽ nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và tập thể công nhân viên chức, người lao động trong công ty, chấp hành nghiêm chỉnh quy chế, nội quy, thực hiện tốt chương trình của Hội nghị, làm cho Hội nghị thành công rực rỡ, đáp ứng niềm tin và nguyện vọng của cán bộ, đảng viên công nhân viên chức đang hướng về Hội nghị Sơ kết công tác đảng hôm nay.

Với mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và niềm tin tưởng sâu sắc đó, thay mặt BCH Đảng Bộ công ty, Tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị sơ kết công tác đáng 6 tháng đầu năm 2016 và triển khai nhiệm vụ công tác đảng 6 tháng cuối năm 2016;

Xin kính chúc các đ/c lãnh đạo cấp trên và toàn thể các đ/c đại biểu lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc, thắng lợi.

ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TỈNH GIA LAI

ĐẢNG ỦY CÔNG TY TNHH MTV

KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

*

Số : -BC/ ĐU Pleiku, ngày tháng 7 năm 2016

BÁO CÁO

Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2016,

nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm


A. Tình hình thực hiện công tác 6 tháng đầu năm :

I . Tình hình chung :

Kinh tế – xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2016 diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu tăng nhưng với tốc độ chậm lại. Giá cả hàng hóa thế giới vẫn ở mức thấp, thương mại và đầu tư toàn cầu kém sôi động, cùng với biến động khó lường của thị trường tài chính, tiền tệ thế giới đã tác động đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất khẩu và thu ngân sách Nhà nước; nền kinh tế nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại, lạm phát được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao. Tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng vẫn gia tăng. Đời sống nhân dân ở các vùng thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, vùng bị ô nhiễm môi trường biển còn gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng KT –XH trong nước có chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát. Dự trữ ngoại tệ khá, lãi suất cho vay có xu hướng giảm, tín dụng đối với nền kinh tế tăng trưởng tốt. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định.

Đối với địa phương, trong 6 tháng đầu năm, Gia Lai gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nặng nề của hạn hán, nhưng một số ngành kinh tế tiếp tục phát triển; không để xảy ra cháy rừng, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; công tác quản lý, bình ổn giá cả, phòng chống gian lận thương mại được triển khai quyết liệt. Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư được chỉ đạo quyết liệt; số doanh nghiệp đăng ký thành lập tăng so với cùng kỳ năm 2015. Đặc biệt đã tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. An ninh chính trị, an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Tình hình hoạt động của công ty trong 6 tháng đầu năm cũng gặp không ít khó khăn. Tình trạng hạn hán xảy ra trên diện rộng làm hầu hết các công trình đập dâng thiếu hụt nước trầm trọng, nhiều diện tích bị mất trắng, các diện tích còn lại bị ảnh hưởng năng suất, riêng các hồ chứa thì cơ bản vẫn đảm bảo phục vụ đủ nước trong khu tưới và tiếp nước chống hạn ngoài khu tưới; Mùa mưa năm nay đến muộn, do vậy ở công trình Ayun Hạ không đảm bảo lượng nước phục vụ vụ Mùa theo đúng lịch thời vụ; doanh thu cấp nước phát điện, cấp nước sinh hoạt bị sụt giảm

Đảng ủy luôn bám sát tình hình và sự chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên; kịp thời đề ra những giải pháp thích hợp, tập trung chỉ đạo sâu sát đến cơ sở để thực hiện chỉ tiêu kế hoạch. Bên cạnh đó là sự đoàn kết thống nhất của cán bộ đảng viên trong Đảng bộ, của cán bộ công nhân viên và người lao động trong công ty đã cùng nhau khắc phục khó khăn, thử thách thực hiện hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

II. Kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh :

1. Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất kinh doanh :

Trong 6 tháng đầu năm 2016, Đảng uỷ Công ty và các Chi bộ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hoàn thành một số nhiệm vụ sản xuất kinh doanh như sau:

Phục vụ tưới vụ Đông xuân 2015 – 2016 đảm bảo yêu cầu của hộ dùng nước, công tác tưới đạt yêu cầu tiết kiệm nước, hạn chế diện tích bị hạn. Các hồ chứa tưới cho cây công nghiệp đảm bảo được 3 đợt và đảm bảo nước cho cây lúa đến cuối vụ. Do đánh giá được tình hình nên đơn vị đã chủ động lập phương án điều tiết nước từ các hồ chứa cung cấp cho các công trình đập dâng nên đã cơ bản khắc phục được tình trạng thiếu nước ở các công trình này.

Kết quả thanh lý hợp đồng tưới vụ ĐX: 16.303,93ha/16.010,44ha = 101,83% kế hoạch, bằng 102,27% năm 2015; giá trị thanh lý đạt 15.929.270.000đ /15.726.183.000đ = 101,29% kế hoạch.

Ký hợp đồng tưới vụ mùa: 12.004,68ha/11.881,88ha = 101,03% kế hoạch.

Doanh thu 6 tháng đạt 18,428 tỷ đồng = 56,77% kế hoạch. Cao hơn năm 2015 2,77%.

Thu nhập bình quân cán bộ, CNV, lao động: 4,406 triệu đồng/tháng, so với kế hoạch năm đạt : 73,43%.

– Thực hiện hoàn thành công tác kê khai tài sản và thu nhập theo Nghị định 78 của Chính Phủ và thông tư hướng dẫn số 08 của Thanh tra Chính Phủ.

Chỉ đạo công tác kiểm tra công trình trước mùa mưa bão. Củng cố, kiện toàn các Ban chỉ huy PCLB và tìm kiếm cứu nạn toàn công ty và từng xí nghiệp. Lập phương án tích nước, xây dựng bổ sung phương án phòng chống lụt bão, phương án phòng chống lũ lụt vùng hạ du cho toàn đơn vị và cho từng công trình; xây dựng phương án bảo vệ công trình; công tác trực phòng chống lụt bão tại các công trình trọng yếu được chú trọng.

Chỉ đạo triển khai công tác sửa chữa công trình nhằm đảm bảo công trình an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo phục vụ sản xuất vụ Mùa 2016.

Triển khai các dự án do công ty làm chủ đầu tư đảm bảo tiến độ.

2. Thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng, công tác xã hội :

Công tác bảo vệ tài sản cơ quan, bảo vệ công trình được duy trì đảm bảo; thực hiện việc phân công trực lãnh đạo, bố trí lực lượng bảo vệ trực 24/24 giờ tại các công trình trọng điểm trong ngày lễ, đảm bảo giữ vững an ninh trật tự. Công tác phòng chống cháy nổ được chú trọng.

Duy trì tốt hoạt động của lực lượng tự vệ tại các công trình, xí nghiệp, đã cử 40 cán bộ chiến sĩ tham gia huấn luyện do cơ quan quân sự địa phương tổ chức, đáp ứng yêu cầu bảo vệ công trình, góp phần bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn;

III. Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng :

1. Công tác chính trị tư tưởng :

Đảng ủy đã quan tâm chỉ đạo chăm lo đời sống , đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cũng như các khoản phúc lợi khác cho CBCNV và người lao động trong đơn vị nên nhìn chung, tư tưởng CB, đảng viên ổn định, không có sự dao động lớn.

Quán triệt tư tưởng cán bộ đảng viên đón Xuân an toàn, tiết kiệm .

Tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết TW 12, 13, 14 (khóa XI) và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV cho hơn 95% đảng viên và 80% quần chúng. Xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2015 – 2020); thông báo kết quả Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII thành công tốt đẹp.

Triển khai thực hiện kế hoạch số 12-KH/ĐUK ngày 25/2/2016 của Đảng ủy Khối về triển khai thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2016 với chuyên đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm; gắn bó với nhân dân; đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh”; tổ chức học tập quán triệt với 100% đảng viên và hơn 90% quần chúng tham gia.

Tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và người lao động thực hiện Chỉ thị 02-CT/TU, ngày 22/12/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh”; về phân giới cắm mốc và lễ khánh thành cột mốc 30; thông tin về kết quả chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng; bầu cử đại biểu Quốc Hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021; kết quả chuyến thăm chính thức Việt Nam của tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama. Tuyên truyền và tham gia các hoạt động kỷ niệm 10 năm thành lập Đảng bộ Khối Doanh nghiệp (14/4/2006 – 14/4/2016) và Đoàn Khối doanh nghiệp (05/5/2006 – 05/5/2016).

Quán triệt đến cán bộ, đảng viên và người lao động về Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 27/12/2015 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 04-CT/TU, ngày 17/2/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Kế hoạch số 11-KH/ĐUK, ngày 29/2/2016 của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Triển khai thực hiện kế hoạch số 14-KH/ĐUK, ngày 11/4/2016 của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp về sơ kết 5 năm thực hiện thông tri số 05-TT/TU, ngày 16/6/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Cử 3 quần chúng tham gia lớp nhận thức về Đảng; cử 10 cán bộ, đảng viên học lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh đối tượng 4.

2. Công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên :

Tổ chức thành công Hội nghị đảng viên năm 2016.

Thành lập mới 01 chi bộ và ban hành Quyết định chỉ định cấp ủy chi bộ nhiệm kỳ (2015 -2017 ). Nhằm củng cố, kiện toàn Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ (2015 – 2020) đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu, Đảng ủy đã lập hồ sơ đề nghị Đảng ủy Khối và được chuẩn y bổ sung 01 đảng ủy viên.

Tiếp nhận bàn giao quản lý, theo dõi, khai thác hồ sơ đảng viên theo quy định từ Ban Tổ chức Đảng ủy Khối Doanh nghiệp và phân công 01 đồng chí đảng ủy viên trực tiếp quản lý hồ sơ.

Công tác phát triển đảng luôn được đảng ủy chú trọng, trong 6 tháng đã có 6 quần chúng đang được thẩm tra xác minh lý lịch; xét đề nghị kết nạp 3 đồng chí và được Đảng ủy Khối xét kết nạp 3 đồng chí. Đề nghị công nhận chính thức 2 đồng chí. Làm thủ tục chuyển sinh hoạt cho 1 đồng chí.

Cử các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư chi bộ tham gia lớp tập huấn nghiệp vụ công tác tổ chức, xây dựng dựng đảng; 02 đồng chí tham dự lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới. Đăng ký 01 đồng chí học lớp cao cấp lý luận chính trị hệ tại chức.

3. Công tác kiểm tra, giám sát :

Chỉ đạo Ủy ban kiểm tra Đảng ủy lập kế hoạch kiểm tra, giám sát năm 2016 và đã kiểm tra 01/02 chi bộ đạt 50% kế hoạch; giám sát 01/03 đồng chí cấp ủy viên cùng cấp đạt 33% kế hoạch. Qua kiểm tra giám sát chưa phát hiện sai phạm lớn đến mức đề nghị xử lý.

Chỉ đạo các Chi bộ lập kế hoạch kiểm tra giám sát đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nói và làm theo nghị quyết… lồng ghép với việc kiểm tra đảng viên rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đã kiểm tra được 50/88 đồng chí đạt 56,82% kế hoạch.

4. Tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở :

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm doanh nghiệp thực hiện tốt QCDC trong doanh nghiệp. Đầu năm, đơn vị đã tổ chức Đại hội CNVC từ cấp cơ sở đến cấp công ty. Tại Hội nghị, doanh nghiệp đã thực hiện việc báo cáo công khai tài chính trong năm 2015, công khai chế độ chính sách cho người lao động như tiền lương, thưởng, đóng BHXH, BHYT, BHTN, kết quả thi đua khen thưởng, kỷ luật …

Trong Hội nghị đã tổ chức cho người lao động được tham gia bàn bạc, chất vấn người sử dụng lao động về thực hiện thỏa ước lao động tập thể, về chế độ chính sách đối với người lao động… Đồng thời, người lao động tham gia bàn bạc thảo luận các nội dung: Nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch năm của công ty, của phòng, ban, xí nghiệp; Các nội quy, quy chế, quy định của công ty; Quy chế tiền lương, tiền thưởng; Các giải pháp nâng cao năng suất lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện làm việc, sắp xếp bố trí lao động…

IV. Lãnh đạo công tác đoàn thể :

Các tổ chức đoàn thể duy trì tốt hoạt động.

BCH Công đoàn phối hợp cùng chính quyền tổ chức thành công Hội nghị người lao động; xây dựng phong trào hoạt động thiết thực nhân tháng Công nhân 2016; phát động toàn thể CBCNV và người lao động trong công ty tích cực hăng hái thi đua lao động sản xuất, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. Qua đó, phát hiện những nhân tố tích cực để giới thiệu 6 quần chúng ưu tú cho Đảng bồi dưỡng, kết nạp. Bên cạnh đó, BCH công đoàn tiếp tục triển khai sản xuất phụ có hiệu quả, đem lại nguồn thu bổ sung cho hoạt động công đoàn. Vận động đoàn viên hưởng ứng ủng hộ chương trình “Nghĩa tình Hoàng Sa – Trường Sa” do công đoàn ngành NN& PTNT phát động; triển khai cuộc vận động “ Không hút thuốc lá” trong đoàn viên. Tổ chức thăm hỏi động viên kịp thời đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn, đau ốm, hiếu hỉ; tặng quà cho đoàn viên nghỉ chế độ …

Đoàn thanh niên công ty phối hợp với công đoàn tổ chức khai thác du lịch nhân dịp Tết Nguyên Đán tại các công trình thủy lợi. Tham gia các hoạt động kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26/3; chào mừng sinh nhật Bác. Tham gia chiến dịch “Những giọt máu hồng” với 10 đoàn viên thanh niên hiến máu; tham gia hội trại “Thanh niên khối Doanh nghiệp học tập và làm theo lời Bác” lần II năm 2016 do Đoàn Khối tổ chức. Đoàn cơ sở cũng đã tích cực giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng, trong 6 tháng đã giới thiệu 2 đoàn viên ưu tú, được kết nạp vào Đảng 1 đoàn viên; nhận xét đề nghị chuyển chính thức 01 đoàn viên.

Hai đoàn thể phối hợp tổ chức tốt các ngày quốc tế Phụ nữ 8/3; vui chơi và phát phần thưởng cho con em CBCNV nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6.

B. Chương trình công tác 6 tháng cuối năm :

Sáu tháng cuối năm, nền kinh tế nước ta sẽ tiếp tục đối mặt với không ít khó khăn, thách thức khi tham gia vào tiến trình hội nhập ngày càng sâu do năng lực cạnh tranh thấp, thương hiệu sản phẩm yếu và uy tín doanh nghiệp chưa có nhiều cải thiện. Bên cạnh đó, tình hình cung, cầu trên thị trường thế giới còn nhiều biến động phức tạp gây áp lực cạnh tranh cho xuất khẩu của Việt Nam. Tiêu thụ các mặt hàng nông sản trong nước thể hiện nhiều bất cập làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nông dân.

Tình hình diễn biến thời tiết 6 tháng cuối năm dự báo có nhiều bất lợi, khả năng hiện tượng La Nina sẽ xảy ra tập trung vào những tháng cuối năm, do đó lượng mưa sẽ tập trung nhiều hơn, cần chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống bão lụt, ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Trong bối cảnh đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phấn đấu cao nhất để thực hiện hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch năm 2016.

I. Thực hiện nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh :

1. Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất kinh doanh :

Chỉ đạo tốt công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn. Tăng cường công tác trực công trình trong mùa mưa bão; kiểm tra an toàn hồ chứa, kiểm tra vật tư, trang thiết bị, phương tiện phòng chống lụt kịp thời bổ sung sửa chữa hư hỏng bảo đảm bảo phương châm 4 tại chỗ trong phòng chống lụt bão. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 2569/CT-BNN-TCTL, ngày 01/4/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc tăng cường công tác đảm bảo an toàn công trình thủy lợi trong mùa mưa lũ năm 2016; Chỉ thị số 14/CT-UBND, ngày 30/5/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về việc tăng cường công tác quản lý, bảo đảm an toàn các hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện trên địa bàn tỉnh trong mùa mưa lũ năm 2016. Chỉ đạo tốt công tác phục vụ sản xuất vụ mùa. Làm tốt công tác tích nước chuẩn bị phục vụ vụ đông xuân. Chỉ đạo tốt công tác sửa chữa công trình, đảm bảo nước phục vụ vụ đông xuân 2016 – 2017.

Chỉ đạo thực hiện hoàn thành một số chỉ tiêu kế hoạch năm 2016 sau :

+ Diện tích tưới : 28.308,61 ha

+ Doanh thu QLKT : 32,459 tỷ

+ Thu nhập bình quân CBCNV : 6,0 triệu đồng/người/tháng

2. Thực hiện nhiệm vụ an ninh, quốc phòng :

Tăng cường công tác bảo vệ tài sản cơ quan, bảo vệ công trình; bố trí lực lượng bảo vệ trực tại các công trình trọng điểm . Làm tốt công tác phòng chống cháy nổ .

Duy trì tốt hoạt động của lực lượng tự vệ tại các công trình, xí nghiệp, cử cán bộ chiến sĩ tham gia huấn luyện do cơ quan quân sự địa phương tổ chức đáp ứng yêu cầu bảo vệ công trình, góp phần bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn.

Tích cực tham gia và vận động cán bộ, công nhân viên tham gia các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện.

II. Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng:

1. Công tác chính trị tư tưởng:

Tập trung chăm lo đời sống, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cũng như các khoản phúc lợi khác cho CBCNV và người lao động trong đơn vị .

Tham gia các lớp học tập, quán triệt nghị quyết theo kế hoạch của Đảng uỷ Khối. Hướng dẫn các chi bộ tổ chức quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; viết bài thu hoạch đạt chất lượng; xây dựng chương trình hành động và kế hoạch hành động của tập thể và cá nhân.

Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Đảng ủy Khối trong việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

2. Công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên:

Cử các cấp ủy viên tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ công tác đảng.

Tiếp tục chỉ đạo các Chi bộ làm tốt công tác phát triển Đảng. Đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu kết nạp đảng viên đã đề ra.

Tổ chức kết nạp đảng viên mới cho quần chúng khi có quyết định .

Tổ chức đánh giá chất lượng đảng viên và TCCS Đảng năm 2016. Phấn đấu hoàn thành một số chỉ tiêu sau:

+ Kết nạp được từ 6 đảng viên mới trở lên. Chú trọng phát triển đảng viên nữ, đảng viên là người dân tộc thiểu số.

+ 100% đảng viên hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ.

+ 50 % chi bộ trực thuộc đạt TCCS đảng trong sạch vững mạnh, không có TCCS đảng yếu kém hoặc không hoàn thành nhiệm vụ ..

+ Đảng bộ đạt danh hiệu TCCS đảng trong sạch vững mạnh .

3. Công tác kiểm tra, giám sát :

Thực hiện hoàn thành kế hoạch kiểm tra giám sát năm 2016 của Đảng ủy và Ủy ban kiểm tra đảng ủy.

Thực hiện hoàn thành công tác định kỳ kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nói và làm theo nghị quyết … theo kế hoạch đã lập. Hoàn thành chỉ tiêu cuối năm có từ 95-100% đảng viên được kiểm tra.

III. Lãnh đạo công tác đoàn thể :

Chỉ đạo 2 tổ chức đoàn thể duy trì hoạt động thường xuyên. Tích cực tham gia các hoạt động do đoàn thể cấp trên tổ chức. Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú giới thiệu Đảng xem xét kết nạp.

BCH Công đoàn chỉ đạo triển khai có hiệu quả công tác sản xuất phụ gây quỹ. Quan tâm chăm sóc đời sống tinh thần, vật chất của đoàn viên đặc biệt với những trường hợp đoàn viên gặp khó khăn, hoạn nạn. Tổ chức cho đoàn viên công đoàn đi tham quan năm 2016 và khám sức khỏe định kỳ.

BCH Đoàn cơ sở triển khai thực hiện có hiệu quả công trình thanh niên. Tổ chức thắp nên tri ân, thăm và tặng quà cho các gia đình chính sách nhân ngày Thương binh – Liệt sỹ. Chỉ đạo các chi đoàn tiến hành Đại hội tiến tới Đại hội Đoàn cơ sở nhiệm kỳ (2016 – 2019).

Chỉ đạo 2 tổ chức làm tốt công tác đánh giá, phân loại và tổng kết công tác năm .

T/M ĐẢNG ỦY

BÍ THƯ

Nơi nhận :

– Thường vụ Đảng uỷ Khối DN; (báo cáo)

– Ban Tổ chức Đảng uỷ Khối ; (theo dõi)

– Ban Tuyên giáo Đảng uỷ Khối ; (theo dõi)

– Các đ/c UVBCH Đảng bộ Công ty; (thực hiện)

– Các chi bộ trực thuộc; (thực hiện)

– Lưu .

Phát biểu kết luận và bế mạc Hội nghị Sơ kết công tác xây dựng đảng 6 tháng đầu năm 2016 Đảng bộ Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai nhiệm kỳ 2015-2020.

Kính thưa các đồng chí !

Kính thư Hội nghị!

Sau 1 buổi làm việc nghiêm túc và trách nhiệm, với tinh thần đoàn kết, phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, Hội nghị Sơ kết công tác đảng 6 tháng đầu năm 2016 và triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2016 đến đây đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.

Trên tinh thần đoàn kết thống nhất, tập trung trí tuệ, mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, Hội nghị đã thảo luận, góp ý, bổ sung, tham luận đề xuất vào dự thảo báo cáo Sơ kết công tác đảng 6 tháng đầu năm, triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2016, Tham gia vào Báo cáo đánh giá công tác giám sát kiểm tra của UBKT đảng ủy công ty;

Hội nghị đã đánh giá thắng thắn, khách quan, toàn diện kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác đảng 6 tháng đầu năm 2016, đề ra phuopwng hướng biện pháp thực hiện nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2016, thể hiện quyết tâm “tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân với đẩy mạnh phát triển kinh tế, đi đôi với bảo vệ môi trường; thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của công nhân viên chức, lao động; đảm bảo quốc phòng-an ninh để xây dựng Công ty phát triển toàn diện, bền vững”. Để thực hiện được mục tiêu to lớn đó; với sự nhất trí cao, Hội nghị đã biểu quyết thông qua các chỉ tiêu, biện pháp, chương trình hành động công tác đảng 6 tháng cuối năm 2016 (Về công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên, công tác kiện toàn tổ chức cấp uỷ, công tác đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát, công tác lãnh đạo các tổ chức đoàn thể, công tác xây dựng và phát triển đảng, công tác an ninh-quốc phòng, công tác xã hội-từ thiện, công tác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh) Đặc biệt là tập trung cao độ lãnh đạo và trực tiếp chỉ đạo thực hiện hoàn thành một số chỉ tiêu kế hoạch năm 2016: Diện tích tưới 28.308,61 ha; Doanh thu QLKT: 32,459 tỷ; Thu nhập bình quân CBCNV: 6,0 triệu đồng/ người/tháng

Phát biểu góp ý và chỉ đạo Hội nghị, đồng chí ………………………, Phó BTĐU Khối doanh nghiệp đã biểu dương một số thành tích đạt được của Đảng bộ và nhắc nhở chúng ta về những khuyết điểm, yếu kém mà Đảng bộ cần phải nghiêm túc khắc phục, sửa chữa; đồng thời đồng chí cũng đã chỉ rõ những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm mà Đảng bộ phải tập trung thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2016 và những năm tới, để đưa Công ty phát triển nhanh hơn, bền vững hơn theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, vì mục tiêu nâng cao cuộc sống cán bộ công nhân viên chức công ty, của nhân dân, người dùng nước, phục vụ nhân dân và người dùng nước ngày càng tốt hơn.

Hội nghị xin hứa sẽ nỗ lực thực hiện tốt nhất sự chỉ đạo của đồng chí Phó BTĐU – Khối doanh nghiệp tỉnh, gắn với quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ công ty làn thứ IX, Đại hội đảng bộ khối doanh nghiệp lần thứ III, Đại hội đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XV và Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII trong những năm tiếp theo.

Với những kết quả nêu trên; Hội nghị xin cảm ơn Ban thường vụ đảng ủy Khối doanh nghiệp, các Ban Đảng, Văn phòng đảng uỷ đã đến dự góp ý và chỉ đạo Hội nghị. Xin cảm ơn các đồng chí cấp uỷ đảng bộ công ty và cán bộ, đảng viên ở cơ sở; đại diện cho toàn thể công nhân viên chức người lao động trong toàn công ty đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu vào dự thảo Báo cáo Sơ kết và dự thảo báo cáo của UBKT đảng ủy công ty;

Hội nghị nhiệt liệt biểu dương và cảm ơn tất cả cán bộ đảng viên đã trực tiếp hoặc gián tiếp tận tụy phục vụ, đóng góp vào sự thành công của Hội nghị.

Kính thưa các đồng chí!

Nhân dịp này Hội nghị kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, đoàn viên các đoàn thể trong toàn công ty, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực thực hiện thắng lợi toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ trong 6 tháng cuối năm, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch UBND tỉnh giao, xây dựng Công ty ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống của cán bộ, công nhân viên chức trong công ty ngày càng được nâng cao.

Với niềm tin tưởng sâu sắc vào sự hoàn thành nhiệm vụ công tác đảng 6 tháng cuối năm 2016; sự phát triển của Công ty trong giai đoạn mới, thay mặt Ban chủ trì Hội nghị Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị sơ kết công tác đảng 6 tháng đầu năm 2016 và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016 của Đảng bộ công ty, nhiệm kỳ 2015-2020.

Xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo cấp trên, quý vị khách quý và toàn thể các đồng chí đại biểu dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc, thành công trong công tác và cuộc sống.

KỊCH BẢN LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THỦY LỢI GIA LAI (1976-2016)

KCH BN

LK NIM 40 NĂM NGÀY THÀNH LP NGÀNH THY LI GIA LAI (1976-2016) VÀ HỘI NGỘ CÁC THẾ HỆ ĐỒNG NGHIỆP THỦY LỢI GIA LAI LẦN THỨ 5

  

* Thời gian: Từ 8h đến 12h00, ngày 24 tháng 4 năm 2016.

* Địa điểm: Nhà Hàng Thiên Thanh II (88A-Phan Đình Phùng, tp Pleiku. Gia Lai).

* Đơn vị thực hiện: Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai

Dẫn chương trình:

MC Nam – MC Nữ

——————–

*Trong khoảng thời gian chờ đợi từ 7h00 đến 8h00 quý khách và đồng nghiệp xem phim tư liệu, hình ảnh về con người và công trình thủy lợi của Gia Lai-Kon Tum và Gia Lai

1/ Ổn định tổ chức, thông qua chương trình làm việc.

(Khi bắt đầu chạy chương trình, hai MC đứng từ phía dưới của 2 bên cánh gà sân khấu đi lên. MC Nam đi từ bên phải, MC Nữ đi từ bên trái, gặp nhau tại chính giữa sân khấu)

MC Nam – MC Nữ (đồng thanh): Xin nồng nhiệt chào đón các vị khách quý, các vị đồng nghiệp thủy lợi tỉnh Gia Lai trên khắp mọi miền đất nước đã về dự buổi Lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ngành thủy lợi Gia Lai, buổi gặp mặt, hội ngộ lần thứ 5 các thế hệ làm công tác thủy lợi của tỉnh Gia Lai năm 2016;

Lời đầu tiên MC Nam – MC Nữ xin gửi tới quý vị  khách quý, quí vị đồng nghiệp lời chúc sức khoẻ và lời chào trân trọng nhất.

MC Nữ -Hiện nay đã chuẩn bị đến giờ khai mạc buổi lễ, trân trọng kính mời toàn thể khán phòng ổn định tổ chức để chương trình được bắt đầu.

Thay mặt cho Ban tổ chức chúng tôi xin phép được thông qua chương trình buổi lễ:

MC dẫn Thời gian Nội dung chương trình Người phụ trách
MC Nữ 8h00 đến 8h30’ Đón tiếp Khách (Khách ở xa đón tiếp ngày 23/4/2016) Ban Liên lạc +  Ban Tổ chức
8h30 đến 9h30’ Chương trình văn nghệ và xem phim tư liệu về hoạt động thủy lợi 40 năm (1976-2016) MC-Ca sỹ-Đội văn nghệ công ty
MC Nam 9h30 đến 10h00 +Diễn văn Khai mạc buổi lễ kỷ niệm và Báo cáo Thành tích 71 năm thủy lợi Việt Nam và kỷ niệm 40 năm thủy lợi Gia Lai

+Phát biểu của đại diện ngành thủy lợi Gia Lai (Sở Nông nghiệp và PTNT)

MC, ban tổ chức-Ông Phạm Xuất-Ông Nguyễn Thanh Bình và Ông Nguyễn Sơn
10h00 đến 10h30’ Báo cáo tình hình hoạt động Ban liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi tỉnh Gia Lai đến năm 2016 TM BLL Ông Phạm Xuất-Trương Vân
MC Nữ 10h30 đến 11h00  Thông qua Qui ước hoạt động của Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai Ban Tổ chức & Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp
11h00 đến 11h30 +Phát biểu của các đồng nghiệp trong ngành thủy lợi

+Lễ trao quà cho đồng nghiệp lão thành

 Ông Đào Quang Phổ, Ông Phạm Xuất, Ông Nguyễn Sơn, Ông Vượng, Trần Viết.
MC Nam 11h30 đến 12h00 Chụp ảnh và ghi hình lưu niệm,  Ban Tổ chức & Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp
12h00 đến..chiều Lời cảm ơn và tuyên bố bế mạc buổi Lễ-Dùng cơm thân mật và giao lưu Ban tổ chức và toàn thể đồng nghiệp, khách mời

2/ Văn nghệ chào mừng:
MC Nữ : Đến với tiết mục văn nghệ chào mừng Lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ngành thủy lợi Gia Lai (1976-2016) và Gặp mặt hội ngộ lần thứ 5 các thế hệ làm công tác thủy lợi tỉnh Gia Lai, Trân trọng kính mời các vị khách quý theo dõi màn hợp ca nam nữ với liên khúc:  Tôi đi làm thủy Nông và song ca Cô gái Tây nguyên đi làm thủy lợi do tập thể đoàn viên Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai thể hiện.

(đội văn nghệ xếp thành 2 hàng đi từ 2 phía cánh gà sân khấu ra chính giữa sân khấu.

3/ Tuyên bố lý do, giới thiệu khách quý: (2 MC cùng bước ra sân khấu)

MC NamKính thưa các vị khách quý, quý vị đồng nghiệp!

Một dòng sông không có thác ghềnh, một con kênh không có bậc nước sẽ trở thành dòng sông và con kênh êm đềm, phẳng lặng. Nhưng dòng thời gian mà thiếu đi những mốc son, dấu ấn, điểm nhấn thì sẽ trở nên vô vị. 40 năm, một khoảng thời gian tuy chưa dài để viết lên lịch sử, nhưng đã có ý nghĩa thật lớn lao để đánh dấu mốc son trưởng thành của ngành thủy lợi tỉnh Gia Lai và đồng thời là một điểm nhấn đậm nét về tình đồng chí đồng nghiệp của những con người đã và đang gắn bó với ngành thủy lợi trên đất Gia Lai 40 năm qua.

MC Nữ : Kính thưa quý vị! Năm 1976, Ty thủy lợi Gia Lai (với tên gọi ban đầu là Ty Thủy lợi Gia Lai-Kon Tum) đã chính thức được thành lập. Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển. Vượt qua bao khó khăn, thách thức, bao lần đổi tên, sát nhập đến nay ngành thủy lợi tỉnh Gia Lai đã trở thành một ngành có uy tín trong hầu hết các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng thủy lợi-thủy điện, quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, vận hành công trình thủy điện, điều hòa phân phối nước công bằng, tích nước, xả lũ hợp lý đã điều tiết được lũ lụt, đẩy lùi ngập, úng, hạn hán, mở ra những vùng đất canh tác lúa nước hai vụ màu mỡ rộng lớn mang lại cho mảnh đất Tây nguyên lộng gió nhưng thường xuyên thiếu nước này một màu xanh mới đầy sức sống;

MC Nam:

Để nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển vẻ vang của ngành thủy lợi tỉnh Gia Lai trong suốt 40 năm qua, đồng thời ghi nhận và tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với các bạn đồng nghiệp, những người đã và đang công tác trong ngành thủy lợi của tỉnh Gia Lai, vun đúc thêm sự đoàn kết hỗ trợ của các cấp chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị-xã hội đối với ngành thủy lợi-Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai long trọng tổ chức buổi Lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ngành, nhằm thay lời cảm ơn chân thành nhất đối với cán bộ, công nhân, nhân viên đã cống hiến cả đời mình hoặc 1 phần của đời mình hoặc đang cống hiến cho sự nghiệp thủy lợi thủy điện của tỉnh nhà, đồng thời tổ chức buổi gặp mặt hội ngộ các thế hệ làm công tác thủy lợi tỉnh Gia Lai trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển 40 năm qua.

Đến Dự và chia vui niềm vui lớn với tập thể cán bộ, công nhân viên –người lao động đã và đang công tác trong thủy lợi Gia Lai hôm nay, Ban tổ chức xin trân trọng giới thiệu sự hiện diện của các vị khách quý.

MC Nữ – Nhìn Về phía khách mời:

(Xin trân trọng giới thiệu)

+Ông Đào Quang Phổ -Nguyên chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

MC Nam – Ông Nguyễn Sơn– Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT

MC Nữ Ông Tống Đức Trangnguyên chuyên viên Nông Lâm UBND tỉnh Gia Lai;

MC Nam – Ông Nguyễn Văn Lương– Chi cục trưởng Chi cục thủy lợi Sở Nông nghiệp và PTNT

MC Nữ – Cùng các tổ chức, cá nhân đã và đang làm nhiệm vụ thủy lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong suốt 40 năm qua.

MC Nam – Và đặc biệt là sự hiện diện của Ban Quản lý dự án thủy lợi 8 thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, các Nhà lãnh đạo, cán bộ quản lý điều hành của các doanh nghiệp Thủy lợi-Thủy điện Trung ương và địa phương đang cộng tác, đồng hành cùng với sự nghiệp thủy lợi của tỉnh Gia Lai. Xin nhiệt liệt chào mừng.

MC Nữ –Về phía Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai

Ban tổ chức xin được trân trọng giới thiệu:

1/ Ông Phạm Xuất: nguyên giám đốc Sở thủy lợi Gia Lai-Trưởng Ban Liên Lạc

MC Nam  

2/ Ông Trương Vân: Chủ tịch kiêm giám đốc công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai-Phó Ban liên lạc

MC Nữ

3/ Ông …………….– Phó Ban liên lạc

MC Nam

4/ Ông ……………….-Phó Ban liên lạc

MC Nữ :

 5/Ông ………………….-Ban viên

MC Nam

6/ Ông ………………….-Ban viên

7/ Ông ………………….-Ban viên

Cùng toàn thể hơn 400 cán bộ, công nhân viên-người lao động đồng nghiệp thủy lợi (đã và đang làm công tác thủy lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai) có mặt tại buổi lễ hôm nay.

Xin được nhiệt liệt chào mừng.

MC Nữ – Một lần nữa xin trân trọng chào mừng và cảm ơn các vị khách quý, các đồng nghiệp thủy lợi đã dành thời gian và tình cảm về dự buổi Lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ngành và hội ngộ các thế hệ trọng thể hôm nay. Xin kính chúc các quý vị cùng gia đình sức khỏe, thành công, chúc cho buổi lễ của chúng ta thêm long trọng và nồng ấm tình người!

(tiếng nhạc đệm theo tiếng vỗ tay nhẹ nhàng)

4/ Diễn văn khai mạc buổi lễ

MC Nam  

Kính thưa các vị khách quý, các bạn đồng nghiệp thân mến !

             71 năm đối với ngành thủy lợi của đất nước và 40 năm đối với ngành thủy lợi của Gia Lai chúng ta đã qua đi trong bối cảnh nước ta có chiến tranh (1945-1975) và hai miền đều thống nhất, Bắc Nam sum họp 1 nhà (1975-2016); toàn dân đã và đang cố gắng phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Chặng đường đi tới, trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam, đặc biệt là hạn hán sa mạc hóa đối với khu vực Tây nguyên chúng ta đang sinh sống, nhiệm vụ của ngành Thủy lợi còn rất nặng nề, như Bác Hồ sinh thời đã dạy:“Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc. Ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi, nhưng cũng có thể làm hại. Nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất và nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng Chủ nghĩa xã hội”.

          Thực hiện lời Bác dạy hôm nay 24/4/2016 Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai long trọng tổ chức buổi lế kỷ niệm 40 năm thành lập ngành thủy lợi Gia Lai và Gặp mặt Hội ngộ các thế hệ làm công tác thủy lợi của tỉnh Gia Lai.

          Thay mặt Ban tổ chức-Tôi xin trân trọng giới thiệu và kính mời ông Phạm Xuất, Trưởng ban Liên lạc hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai (nguyên giám đốc sở thủy lợi Gia Lai) lên trình bày diễn văn Khai mạc buổi Lễ, xin trân trọng kính mời ông.

Trưởng Ban bước lên sân khấu trong tiếng nhạc (kèn) đệm theo các bài nghi thức.

Bài phát biểu của Giám đốc khoảng 10 phút.

MC Nữ : XinTrân trọng cảm ơn bài diễn văn đầy ý nghĩa của ông Pham Xuất, qua bài diễn văn đã giúp chúng ta nhìn lại từng dấu son, điểm nhấn và dấu ấn trong quãng thời gian phát triển vẻ vang của ngành thủy lợi Gia Lai trên con đường xây dựng, phát triển và trưởng thành. Qua đó nắm được nội dung, tôn chỉ mục đích và ý nghĩa cao cả của buổi Lễ kỷ niệm và ngày gặp mặt hội ngộ các thế hệ thủy lợi của Gia Lai mà chúng ta long trọng tổ chức hôm nay;

5/Báo cáo điểm lại thành tích 71 năm thủy lợi Việt Nam và 40 năm hình thành và phát triển ngành thủy lợi Gia Lai:

MC Nam  

Kính thưa các vị  khách quý!

Nhằm tái hiện lại chặng đường 40 năm thành lập và phát triển đồng thời ôn lại những mốc son chói lọi về những thành công của ngành thủy lợi Gia Lai trong thời gian qua. Từ sau ngày 17/3/1975, ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975 và sau Nghị quyết đại hội đảng IV năm 1976 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum chính thức được thành lập……cho đến nay trải qua 40 năm xây dựng và trưởng thành ngành thủy lợi từ điểm xuất phát ban đầu toàn tỉnh chưa hề có công trình thủy lợi, sản xuất của nhân dân phụ thuộc vào nước trời 1 vụ mùa mưa đã tạo ra hệ thống thủy lợi tương đối đầy đủ với 340 công trình thủy lợi lớn nhỏ (gồm 112 hồ chứa, 188 đập dâng, 40 trạm bơm điện) với tổng năng lực tưới theo thiết kế 54.684ha đảm bảo tưới đủ nước cho 48.001ha (26.620ha lúa, 2.785ha màu, 18.596ha cây công nghiệp)

Sau đây tôi xin trân trọng giới thiệu và kính mời ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Trưởng ban Liên lạc hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai (Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai) sẽ có bản báo cáo ôn lại quá trình thành lập, trưởng thành, phát triển và những thành quả đạt được của ngành trong 40 năm qua, xin trân trọng kính mời ông.

Phó Trưởng Ban LL bước lên bục phát biểu trong tiếng nhạc (kèn) đệm theo các bài nghi thức. Báo cáo của Ông Bình khoảng 20 phút.

MC Nữ -Trân trọng cảm ơn bản báo cáo mang tính tổng hợp và thống kế sự kiện đầy ý nghĩa của ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Trưởng ban Liên lạc hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai (Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai), đã giúp chúng ta nhìn lại từng dấu son, điểm nhấn và dấu ấn trong quãng thời gian 40 năm hình thành và phát triển vẻ vang của ngành thủy lợi trên con đường xây dựng, phát triển và trưởng thành.

6/ Phát biểu chúc mừng của Lãnh đạo Ngành Nông nghiệp và PTNT:

MC Nam (MC giới thiệu liền mạch cùng với phần dẫn cảm ơn bài phát biểu của Ông Bình ở trên)

Vâng, để có được những kết quả đáng trân trọng và tự hào như thế, không thể không nhắc đến hình ảnh và vần tên của ngành Nông nghiệp và PTNT Gia Lai (trong đó có ngành thủy lợi sát nhập vào kể từ 1995) đã luôn tin tưởng, chỉ đạo, ủng hộ và gắn bó đồng hành với Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi tỉnh nhà trên suốt chặng đường phát triển đã qua.  

Trong không khí trang trọng nồng ấm hôm nay, để nói lên những quan tâm chuyên môn cũng như tình cảm của ngành đối với Hội đồng nghiệp Thủy Lợi. Ban tổ chức xin trân trọng giới thiệu và kính mời Ông Nguyễn Sơn –  Nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT (Hiện là Giám đốc Ban quản lý dự án Nông nghiệp và PTNT Gia Lai) đại diện các cấp quản lý nhà nước về thủy lợi có bài phát biểu, xin trân trọng kính mời Ông.

(Đại diện ngành Nông nghiệp bước lên sân khấu trên nền nhạc đệm Bài phát biểu khoảng 7 đến 10  phút).

MC Nữ :

Xin trân trọng cảm ơn những lời phát biểu đầy tâm huyết về quản lý ngành và dành nhiều tình cảm của Ông Nguyễn Sơn đại diện Sở Nông nghiệp và PTNT, trước sự quan tâm, tin tưởng của Ngành, Ban liên Lạc chúng tôi xin tiếp thu và ghi nhận những ý kiến quý báu của quý Sở và xin cam kết sẽ liên tục cố gắng hơn nữa, ngày càng thắt chặt mối liên hệ giữa các đồng nghiệp làm công tác thủy lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tiến tới thành lập Hội thủy lợi tỉnh Gia Lai trong thời gian không xa;

7/Báo cáo tình hình hoạt động của Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai;

MC Nam (MC giới thiệu liền mạch cùng với phần dẫn cảm ơn bài phát biểu của Ông Nguyễn Sơn ở trên)

Kính thưa các vị tiền bối, các bạn đồng nghiệp, Ngành thủy lợi riêng biệt không còn nữa, nhưng sự nghiệp thủy lợi là mãi mãi đồng thời phải được xây dựng và phát triển không ngừng. Từ cái nôi Gia Lai – Kon Tum đến nay các bạn mỗi người một nẻo đã đóng góp tốt nhất cho sự nghiệp thủy lợi và nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội, chúc các đồng nghiệp hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp của mình. Gia Lai nói riêng và Gia Lai- Kon tum nói chung sau giải phóng 1975 cả lương thực và thực phẩm đều phải nhập từ ngoài vào, gần như không có ruộng lúa nước 2 vụ, những năm 80 mươi của thế kỷ trước cả Gia Lai – Kon Tum phấn đấu 5-7 ngàn ha lúa nước 2 vụ rất khó khăn, nhưng đến nay 2016 thì riêng Gia Lai đã có nước đủ tưới chủ động cho hơn 48 ngàn ha lúa nước 2 vụ, rau màu và cây công nghiệp (trong đó có 26.620ha lúa, 2.785ha màu, 18.596ha cây công nghiệp) phục vụ cấp nước cho công nghiệp, sinh hoạt cho nhiều khu dân cự rộng lớn. Đến hẹn lại lên! Định kỳ 5 năm 1 lần Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi lại tổ chức gặp mặt hội ngộ tay bắt mặt mừng, vui buồn lẫn lộn và đầy ắp những hồi ức, những kỷ niệm một thời đã qua, đã cống hiến cho sự nghiệp thủy lợi Gia Lai – Kon Tum đáng nhớ. Hôm nay lại gặp mặt lần thứ 5 thật là bồi hồi xúc động từ những cái nhìn ấm áp, tay bắt mặt mừng, những lời hỏi thăm xem ai còn ai mất cho đến cùng nhau chia sẻ những niềm vui mà mọi người phấn đấu đạt được cho đến cho đến nỗi buồn chia sẻ đến những đồng nghiệp đau ốm, hoạn nạn hay đã an nghỉ nơi xa.

Để thắt chặt thêm tình cảm đồng nghiệp và cụ thể hóa thêm hoạt động của Ban Liên lạc trong những năm sắp tới trên cơ sở hoạt động của Ban Liên lạc từ trước đến nay…Ban Tổ chức trân trọng giới thiệu Ông Phạm Xuất Trưởng Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai Báo cáo tình hình hoạt động Ban liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi tỉnh Gia Lai đến năm 2016. Xin trân trọng kính mời Ông;

Trưởng Ban LL bước lên bục phát biểu trong tiếng nhạc (kèn) đệm theo các bài nghi thức. Báo cáo của Ông Xuất khoảng 15 phút.

MC Nữ

Xin trân trọng cảm ơn bản báo cáo hoạt động rất nhiệt tình, đầy trách nhiệm và cụ thể của Trưởng Ban Phạm Xuất và các thành viên trong Ban liên lạc; Đặc biết Ban đã xin cam kết sẽ liên tục cố gắng hơn nữa, ngày càng thắt chặt mối liên hệ giữa các đồng nghiệp làm công tác thủy lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tiến tới thành lập Hội thủy lợi tỉnh Gia Lai trong thời gian không xa;

8/ Thông qua Quy ước tổ chức và hoạt động của Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai

MC Nam (MC giới thiệu liền mạch cùng với phần dẫn cảm ơn bài phát biểu của Ông Phạm Xuất ở trên)

          Hiện hữu ngành thủy lợi hiện nay ở Gia Lai còn đậm nét là Công ty TNHH MTV KTCT thủy lợi Gia Lai, Ban giám Đốc, cũng như CBCNV của Công ty là chủ lực đóng góp sức lực và tài chính cho các cuộc tổ chức gặp mặt của Hội đồng nghiệp từ 2016 trở về sau. Để làm rõ thêm tôn chỉ mục đích của Hội đồng nghiệp, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của Ban liên lạc và hội viên, quy định rõ thêm về tài chính của hội đồng nghiệp để giảm bớt gánh nặng cho Công ty; Tôi xin trân trọng giới thiệu Ông Lê Viết Đại-Phó Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp lên trình bày thông qua quy chế họa động của Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai; Xin trân trọng kính mời ông;

Phó Trưởng Ban LL bước lên bục phát biểu trong tiếng nhạc (kèn) đệm theo các bài nghi thức. Báo cáo của Ông Đại khoảng 20 phút.

MC Nữ -Xin chân thành cảm ơn Ông Lê Viết Đại đã trình bày và thông qua trước toàn thể Hội viên Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia lai bản dự thảo “Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai”. Bản dự thảo rất chi tiết và cụ thể, nếu tất cả hội viên có mặt hôm nay không có ý kiến gì thì Ban Tổ chức chúng tôi coi như bản Quy định đã được thông qua;

9/ Phát biểu của đồng nghiệp Đào Quang Phổ-Nguyên chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai;

MC Nam

Kính thưa quý vị!

          Hòa theo dòng chảy thời gian cùng những thăng trầm lịch sử, những người từng công tác thủy lợi đã đóng góp công sức cho mảnh đất Tây Nguyên và cũng là những người đến tham dự Kỷ niệm 40 năm ngày thuỷ lợi và lần thứ 5 ngày gặp mặt hôm nay, nhằm đánh dấu một chặng đường của ngành thủy lợi tỉnh Gia Lai mình đã công tác. Chặng đường tuy chưa đủ để viết nên lịch sử nhưng cũng tương đương với 2- 3 thế hệ con người; Buổi gặp gỡ cũng là điểm hẹn gắn kết tình cảm đồng nghiệp của bao nhiêu mái đầu, cùng hồi tưởng câu chuyện cũ, gặp gỡ cùng ôn lại quãng đường làm thủy lợi. Buổi gặp mặt này cũng là dịp để  giao lưu, thăm hỏi, động viên, trao đổi kinh nghiệm động viên phát triển kinh tế gia đình, để nhìn lại ngành thủy lợi tỉnh Gia Lai của 40 năm qua. Đại diện cho tâm tư, nguyện vọng của lớp người thuỷ lợi đầu tiên đến với Gia Lai, đại diện cho các vị tiền bối có chuyên môn chuyên ngành thuỷ lợi; Ban tổ chức trân trọng giới thiệu Ông Đào Quang Phổ-Kỹ sư thuỷ lợi-Nguyên chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai có bài phát biểu Cảm tưởng và căn dặn thế hệ trẻ kế tiếp sự nghiệp thuỷ lợi của tỉnh nhà-Xin trân trọng kính mới Ông;

Nguyên Phó bí thư tỉnh uỷ, chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai-Kỹ sư thuỷ lợi bước lên bục phát biểu trong tiếng nhạc (kèn) đệm theo các bài nghi thức. Bài phát biểu của Ông Đào Quang Phổ khoảng 15 phút.

MC Nữ : Xin chân thành cảm ơn bài phát biểu của Ông Đào Quang Phổ về tình cảm trân trọng của Ông đối với ngành với đồng nghiệp, thế hệ trẻ thuỷ lợi Gia Lai xin tiếp thu những lời ông đã căn dặn và xin hứa sẽ cống hiến hết mình cho sự nghiệp thuỷ lợi của tỉnh nhà, tiếp tục làm tốt những công việc mà thế hệ cha ông đã đặt viên gạch xây móng đầu tiên cho ngành thuỷ lợi tỉnh Gia Lai;

10/ Phát biểu của Ông ……………….Vượng đại diện cho Ban quản lý dự án thuỷ lợi 8-Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

MC Nam: Để có những công trình thuỷ lợi lớn tầm cỡ quốc gia xây dựng ở Gia Lai như: Hồ Hoàng Ân, Hồ B Biển Hồ, Hồ Ayun Hạ, Hồ Ia M’Lah, Hồ Plei Pai và sắp tới đây là hồ chứa nước Ia Mơr có dung tích từ 5 triệu m3 nước đến 253 triệu m3 nước chúng ta không quên công lao vất vả ngày đêm của những đồng nghiệp trong Ban quản lý dự án thuỷ lợi 8 (trước đây là Ban kiến thiết, Ban 321, Ban 412) thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trước năm 1995 là Bộ thuỷ lợi chuyên ngành; Ban tổ chức xin trân trọng giới thiệu Ông Mai Quốc Vượng Giám đốc Ban quản lý dự án thuỷ lợi 8 có lời phát biểu về những công trình thuỷ lợi mà Bộ đã xây dựng trên địa bàn Gia Lai – Kon Tum 40 năm qua và những công trình sắp xây dựng cho Gia Lai trong tương lai, xin trân trọng kính mời ông;

MC Nữ : Ban liên lạc Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai thay mặt những người tư vấn thiết kế, thi công xây dựng, quản lý, khai thác, bảo vệ những công trình thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Gia Lai, những người hưởng lợi từ nguồn nước của các công trình và thế hệ hôm nay, mai sau với tất cả tấm lòng xin gửi đến Ông Mai Quốc Vượng, đến lãnh đạo Bộ thuỷ lợi cũ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, lãnh đạo Ban và Trung ương, lớp người đi trước lời biết ơn chân thành nhất. Xin cảm ơn 15 B thi công và 6 B thiết kế đã đóng góp 1 phần không nhỏ làm nên cho ngành thuỷ lợi Gia Lai công trình thuỷ lợi Ayun Hạ lớn và hiệu quả bậc nhất Tây nguyên;

11/ Phát biểu của ông…………………………………

MC Nam-Hôm nay, nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ngành thuỷ lợi Gia Lai, Ôn lại những kỷ niệm khó quên của một thời trẻ trai đáng nhớ, cái thời “Bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn, mà đời không ngại đào mấy con kênh” BTC xin trân trọng kính mời ông……………………..bước lên diễn đàn phát biểu cảm nghĩ về buổi gặp mặt lần thứ 5 các thế hệ thuỷ Lợi Gia Lai; xin trân trọng kính mời Ông:

Ông………..bước lên bục phát biểu trong tiếng nhạc (kèn) đệm theo các bài nghi thức. Phát biểu của Ông…….. khoảng 15  phút.

MC Nữ –Vâng Thật cảm động và thật đáng tự hào về những người con của đất nước Việt Nam từ khắp mọi miền đất nước đã vì sự nghiệp thuỷ lợi, thuỷ điện tình nguyện đến với Gia Lai để xây dựng nên những công trình và trở thành công dân Gia Lai tiếp tục xây dựng quê hương mới ngày càng giàu mạnh và phát triển; xin chân thành cảm ơn lời phát biểu nhiệt thành và đầy tâm huyết của Ông……….;

12/ L trao quà tri ân cho các đồng nghip lão thành trong ngành thu li Gia Lai;

MC Nam– Vâng ! Nhìn lại chặng đường 40 năm qua, càng tự hào bao nhiêu, chúng ta càng phải có trách nhiệm bấy nhiêu đối với sự nghiệp thuỷ lợi vẻ vang mà các thế hệ đi trước đã xây dựng nên và giao phó cho chúng ta hôm nay. Chúng ta vẫn còn nhiều điều phải trăn trở, phải tìm hướng đi thích hợp bởi vì những kết quả đạt được so với mục tiêu, yêu cầu và tiềm năng vẫn còn khiêm tốn và chưa đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân toàn tỉnh Gia Lai. Đặc biệt là trong thời kỳ Biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay đã đang và sẽ gây sức ép hàng ngày về thuỷ lợi lên chính chúng ta; Vì vậy, chúng ta phải đồng tâm, hiệp lực, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong ngành và sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện cho được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; Có như vậy chúng ta mới xứng đáng được gọi là tri ân các thế hệ thuỷ lợi đi trước của Gia Lai; (Kính mi các v tin bi thu li lên sân khu nhn quà, MC đọc tên tng người theo danh sách đính kèm)-Xin trân trọng kính mời Ông Phạm Xuất-Trưởng Ban liên lạch Hội đồng nghiệp lên trao quà tri ân lưu niệm cho các tiền bối thuỷ lợi tỉnh Gia Lai-Kính mời Ông

(Ông Phạm Xuất bước lên sân khu trên nn nhc đệm-MC Thu Trang đưa quà đặt trên khay phủ vải điều-Ông Phạm Xuất trực tiếp trao, vừa trao vừa ghi hình lưu niệm-Lễ trao quà diễn ra khong 7 đến 10  phút). 

MC Nữ –Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp to lớn của các vị tiền bối lão thành vào sự nghiệp phát triển và lớn mạnh của ngành thuỷ lợi tỉnh Gia Lai (tất cả vỗ tay)

(Phóng viên chụp hình lưu niệm)

13/ Giao lưu chụp hình lưu niệm(Chia thành nhiều đợt chụp hình)
MC Nam-Để ghi nhớ khoảnh khắc thiêng liêng và long trọng này thay mặt Ban tổ chức xin trân trọng kính mời các vị khách quý, các đồng nghiệp tổ chức chụp hình theo từng đơn vị, hoặc từng thời kỳ công tác;

Đợt 1: Xin trân trọng kính mời Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai

MC Nữ

Đợt 2: Kính mời Ban quản lý dự án xây dựng thuỷ lợi 8;

MC Nam

Đợt 3: Mời Ban dự án chuyên ngành thuỷ lợi Gia Lai

MC Nữ

Đợt 4: Kính mời Sở thuỷ lợi-Sở Nông nghiệp và PTNT

MC Nam

Đợt 5: Kính mời Chi cục thuỷ lợi Gia Lai

MC Nữ

Đợt 6: Kính mời Công ty CP Xây dựng thuỷ lợi Gia Lai

MC Nam

Đợt 7: Kính mời Công ty CP Tư vấn Nông-Lâm nghiệp Gia Lai

MC Nữ

Đợt 8: Kính mời Các thế hệ thuỷ lợi về hưu (thế hệ công tác thập niên 70, 80, 90, 2000)

MC Nam

Đợt 8: Kính mời Ban giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai

MC Nữ

Đợt 9: Kính mời Khối văn phòng Công ty

MC Nam

Đợt 10: Kính mời  các Xí nghiệp (chia thành 8 đợt mỗi đợt 1 xí nghiệp thuỷ nông trực thuộc)

MC Nữ Đợt 11: Kính mời Ban Liên lạc chụp với khách mời

MC Nam-Kính thưa quý vị khách quí, các bạn đồng nghiệp, Cuộc vui nào cũng có lúc tàn, sau mỗi lần lần gỡ là những phút chia ly, có chăng cái còn đọng lại mãi mãi về sau đó là những công trìnhThủy lợi đã được chúng ta xây dựng nên ở đất Cao nguyên cháy bỏng nắng hạn và lông gió này, Nước từ thượng nguồn trong xanh được tích lại bởi các công trình hồ chứa theo dòng kênh chảy về những vùng đất đỏ bazan, tiếp thêm sinh lực mới cho cây trồng phát triển, đã và đang làm nên một Tây Nguyên giàu đẹp như hôm nay và mai sau. Thay mặt ban tổ chức Xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi, Cảm ơn các đồng chí đồng nghiệp trong ban liên lạc đã nhiệt tình chuẩn bị và làm tất cả các điều kiện để chúng ta có được buổi lễ kỷ niệm và gặp mặt hội ngộ hôm nay … Sau đây tôi xin trân trọng giới thiệu và kính mời ông Phạm xuất, Thay mặt cho Ba Liên lạch Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai sẽ có bài diễn văn cảm ơn và bế mạc biểu lễ, xin Trân Trọng kính mời Ông.

(Ông Phạm Xuất bước lên sân khấu trên nền nhạc đệm-  phát biểu bế mạc và cảm ơn quý khách khoảng 6  đến 10  phút). 

MC Nữ -Xin cảm ơn Ông Phạm Xuất, cảm ơn các anh, chị trong Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai, cám ơn các quý khách, các vị tiền bối và đồng nghiệp thủy lợi trên khặp mọi miền đất nước đã về dự lễ kỷ niệm, buổi gặp mặt hội ngộ hôm nay; Kính chúc mọi người sức khỏe, vui vẻ và hạnh phúc;

MC Nam-Vâng thế là buổi lế long trọng, và buổi gặp mặt hội ngộ hôm nay đã đến giờ kết thúc, kính đề nghị tất cả quý vị khách quí, các bạn đồng nghiệp trong khán phòng nghỉ giải lao trong ít phút và dùng cơm thân mật với Ban Liên lạc ngay tại Hội trường này;

MC Nữ Một lần nữa, thay mặt cho Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai, xin cảm ơn sự có mặt của các đồng nghiệp, nguyên các cấp lãnh đạo tỉnh, sở, ban, công ty thuộc ngành thủy lợi đã nghỉ hưu đã bỏ thời gian về dự ngày lễ trọng thể 40 năm ngành thủy lợi Gia Lai và Hội ngộ các thế hệ thủy lợi này, Kính chúc các quý vị khách quý và các đồng nghiệp và các bạn sức khoẻ, hạnh phúc, an khang, thịnh Vượng!

HẾT

BÁO CÁO THÀNH TÍCH KỶ NIỆM 71 NĂM THỦY LỢI VIỆT NAM VÀ 40 NĂM NGÀNH THỦY LỢI GIA LAI

71 năm thủy lợi Việt Nam và 40 năm thủy lợi Gia Lai

Nhìn lại chặng đường 71 năm qua (28/8/1945 – 28/8/2016), kể từ khi thành lập ngành thuỷ lợi trong Bộ Giao thông Công chính (1945-1955), qua các giai đoạn của Bộ Thuỷ lợi Điện lực, Bộ Thuỷ lợi – Kiến trúc đến Bộ Thuỷ lợi (1958-1995), rồi Bộ Nông nghiệp & PTNT mặc dù tổ chức có thay đổi, tên gọi có khác nhau nhưng bất kỳ ở đâu và trong thời gian nào, các nhiệm vụ thuỷ lợi vẫn luôn được toàn thể cán bộ công nhân viên trong ngành và nhân dân các địa phương thực hiện với quyết tâm cao, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Bác Hồ và toàn nhân dân. Từ cuối năm 1995 đến nay, trong Bộ Nông nghiệp & PTNT hợp nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ NN&PTNT, đội ngũ cán bộ công nhân viên thuỷ lợi đương chức vẫn tiếp bước các thế hệ trước đây, tiếp tục đưa sự nghiệp thuỷ lợi có thêm những bước phát triển mới. Có thể nói đây là thời kỳ được quan tâm đặc biệt vì nguồn vốn đầu tư với mức bình quân 5.000 tỷ đồng trong một năm do vậy rất nhiều hệ thống thuỷ lợi đã và đang được xây dựng.

        Từ chỗ cả nước chỉ có 13 hệ thống thủy lợi lớn đảm bảo nước tưới cho 324 nghìn ha, năng lực tiêu khoảng 77 nghìn ha vào năm 1945, đến nay cả nước đã xây dựng hàng nghìn hệ thống công trình thủy lợi với 6.900hồ chứa, 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tiêu lớn, 234.000km kênh mương và 25.960km đê. Các hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới cho 7,3 triệu ha đất gieo trồng lúa, 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, cấp 6 tỷ mét khối nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp… góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều loại nông sản có vị thế cao trên thị trường quốc tế. Những nỗ lực của ngành cũng đóng góp quan trọng trong chủ động cảnh báo thiên tai, ứng phó bão, lũ hạn chế thảm họa thiên nhiên đối với môi trường sống…

Tấm Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước trao tặng cho ngành Thuỷ lợi năm 1995 nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Ngành đã thể hiện sự đánh giá và ghi nhận công lao to lớn của Ngành, của nhân dân và đội ngũ cán bộ công nhân viên các thế hệ trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

        Chặng đường đi tới, nhiệm vụ của ngành Thủy lợi còn rất nặng nề, như Bác Hồ sinh thời đã dạy: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc. Ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi, nhưng cũng có thể làm hại. Nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất và nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng Chủ nghĩa xã hội”.

Đối với tỉnh Gia Lai-Từ sau ngày 17/3/1975, ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975 và cụ thể hơn là từ sau Nghị quyết đại hội đảng IV năm 1976 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum chính thức được thành lập, cho đến nay trải qua 40 năm xây dựng và trưởng thành (1976-2016) ngành thủy lợi từ điểm xuất phát ban đầu toàn tỉnh chưa hề có công trình thủy lợi, sản xuất của nhân dân phụ thuộc vào nước trời 1 vụ mùa mưa, những năm 1976-1991 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum đã xây dựng nên những công trình ban đầu ở Gia Lai như: Hồ Ia H’Rung, Hồ Hoàng Ân, Hồ Ia Glai, Hồ Biển Hồ, Hồ Phú Cần, đập dâng Ia Peet, đập Uar, đập Chư Jôr,..ở Kon Tum: Hồ Đăk Uy, Hồ Đak Rơn Ga, Hồ Đăk Sa Men, Đập Đăk Cấm, ,…sau ngày chia tỉnh 1991 đến nay ở địa bàn Gia Lai ngành đã tạo ra hệ thống thủy lợi đầy đủ với 340 công trình thủy lợi lớn nhỏ (gồm 112 hồ chứa, 188 đập dâng, 40 trạm bơm điện) với tổng năng lực tưới theo thiết kế 54.684ha đảm bảo tưới đủ nước cho 48.001ha (trong đó có 26.620ha lúa, 2.785ha màu, 18.596ha cây công nghiệp). Riêng công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai quản lý và khai thác 36 công trình trong đó có 12 hồ chứa, 20 đập dâng, 4 trạm bơm điện với tổng năng lực tưới theo thiết kế: 30.586 ha, đảm bảo phục vụ tưới đủ nước cho trên 28.000 ha diện tích lúa, màu, cây công nghiệp, ao nuôi thuỷ sản trên địa bàn 11 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Gia Lai.

Nhờ có thủy lợi, thủy nông, thủy điện và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, từ một tỉnh nghèo nàn, lạc hậu với kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, du canh du cư, Gia Lai đã chuyển sang nền kinh tế hàng hóa phát triển đa dạng, có tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân liên tục đạt 13,6%/năm. Đến năm 2015, quy mô nền kinh tế tăng gấp 40 lần so với năm 1975, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực và đúng hướng. GDP bình quân đầu người đạt 35 triệu đồng/năm. Từ sau giải phóng đến năm 1991, tổng thu ngân sách của tỉnh đạt 40 tỷ đồng, đến năm 2015 thu ngân sách ước đạt gần 3.050 tỷ đồng, tăng gấp 87 lần so với năm 1991.… kết cấu hạ tầng thiết yếu cho phát triển kinh tế-xã hội từng bước được đầu tư cơ bản; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc. Gia Lai đang trên đà phát triển trở thành vùng kinh tế động lực trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia. Ngoài ra trong suốt chiều dài 40 năm trưởng thành và phát triển ngành cũng đã đào tạo cho tỉnh nhà những cán bộ nòng cốt của đảng và nhà nước tiêu biểu như nguyên chủ tịch UBND tỉnh Đào Quang Phổ, Phó bí thư-Chủ tịch Hội đồng nhân dân Phạm Đình Thu, UV Thường vụ Tỉnh ủy-Chủ nhiệm UBKT tỉnh đảng bộ-Ksor Keng. Giám đốc Ty thủy lợi – Huỳnh Lầu, Giám đốc Sở thủy Lợi Phạm Xuất,..v.v….

Trong thời gian tới, để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp cũng như thích ứng với biến đổi khí hậu – ngành thủy lợi đòi hỏi phải có sự phát triển mới và đáp ứng sát hơn với các yêu cầu thực tiễn. “Căn cứ đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu do đặc điểm có bờ biển dài và các vùng châu thổ đất thấp dễ bị ảnh hưởng của bão, lốc, lượng mưa cao và thất thường. Trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI, mỗi năm Việt Nam thiệt hại từ 1%-1,5% GDP do biến đổi khí hậu. Theo dự báo của các nhà khoa học, mực nước biển sẽ dâng lên 5cm mỗi năm và nếu nước biển dâng 1m sẽ làm giảm 7% sản luợng nông nghiệp và 10% GDP và nếu dâng lên từ 3-5 m thì điều này đồng nghĩa với ” thảm họa sẽ xảy ra” ở Việt Nam…dẫn đến mất 50% diện tích canh tác lúa 2 vụ, 17-22 triệu người sẽ phải di dời nơi ở nếu chúng ta không có những giải pháp công trình, nhiều diện tích canh tác ở Đồng bằng Sông Hồng sẽ không thể tiêu tự chảy.”

Cụ thể là trong những năm tới chúng ta phải thực hiện tốt hơn nữa 10 việc mà ngành đã làm được trong 71 năm đối với cả nước và 40 năm đối với tỉnh Gia Lai đã qua:

  1. Tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp
  2. Phòng chống giảm nhẹ thiên tai
  3. Cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
  4. Tham gia XD và QL thuỷ điện trên hệ thống sông Ba, SerePok và Sê San
  5. Đóng góp vào việc bảo vệ, cải tạo môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy sản
  6. Đóng góp quan trọng vào xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới
  7. Đóng góp vào việc quản lý tài nguyên nước
  8. Phát triển khoa học kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực
  9. Khảo sát, thiết kế, xây dựng công trình thủy lợi mới trên địa bàn;

10.Quản lý, khai thác, bảo vệ, bảo trì tốt các công trình thủy lợi, thủy điện; Tham gia xây dựng và tiếp nhận quản lý vận hành các công trình thủy lợi đang và sẽ thi công như: Hồ chứa nước Ia Mơr, Đập dân Ia Tul, Hồ chứa nước Plei Thơ Ga, Hồ Thầu Dầu;

 Đó là nhiệm vụ và cũng là vốn quý để thực hiện những nhiệm vụ to lớn hơn trong thời gian tới.

Kính thưa: Các vị khách quý,  các đồng chí, các bạn đồng nghiệp

Thủy lợi Gia Lai có được những thành quả to lớn trên trước hết là nhờ sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng, Nhà nước; Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ty thủy lơi, Sở Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và PTNT, sự phối hợp giúp đỡ của các ngành liên quan trong tỉnh và toàn thể nhân dân, hộ dùng nước thủy lợi trong đó có các thế hệ cán bộ công nhân viên qua các thời kỳ trong suốt 40 năm qua;.

Xin phép được thay mặt ngành Thuỷ lợi, Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai bày tỏ lòng biết ơn đối với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; cảm ơn sự phối hợp giúp đỡ của các Ty, Sở, Ngành liên quan, các địa phương, các cơ quan truyền thông, báo chí đã hết lòng giúp đỡ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của Thuỷ lợi Gia Lai…Ẩn sau vóc dáng các công trình thủy lợi mà chúng ta nhìn thấy hôm nay, ngoài sự quan tâm đầu tư, giúp đỡ của các ngành, các cấp từ địa phương đến Trung ương, còn có hình ảnh, dáng dấp, máu xương của những đồng nghiệp đã ngã xuống, còn có mồ hôi, nước mắt của đồng nghiệp đang có mặt hôm nay, và chúng ta mãi mãi không quên những bước chân vượt đại ngàn, hố thẳm, dốc sâu, những lần nằm lán trời mưa bị sốt rừng, rét núi,…những cuộc dò tìm, tháo gỡ bom mìn, những tàn tích chiến tranh để lại trên mảnh đất Tây Nguyên này, nơi công tình thủy lợi được xây dựng nên cũng là nơi đi qua của bao lớp người khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình. Để rồi tụ hội sự quan tâm, đầu tư, giúp đỡ, sự hy sinh lớn lao của lớp người đi trước, những công trình thủy lợi lần lượt được ra đời. Thủy lợi dễ nhìn thấy nhất đó là Nước từ thượng nguồn trong xanh theo dòng kênh chảy về những vùng đất đỏ bazan, tiếp thêm sinh lực mới cho cây trồng phát triển, đã và đang làm nên một Tây Nguyên giàu đẹp như hôm nay và mai sau.

Kính thưa các đồng chí các bạn đồng nghiệp !

Nhân kỷ niệm 40 năm ngành thủy lợi Gia Lai, họp mặt, hội ngộ lần thứ 5 các thế hệ thủy lợi Gia Lai-Xin được gửi tới thế hệ các cụ, các bác Hưu trí Thuỷ lợi, những người đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp thuỷ lợi trong những thời kỳ khó khăn của đất nước và tỉnh nhà vừa qua. Chúc các cụ, các bác, các đồng chí luôn mạnh khoẻ và tiếp tục có những đóng góp xây dựng ngành và bồi dưỡng, truyền đạt cho những thế hệ sau những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để hoàn thành các nhiệm vụ của Ngành trong thời gian tới.

Chúc toàn thể cán bộ công nhân viên chức-người lao động đang hoạt động trong các lĩnh vực thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai phấn đấu không ngừng, vươn lên giành những thành tựu mới.

                       Gia Lai, Ngày 24/4/2016                                 

                           Trưởng Ban Liên lạc

 

Phạm Xuất 

DIỄN VĂN KHAI MẠC LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM NGÀNH THỦY LỢI GIA LAI VÀ GẶP MẶT HỘI VIÊN HỘI ĐỒNG NGHIỆP THUỶ LỢI GIA LAI LẦN THỨ V

Kính Thưa Các vị khách quý,

Thưa toàn thể các đồng nghiệp tham dự Buổi Lễ kỷ niệm và gặp mặt hội ngộ hôm nay;

 

      Hôm nay, trong không khí thi đua sôi nổi của cả nước chào mừng thành công của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII, chào mừng Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ (2016 – 2021) sắp đến-Hướng tới kỷ niệm lần thứ 71 ngày thành lập ngành thuỷ lợi Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2016); Hôm nay ngày 24/4/2016 chiếu theo nguyện vọng của toàn thể hội viên, Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai long trọng tổ chức Lế kỷ niệm 40 năm thành lập ngành thuỷ lợi Gia Lai (1976-2016), gặp mặt lần thứ 5 các thế hệ làm công tác thuỷ lợi tỉnh Gia Lai, và đại hội toàn thể hội viên Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai lần thứ nhất;

      Thay mặt Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai, với tình cảm trân trọng, tôi xin nhiệt liệt chào mừng trên 400 đồng nghiệp đã có mặt tại khán phòng, những Hội viên đã và đang làm công tác thuỷ lợi của tỉnh Gia Lai trong 40 năm qua, về dự buổi lễ kỷ niệm 40 năm thành lập ngành thuỷ lợi Gia Lai và Gặp mặt toàn thể hội viên Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai lần thứ 5 năm 2016;

     Chúng ta nồng nhiệt chào mừng sự có mặt của các đồng chí nguyên là lãnh đạo Tỉnh và ngành thuỷ lợi của tỉnh qua các thới kỳ, các đồng chí đại diện cho Ban quản lý dự án thuỷ lợi 8-Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các đồng nghiệp đại diện cho ngành thuỷ lợi thuộc tỉnh và thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Gia Lai.

     Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gai Lai nhiệt liệt hoan nghênh, đánh giá cao và trân trọng biểu dương các đồng nghiệp lão thành cao tuổi từ khắp mọi miền đất nước không ngại đường xa và sức khoẻ, các đồng nghiệp trong công ty TNHH MTV đang công tác ở vùng sâu vùng xa của tỉnh, các cán bộ công nhân trong ngành đã nghỉ hưu đã dành trọn thời gian vài ngày, 1 ngày đến hội ngộ cùng với tất cả chúng ta trong ngày vui hiếm có này.

      Kính Thưa quý vị đồng nghiệp,

      Năm 1976 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum chính thức được thành lập, cho đến nay trải qua 40 năm xây dựng và trưởng thành, từ điểm xuất phát ban đầu toàn tỉnh chưa có công trình thủy lợi, sản xuất của nhân dân phụ thuộc vào nước trời 1 vụ mùa mưa, những năm 1976-1991 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum đã tập trung nhân tài vật lực xây dựng nên những công trình thuỷ lợi ở Gia Lai như: Hồ Ia H’Rung, Hồ Hoàng Ân, Hồ Ia Glai, Hồ Biển Hồ, Hồ Phú Cần, đập dâng Ia Peet, đập Uar, đập Chư Jôr,..ở Kon Tum như: Hồ Đăk Uy, Hồ Đak Rơn Ga, Hồ Đăk Sa Men, Đập Đăk Cấm,…Từ sau ngày chia tỉnh 1991 đến nay ở địa bàn Gia Lai ngành đã tạo ra hệ thống tưới tiêu tương đối đầy đủ gồm 340 công trình thủy lợi lớn nhỏ, trong đó có (112 hồ chứa, 188 đập dâng, 40 trạm bơm điện) với tổng năng lực tưới theo thiết kế 54.684ha đảm bảo tưới đủ nước cho 48.001ha (trong đó có 26.620ha lúa, 2.785ha màu, 18.596ha cây công nghiệp).

          Người xưa có câu tục ngữ: « Nhất nươc-Nhì Phân-Tam Cần-Tứ giống » quả đúng như vậy-Nhờ có thủy lợi và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Gia Lai từ một tỉnh nghèo nàn, lạc hậu với kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, du canh, du cư đã chuyển dần sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển đa dạng, có tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân liên tục đạt 13,6%/năm. Đến năm 2015, quy mô nền kinh tế tăng gấp 40 lần so với năm 1975, kết cấu hạ tầng thiết yếu cho phát triển kinh tế-xã hội từng bước được đầu tư cơ bản, đặc biệt là thuỷ lợi, những công trình thuỷ lợi lớn như Ayun Hạ, Ia M’lah, Plei Pai lần lượt được nhà nước xây dựng và chuyển giao cho tỉnh khai thác sử dụng; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc. Gia Lai đang trên đà phát triển và trở thành vùng kinh tế động lực trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia.

        Kính thưa các vị khách quý, các bạn đồng nghiệp

      Với những mục tiêu, nhiệm vụ, thành quả đạt được của ngành thuỷ lợi Gia Lai nêu trên; Hôm nay tại hội trường này chúng ta sẽ được nghe báo cáo tổng kết thành quả thuỷ lợi 71 năm của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thành tích 40 năm mà ngành của chúng ta đạt được trên mảnh đất Gia Lai, chúng ta sẽ được nghe ý kiến phát biểu đầy tâm tư và nguyện vọng của các vị lãnh đạo tiền bối trong ngành, nghe những căn dặn đầy trách nhiệm đối với thế hệ trẻ của các nguyên lão trí thức lâu năm của ngành thuỷ lợi Gia Lai; Đồng thời các đồng nghiệp hãy tích cực thảo luận vào báo cáo tổng kết hoạt động của Ban liên lạc các thế hệ làm công tác thuỷ lợi tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2010-2015, thảo luận góp ý bổ sung vào dự thảo quy ước tổ chức và hoạt động của Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai, Lựa chọn những đồng nghiệp ưu tú nhất bầu vào Ban liên lạc nhiệm kỳ 2016-2021, giao lưu thân mật đồng nhiệp sau 5 năm và nhiều năm không gặp mặt-Trên tinh thần đó, tôi đề nghị các đồng nghiệp tham dự buổi lễ và Gặp mặt toàn thể hội viên lần thứ 5 làm việc nghiêm túc, nhiệt tình, dân chủ, trách nhiệm cao, tham gia có hiệu quả vào chương trình, góp phần tạo nên sự thành công của buổi Lễ kỷ niệm và Gặp mặt Hội viên.

      Với niềm tin sâu sắc vào thành công, vào tình cảm đồng nghiệp, thay mặt Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai, tôi xin tuyên bố khai mạc Lễ Kỷ niệm 40 năm ngành thuỷ lợi Gia Lai và Gặp mặt toàn thể hội viên lần thứ 5 Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai;

      Kính chúc các đồng nghiệp và các vị khách quý sức khoẻ, hạnh phúc, thành công. Chúc Lễ kỷ niệm và Buổi gặp mặt hội ngộ thành công tốt đẹp./.

DIỄN VĂN BẾ MẠC LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM NGÀNH THỦY LỢI GIA LAI VÀ GẶP MẶT HỘI VIÊN HỘI ĐỒNG NGHIỆP THUỶ LỢI GIA LAI LẦN THỨ V

Kính Thưa Các vị khách quý,

Thưa toàn thể các đồng nghiệp

      Sau hơn một buổi làm việc sôi nổi, khẩn trương đầy tinh thần trách nhiệm. Lễ Kỷ niệm 40 năm thành lập ngành thuỷ lợi Gia Lai và Gặp mặt toàn thể hội viên lần thứ 5 Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Thực sự là một buổi Lễ Long trọng mang nặng dấu ấn chuyên ngành, một buổi hội ngộ nghề nghiệp hành động theo tinh thần “Tình cảm, Nghề nghiệp, Kế thừa, ổn định, dân chủ, đổi mới và phát triển”. Thành công của Buổi Lễ và Buổi gặp mặt hội ngộ là công sức đóng góp của hơn 400 hội viên mà nòng cốt và chủ lực là Công ty TNHH MTV khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai; Lễ Kỷ niệm và buổi gặp mặt được sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Liên Lạc các thế hệ làm công tác thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Thành công của Lễ Kỷ niệm, của gặp mặt lần thứ 5 toàn thể hội viên là thành công chung của ngành và các đồng nghiệp trong ngành của chúng ta – là ý chí, là nguyện vọng của tất cả các tổ chức, cá nhân đã và đang làm công tác thuỷ lợi trên đất Gia Lai.

      Chúng ta phấn khởi và vinh dự được đón tiếp đồng chí  ………………………………. .

& đồng chi…………………………………………………………………đã quan tâm dành thời gian đến dự và dành nhiều tình cảm cũng như sẻ chia kiến thức và kinh nghiệm chuyên ngành cho Lễ Kỷ niệm và buổi gặp mặt hội ngộ các Hội viên; Thay mặt Ban tổ chức tôi xin cảm ơn sự quan tâm to lớn của các đồng chí đồng nghiệp Lãnh đạo lão thành, các vị khách quý đã giành cho Buổi gặp mặt hội ngộ hội viên và Lễ Kỷ niệm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo lão thành-Thưa các Hội viên

      Trong thời gian diễn ra buổi lễ, các đồng nghiệp và quý vị đã được Ban liên lạc nhiệm kỳ 2010-2015 trao tặng huy hiệu kỷ niệm 40 năm ngành thuỷ lợi Gia Lai, nghe Tổng kết đánh giá và thành tích đạt được trong suốt 71 năm thuỷ lợi Việt Nam và 40 năm ngành thuỷ lợi Gia Lai; Đồng nghiệp đã nghe Thông tin tài chính quỹ hội nhiệm kỳ 2010-2015 tham gia vào báo cáo Tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2010-2015 của Ban Liên lạc. Buổi gặp mặt toàn thể hội viên lần thứ 5 đã Bầu Ban liên lạc nhiệm kỳ 2016-2021, và đã nhất trí thông qua Quy ước tổ chức và hoạt động hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai. Trên cơ sở đó các đại biểu đã biểu quyết nhất trí thông qua Quy ước tổ chức và hoạt động của Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai. Ban liên lạc nhiệm kỳ mới đã tiếp thu, tổng hợp đầy đủ tất cả các ý kiến về góp ý, bổ sung, sửa đổi vào Bản Quy ước tổ chức và hoạt động của Hội đồng nghiệp, chuyển lại cho thư ký hoàn chỉnh Quy ước và in ấn phát hành;

Kính thưa các vị khách quý

Kính thưa các đồng nghiệp,

      Đến giờ phút này, Lễ kỷ niệm và Gặp mặt hội viên đã thành công tốt đẹp. Thành công này có sự đóng góp to lớn của toàn thể đồng nghiệp đã, đang công tác trong ngành thuỷ lợi của chúng ta; Chúng ta cảm ơn những đóng góp to lớn của các đơn vị trong ngành, những nhà tài trợ vàng, bạc, đồng và đặc biệt là tất cả cán bộ, công nhân trong công ty TNHH MTV khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai.

      Với niềm vui của sự thành công, niềm tin tưởng vào sự đồng thuận và tình cảm của Hội đồng nghiệp, thay mặt Ban tổ chức tôi xin tuyên bố bế mạc Lễ Kỷ niệm 40 năm thuỷ lợi Gia Lai và Gặp mặt toàn thể hội viên lần thứ 5 Hội đồng nghiệp thuỷ lợi Gia Lai;

     Chúc các đồng chí lãnh đạo, các vị khách quý, các đồng nghiệp dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt ! 

Bản thu hoạch Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2015-2016

       ĐẢNG BỘ CÔNG TY                                ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TNHH MTV KTCT THỦY LỢI

BÀI THU HOẠCH

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2015-2016

Họ và tên :

Chức vụ – đơn vị công tác :

Sinh hoạt tại chi bộ : Văn phòng

Sau khi học tập chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chủ đề năm 2015: “Trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân, đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi xin trình bày những vấn đề thu hoạch được về nhận thức, tự liên hệ bản thân và phương hướng phấn đấu rèn luyện của bản thân như sau :

I.VỀ NHẬN THỨC :

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung thực, “nói thì phải làm”

– Trung thực là thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc; luôn tuân thủ từng lời nói và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất, tạo nên định hướng giá trị nhân cách chân chính. Tính trung thực giúp con người được tin cậy. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên tính tự trọng, thẳng thắn của cá nhân; tạo nên uy tín, sức mạnh cho tập thể. Sống trung thực đòi hỏi phải dũng cảm và nghiêm khắc với chính bản thân. Do đó, trung thực luôn gắn liền với trách nhiệm.

– Trung thực, trước hết là sự trung thực với chính mình, nghiêm túc với chính mình, trung thực với người khác, không được “nói mà không làm”, “hứa mà không làm”. Lời nói, lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm cụ thể. “Làm” ở đây là hành động từ việc nhỏ đến việc lớn, là hoạt động thực tiễn tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, Đảng viên” Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Cán bộ, Đảng viên “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh (…), phải thật thà nhúng tay vào việc”. Đối với Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành như thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đàng”. Đảng phải luôn tự đối mới, tự chỉnh đốn để hoàn thành trách nhiệm trước nhân dân. Khi mắc sai lầm, khuyết điểm thì dũng cảm nhận lỗi trước dân và kiên quyết dựa vào dân để sửa chữa khuyết điểm.

– Trung thực trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mang nội dung đạo đức cao quý của người Cộng Sản, những người đã công khai nói về sự tự nguyện hi sinh, cống hiến cả cuộc sống của mình cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong công việc, trung thực phải luôn gắn bó với trách nhiệm.

2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm

– Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trách nhiệm là việc phải làm, không thể thoái thác. Trách nhiệm là bổn phận của mỗi người, dù ở cương vị nào. Ý thực trách nhiệm của mỗi cá nhân là sự tự ý thức về các công việc phải làm, “Nhận rõ trái, phải, đúng sai”, tự mình xác định việc cần làm. Trên cơ sở có ý thức đúng đắn, tự giác, tích cực thực hiện trách nhiệm của mình là “ Có tinh thần trách nhiệm cao”.

– Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, biểu hiện cụ thể của trung thực và trách nhiệm là lời nói đi đôi với làm. Đó là nguyên tắc thực hành đạo đức, là phương châm hoạt động, là biểu hiện sinh động, cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động trong một con người. Trung thực, trách nhiệm là phải nói và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống chủ nghĩa cá nhân, không được vì lợi ích cá nhân mà nói sai, làm sai. Nắm vững mục tiêu lý tưởng của Đảng trong toàn bộ tiến trình cách mạng và được cụ thể hóa thanh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong từng giai đoạn để thực hiện cho đúng; để tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân làm theo cho đúng. Trung thực, trách nhiệm cũng có nghĩa là kiên quyết bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tích cực; dũng cảm đấu tranh với những cái sai, khuyết điểm, cái tiêu cực; nghiêm khắc tự phê bình, phê bình, thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của cá nhân và tổ chức mình, cầu thị, tích cực sửa chữa hạn chế, khuyết điểm.

2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân

– Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân bắt nguồn từ quan niệm của Người coi nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. ” Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”.

– Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân có nguồn gốc từ truyền thống dân tộc, từ những tình cảm tự nhiên, triết lý nhân sinh, phép ứng xử và tư duy chính trị của dân tộc Việt Nam, từ những quan niệm: “Trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Phát huy truyền thống dân tộc, năm 1955, Người viết: “…với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng – Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc đánh tan âm mưu Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

– Tư tưởng gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới. Người chỉ ra nguyên nhân không thành công của các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là do chưa tập hợp đông đủ quần chúng nhân dân tham gia. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ cách Mỹ và cách mạng Pháp là cuộc cách mạng “không đến nơi”, bởi kết quả cuối cùng là chính quyền rơi vào tay một thiểu số người và bảo vệ lợi ích của một nhóm ít người đó. Hồ Chí Minh nghiên cứu về cách mạng Nga và rút ra nhiều bài học về huy động, tập hợp lực lượng từ nhân dân, gắn bó với nhân dân và luôn bảo vệ lợi ích của đa số quần chúng nhân dân.

– Với cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định phải bắt đầu từ giác ngộ, tổ chức tập hợp quần chúng. Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, khơi dậy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là những nhân tố vô cùng quan trọng, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh giành lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

– Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Khi nói về công việc “Kháng chiến kiến quốc”, Người hỏi: “Ai thực hiện kháng chiến kiến quốc?” Và trả lời: “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”.

– Sự gắn bó với nhân dân trong những năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài và sau khi về nước không chỉ thể hiện quan điểm xuyên suốt gần dân, gắn bó với dân của Hồ Chí Minh, mà còn là một trong những nguyên nhân thành công trong cuộc đời cách mạng rất phong phú và nhiều gian nan của Người. Hai lần bị địch bắt và bị giam trong tù, Người chia sẻ những nỗi đau của bạn tù, của người nhà họ, của người dân những nơi Người bị áp giải đi qua. Tập thơ Nhật ký trong tù đã thể hiện rất sâu sắc điều đó. Trong những năm đầu đấu tranh giành chính quyền, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hi sinh, gian khổ, Người sống cùng dân, được nhân dân hết lòng hết sức giúp đỡ, chở che, nhân dân luôn ở bên Người, là nguồn lực, niềm tin vào lý tưởng vào cách mạng.

– Khi trở thành lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Người vẫn sống cuộc sống bình thường, ở trong ngôi nhà dành cho những người lao động. Dù bận giải quyết nhiều công việc hệ trọng, Người vẫn quan tâm sâu sắc trong cuộc sống hằng ngày của các tầng lớp nhân dân, phát hiện và thưởng hơn 5.000 huy hiệu Hồ Chí Minh cho những người tốt, việc tốt. Trong 10 năm (1959 – 1969), ở độ tuổi 70, Người đã có trên 700 lần đi xuống cơ sở thăm và tìm hiểu cuộc sống của nhân dân.

– Sự quan tâm đến con người, đến mọi tầng lớp nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tập trung trong bản Di chúc, lời căn dặn và tâm nguyện cuối cùng của Người. Trong những lời căn dặn, Người yêu cầu Đảng, Nhà nước quan tâm thường xuyên đến mọi tần lớp nhân dân, không quên một ai, kể cả những người “lầm đường, lạc lối” hay những người là “hậu quả của chế độ cũ để lại”. Người dặn Đảng, Nhà nước phải dựa vào dân để xây dựng đất nước, xây dựng xã hội mới, bởi đây là “cuộc chiến khổng lồ”, chỉ có thể thực hiện được khi dựa vào dân.

– Tấm gương suốt đời gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một tư tưởng lớn, một nhân cách lớn của một anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới, một nhà văn hóa kiệt xuất.

3.Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

– Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh có tới 400 bài nói và viết về đoàn kết. Tư tưởng đoàn kết nổi bật của Người là: “Đoàn kết làm ra sức mạnh”; “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”; “Đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là then chốt của thành công”. Đoàn kết là điểm mẹ. “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

– Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng; phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong mọi giai đoạn cách mạng.

– Đoàn kết toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Người nhấn mạnh, phải “thật thà đoàn kết”. Với phương châm “cầu đồng tồn dị”, Người nêu rõ: “Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, tầng lớp nhân dân” (…).

– Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ.

– Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc (…).

– Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hào thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc.

– “Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau, phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”.

– Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, có trách nhiệm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.

Nội dung đoàn kết xây dựng Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh tập trung ở các điểm sau:

+ Vấn đề đoàn kết có tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước hết là do sự đoàn kết trong Đảng đem lại, bởi nhờ đoàn kết trong Đảng mà dẫn tới đoàn kết toàn dân. Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ” mà “Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

+ Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc ta. Khi đã trở thành truyền thống thì mọi thế hệ cách mạng đều phải có trách nhiệm duy trì và bảo vệ. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

+ Để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là dân chủ và phê bình, tự phê bình. Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”. Theo Người, đó là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng.

+ Để có sự đoàn kết thực sự, không chỉ cần thực hiện nguyên tắc, bản lĩnh, lý trí mà cần tình thương yêu, sự đồng cảm và chia sẻ với nhau. Năm 1966, Người bổ sung vào bản Di chúc cụm từ: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

+ Trong điều kiện đảng cầm quyền Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh yếu tố đạo đức trong Đảng, chống lại can bệnh “quan liêu”, tham nhũng, lãng phí”, “xa dân”. Theo Người, đảng cầm quyền có nhiệm vụ to lớn là lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới, tiến hành một “cuộc chiến đấu khổng lồ”, xóa đi những gì đã cũ kỹ hư hỏng, xây dựng những cái mới mẻ, tốt tươi. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn với bốn chữ “thật”: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm kiêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

II.VỀ LIÊN HỆ BẢN THÂN :

Là một đảng viên bản thân tôi phải thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như sau :

1 Ưu điểm

* Về ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thường xuyên

Trong công tác, trong cuộc sống hàng ngày cũng như tại nơi cư trú tôi luôn luôn có ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng trong sáng, chân chính; luôn làm gương cho gia đình , quần chúng nhân dân noi theo.

* Về ý thức trách nhiệm, tâm huyết với công việc

Luôn tận tâm và trách nhiệm nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, chấp hành tuyệt đối sự phân công của tổ chức; luôn tự giác học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lí luận chính trị để đáp ứng tốt nhất yêu cầu nhiệm vụ được giao nhất là trong thời hội nhập, WTO…

* Về chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, thực hiện theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

Về chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng, tôi đã và đang tránh được các bệnh nguy hiểm như: lười biếng, ngại gian khổ, khó khăn, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tích kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại lợi ích của cách mạng, của nhân dân, chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, lãng phí, tham ô, trục lợi, thích địa vị, quyền hành…

Về tính trách nhiệm tôi luôn làm việc siêng năng, sáng tạo, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm, tiết kiệm thì giờ và tiền của dân, , luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công, không tham địa vị, tiền tài, sung sướng, không ham người tâng bốc mình, thích quang minh chính đại, thẳng thắn, không tự cao tự đại, luôn học tập cầu tiến bộ, không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới; khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá lừa lọc…

* Giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống người đảng viên, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, với đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân nơi cư trú

Về bệnh quan liêu, tôi đã tránh được các bệnh như: nói nhiều hơn làm, kém kiến thức và năng lực đối với công việc được giao, chỉ quan tâm đến lợi ích riêng, tạo ra và tìm ra cách hưởng quyền lợi…

Về tham nhũng, tôi không ăn cắp của công làm của tư, không đục khoét của dân, chi tiêu ít mà khai nhiều, tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể.

* Ý thức tổ chức, kỷ luật, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tấm gương Hồ Chí Minh

Bản thân đã thực hiện tốt tự phê bình và phê bình ở chi bộ một cách thẳng thắn, trung thực với tư cách là đảng viên có tinh thần tự phê bình và phê bình cao, luôn ý thức xây dựng được một tập thể vững mạnh có sự thẳng thắn trong phê bình – tự phê bình, từng cá nhân đều sống và làm việc theo pháp luật.

* Gương mẫu và giáo dục các thành viên trong gia đình giữ gìn đạo đức, lối sống, xây dựng gia đình văn hoá

Đối với gia đình, tôi luôn tâm niệm là một người luôn có đạo đức chân chính, luôn phấn đấu là một tấm gương tốt để hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ cho con cái học tập, luôn nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, từ đạo đức trong công việc tới đạo đức hàng ngày…

2. Nhược điểm

Đấu tranh phê bình chưa khôn khéo nên hiệu quả không cao; chưa mạnh dạn và kiên quyết trong công tác đấu tranh chống tham nhũng lãng phí, quan hệ quần chúng chưa thường xuyên, ……

3. Phương hướng phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của bản thân theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

+ Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức – Phải luôn phấn đấu cho lời nói phải đi đôi với việc làm, tránh nói nhiều làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo, phải phấn đấu góp phần nhỏ của mình để làm sao cho xã hội ta không còn những kẻ đạo đức giả, và càng không cho phép những kẻ đạo đức giả đi dạy dỗ người khác về đạo đức. Về việc nêu gương, phải tự đặt ra cho mình một nguyên tắc rất cơ bản là phải nêu gương về đạo đức như tôi đã thấy ở Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương đạo đức trong sáng tuyệt vời.

+ Xây đi đôi với chống. Muốn xây dựng đạo đức cùng với việc rèn luyện, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện sai trái xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới. Do đó bản thân tôi phải kiên quyết tránh xa các tệ nạn, những tiêu cực, những sự thái hóa biến chất, v.v…đang diễn ra hàng ngày trong một bộ phận cán bộ đảng viên công chức hiện nay.

Là một cán bộ, Đảng viên, tôi nghĩ rằng rèn luyện theo tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cô đọng bằng các tiêu chí sau đây:

– Yêu nước, đoàn kết

– Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư

-Tích cực hội nhập và hội nhập với kết quả thiết thực.

– Đấu tranh với chính mình.

– Học phải đi đôi với hành.

– Cần học tập thường xuyên, lâu dài.

– Dũng cảm tự phê bình và biết phê bình.

– Luôn phải tự soi lại chính mình.

– Dân chủ và kỷ luật, phục vụ hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng giáo dục mà trước tiên là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình rthuyr lợi Gia Lai đã đề ra .

Học tập gương đạo đức của Người trước hết cần đấu tranh với chính mình trước những cám dỗ của cuộc sống thường nhật, của những ham muốn bẩm sinh của con người. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng chủ nghĩa cá nhân là rất khó khăn, nhưng nếu thấm nhuần đạo đức của Bác Hồ thì chúng ta sẽ dần dần khắc phục và chiến thắng. Cùng với tập thể, với đồng chí, đồng nghiệp, với quần chúng, thông qua sinh hoạt, học tập, phê bình và tự phê bình, chúng ta phải thẳng thắn chân tình, trên tinh thần xây dựng tập thể, không vì lợi ích riêng của bản thân mình mà ảnh hưởng tới toàn bộ tập thể. Thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mỗi chúng ta phải có một chương trình hành động cụ thể, gắn học những lời Bác dạy, với sửa chữa, tu dưỡng phẩm chất, hành động hằng ngày. Mỗi cán bộ, đảng viên, người giữ những chức vụ quan trọng càng cần phải thực hiện nghiêm túc hơn, chuyển biến rõ rệt hơn và thực sự là tấm gương sáng cho quần chúng noi theo./.

Gia Lai, ngày 7 tháng 12 năm 2015

Người viết thu hoạch

GIẢI TRÍ THỨC VÌ SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH GIA LAI

———————

TRÍCH YẾU LÝ LỊCH VÀ THÀNH TÍCH  

CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐỀ CỬ THAM GIA XÉT GIẢI

 TRÍ THỨC VÌ SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN

VIỆT NAM – NĂM 2014

 

I/ NHÂN THÂN

–    Họ và tên: Trương Vân            Giới tính: Nam

–    Năm sinh: 28/02/1959

–   Trình độ văn hoá: 12/12.

–    Địa  chỉ thường trú: 143 Lê Duẩn-Thành phố Pleiku-Gia Lai

–    Nơi công tác: Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai

–    Chức vụ: Chủ tịch kiêm giám đốc công ty

–    Tham gia hoạt động xã hội/Đảng viên/ Đoàn viên: Đảng viên

–    Địa chỉ liên lạc: 97A Phạm Văn Đồng-tpPleiku, tỉnh Gia Lai

–    Điện thoại: 059.3824227                                            

–    Email: vanthuynong@gmail.com      

* Nhận xét chung về nhân thân (những nét chính về bản lĩnh; sự ham muốn sáng tạo; sự dũng cảm chấp nhận thử thách;..):

                Trong 10 năm (2005-2014) tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp về kinh tế, chính trị, xã hội, thời tiết, biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai (hạn hán, lũ lụt, ngập úng) và sự lạm phát, tăng giá của một số vật tư, nhiên liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu đã ảnh hưởng trực tiếp và không ít đến sự phát triển kinh tế của đất nước, tỉnh nhà, doanh nghiệp và người lao động trong công ty. Là chủ doanh nghiệp trong các năm qua Tôi đã cùng tập thể Ban giám đốc công ty đề ra các kế hoạch, biện pháp công tác, đồng thời tổ chức triển khai thực hiện có kết quả các mặt hoạt động của công ty, mặt khác với cương vị là Bí thư Đảng bộ công ty tôi đã chỉ đạo các tổ chức chính trị trong công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Gia lai phát động đều khắp các phong trào thi đua trên cơ sở phát huy tinh thần đoàn kết, nhất trí, đồng tâm, hiệp lực, tiết kiệm, cải tiến, sáng kiến, sáng tạo và nỗ lực phấn đấu không ngừng để thực hiện tốt các chỉ tiêu được Nhà nước giao cho công ty trong suốt 5 năm qua. Đồng thời có nhiều biện pháp mới tích cực, hữu hiệu về tổ chức nhân sự, tài chính  trong việc vận hành công trình phục vụ tuới cho cây lúa nước, cây màu, cây cà phê của đồng bào dân tộc địa phương ở các huyện Ayun pa, Ia pa, Chư sê, Chư prông, Chư Păh, Ia Grai, Mang yang, thực hiện giải pháp khai thác đa mục tiêu các nguồn lợi tiềm ẩn từ các công trình thuỷ lợi hồ chứa công ty quản lý và đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, ổn định cuộc sống qua đó góp phần ổn định chính trị cho cộng đồng các dân tộc địa phương (JaRai, BaNa) và các dân tộc phía Bắc (Mường, tày, Nùng, Thái,…) sinh sống trong vùng hưởng lợi từ nguồn nước của công trình thuỷ lợi công ty quản lý trên địa bàn 11 huyện, thị, thành phố của tỉnh Gia Lai.

      Trong 5 năm liên tục gần đây (20010-2014) bản thân Tôi luôn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để đạt mục đích cuối cùng, trong quản lý, điều hành để có các sáng kiến và cải tiến được công nhận và áp dụng trong chủ trương sắp xếp, đổi mới, phát triển và không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thủy nông; Tôi luôn giữ được uy tín và có ảnh hưởng tích cực trong Doanh nghiệp. Điều hành thực hiện tốt các chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước đối với người lao động và có tinh thần trách nhiệm cao đối với công tác xã hội từ thiện, công tác vì sự phát triển của cộng đồng thông qua các cuộc vận động do UBMTTQ tổ chức hàng năm, các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai tổ chức hai năm một lần.

        Trong công tác Đảng cũng như công tác chuyên môn, trước đây cũng như hiện nay tôi luôn khắc phục khó khăn, thi đua hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, luôn gương mẫu chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước được cơ quan, đồng chí, đồng nghiệp tin yêu, tín nhiệm và tin cậy. Với cương vị chủ doanh nghiệp tôi luôn quan tâm đến các chính sách kinh tế-xã hội đối với người lao động, cụ thể từ nhiều năm nay tôi đã chỉ đạo công ty đóng đủ và mua đủ BHXH, BHYT, BHTN, BH tai nạn con người, BH các loại khác,…thực hiện chế độ bảo hộ lao động và an toàn vệ sinh lao động, hàng năm không để xảy ra tai nạn lao động, đóng góp thường xuyên vào các quĩ đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào bị bão lụt, nạn nhân chất độc màu da cam và quĩ từ thiện xã hội khác mỗi năm hàng chục triệu đồng từ quĩ phúc lợi của công ty và tự nguyện đóng góp của tập thể CBCNV.

II/ THÀNH TÍCH

1-Ghi nhận thành tích:

-Trong thời gian qua Công ty do tôi làm giám đốc và cá nhân tôi đã có đóng góp cho ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai 5 giải pháp/đề tài, công trình KHCN, phương pháp quản lý, quản trị, .. (sau đây gọi chung là Sản phẩm) có giá trị lớn, xuất sắc và được Liên hiệp các Hội khoa học-kỹ thuật tỉnh, UBND tỉnh Gia Lai ghi nhận; tuyên dương/khen thưởng;

-Những thành tích, khen thưởng đã đạt được:

*Tập thể Công ty

1/ Danh hiệu thi đua:

Năm Danh hiệu thi đua Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ quan ban hành quyết định

2009

Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh Gia Lai Quyết định số 577/QĐ-UBND ngày 15/4/

2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2010

Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh Gia Lai Quyết định số 460/QĐ-UBND ngày 09/4/

2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2010

Cờ thi đua Tổng liên đoàn lao động Việt Nam Quyết định số 299/QĐ-TLĐ, ngày 03/3/ 2011 của Đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

2011

Cờ thi đua Tỉnh uỷ Gia Lai tặng thưởng Đảng Bộ công ty TNHH Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh” tiêu biểu 5 năm liền (từ năm 2007-2011) Quyết định số 502-QĐ-TU, ngày 06/4/ 2012 của Tỉnh uỷ Gia Lai

2012

Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh Gia Lai; Quyết định số 202/QĐ-UBND ngày 01/3/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2013

Công ty được Khối thi đua Công nghiệp-Xây dựng suy tôn “đơn vị xuất sắc” đề nghị UBND tỉnh Gia Lai tặng thưởng Cờ thi đua xuất sắc năm 2013-Quyết định số 217/QĐ-UBND ngày 18/3/2014

 

2/ Hình thức khen thưởng:

Năm

Hình thức khen thưởng Số, ngày, tháng, năm của quyết định khen thưởng; cơ quan ban hành quyết định

2007

Huân chương lao động hạng nhì (2003-2007) Quyết định số 915QĐ/CTN, ngày 19/6/ 2009

2008

Bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai Quyết định số 25/QĐ-CT ngày 09/01/2009

của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2008

Chứng nhận thương hiệu “Thuỷ lợi Gia Lai” nằm trong top 500 thương hiệu hàng đầu Việt Nam Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

2009

Bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai Cho tập thể nhóm tác giả Công ty dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ 4 (2008-2009) Quyết định số 1391/QĐ-UBND ngày 09/10/

2009 của phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Trưởng ban tổ chức Hội thi

2009

Giai nhì Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh lần thứ 4 (2008-2009) Quyết định số 279/QĐ-UBND ngày 12/9/

2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2009

“Doanh nghiệp văn hoá UNESCO Việt nam” UNESSCO Việt Nam

2010

Bằng khen của  Bộ Nông nghiệp và PTNT Quyết định số 191/QĐ-BNN-TCCB ngày 22/01/2010 của  Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT

2010

Bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai Quyết định số 483/QĐ-UBND ngày 18/4/

2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2011

Bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai Quyết định số 256/QĐ-UBND ngày 13/3/

2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2011

Bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai Cho tập thể nhóm tác giả Công ty dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ thứ 5 (2010-2011)  Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 21/11/

2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2012

Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Quyết định số 603/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ

2013

Bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai Cho tập thể nhóm tác giả Công ty dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ thứ 6 (2012-2013)  Quyết định số 893/QĐ-UBND ngày 30/9/

2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2013

Giấy khen của Đảng bộ khối Doanh nghiệp tỉnh Gia Lai cho đảng bộ công ty, về thành tích trong sạch, vững mạnh tiêu biểu năm 2013 Quyết định số 1340-QĐ/ĐUK ngày 14/01/

2014

2014

Huân chương lao động hạng nhất (2009-2013) Quyết định số 1233-QĐ/CTN ngày 09/6/2014 của Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

* Cá nhân Giám đốc công ty

 1/ Danh hiệu thi đua

Năm Danh hiệu thi đua Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ quan ban hành quyết định
2009 Chiến sỹ thi đua cấp CS Quyết định số 195/2009/QĐ-CT, ngày 23/12/2009 của Giám đốc công ty khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai
2010 Chiến sỹ thi đua cấp CS Quyết định số 10/QĐ-KTCTTL, ngày 10/01/ 2011 của Giám đốc công ty TNHH khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai
2011 Chiến sỹ thi đua cấp CS Quyết định số 182/QĐ-KTCTTL, ngày 26/12/ 2011 của Giám đốc công ty TNHH khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai
2012 Chiến sỹ thi đua cấp CS Quyết định số 04/QĐ-KTTL, ngày 03/01/2013 của Giám đốc công ty TNHH khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai
2013 Chiến sỹ thi đua cấp CS Quyết định số 15/QĐ-KTTL, ngày 09/01/2014 của Giám đốc công ty TNHH khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai
2007 Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh (2005-2007) Quyết định số 151/QĐ-UBND ngày 07/04/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai
2004 Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh (2002-2004) Quyết định số 144/QĐ-CT ngày 28/01/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai
2003 Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh năm 2003 Quyết định số 432/QĐ-CT ngày 02/4/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai
2010 Chiến sỹ thi đua toàn quốc Quyết định số 1410/QĐ-TTg ngày 09/8/2010 của  Thủ tướng Chính phủ

2/ Hình thức khen thưởng

Năm

Hình thức khen thưởng

Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ quan ban hành quyết định

2003

Bằng khen của UBND tỉnh Quyết định số 432/QĐ-CT ngày 02/04/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2003

Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quyết định số 238/QĐ-BNN-VP ngày 18/7/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2004

Bằng khen Thủ tướng Chính phủ (2002-2004) Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 14/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ

2004

Bằng khen của Công đoàn Nông nghiệp và PTNT Việt Nam Quyết định khen thưởng số 16/QĐ-CĐNN ngày 20/5/2005 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

2006

Bằng khen của UBND tỉnh Quyết định số 1515/QĐ-CT ngày 09/10/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2007

Bằng khen của UBND tỉnh Quyết định số 1723/QĐ-CT ngày 10/10/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2007

Bằng khen của UBND tỉnh Về đạt giải trong hội thi sáng tạo kỹ thuật lần thứ 3 Quyết định số 1887/QĐ-CT ngày 12/11/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2007

Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Quyết định khen thưởng số 57/QĐ-TLĐ ngày 07/01/2008 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

2008

Huân chương lao động hạng ba (2004-2008) Quyết định số 915-QĐ/CTN ngày 19/6 /2009 của Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2009

Bằng khen của UBND tỉnh Quyết định số 1391/QĐ-CT ngày 12/9 /2009 của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2009

 Giai nhì Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ 4 (2008-2009) Quyết định số 279/QĐ-BTCHT ngày 09/10/2009 của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai-Trưởng ban tổ chức Hội thi

2009

Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Quyết định khen thưởng số 1654/QĐ-TLĐ ngày 16/12/2009 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

2010

Bằng khen của UBND tỉnh (2006-2010) Quyết định số 819/QĐ-UBND ngày 01/6/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

2010

Bằng khen Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Quyết định khen thưởng số 283/QĐ-TLĐ ngày 02/3/2011 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

2010

Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Quyết định số 191/QĐ-BNN-TCCB ngày 22/01

/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT

2010

Bằng chứng nhận “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu” Quyêt định số 3023/PTM-TĐKT ngày 01/10/2010 của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

2011

Bằng khen Thủ tướng Chính phủ Quyết định số 603/QĐ-TTg ngày 25/5/ 2012 của Thủ tướng Chính phủ

2011

Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Quyết định số 533/QĐ-TLĐ ngày 17/4/ 2012 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

2011

Bằng khen của UBND tỉnh về thành tích Dự hội thi sáng tạo kỹ thuật Quyết định số 1461/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 của UBND tỉnh Gia Lai

2011

Giải nhì Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ 5 (2010-2011) Quyết định số 1461/QĐ-UBND ngày 21/11/2011 của UBND tỉnh Gia Lai

2011

Kỷ niệm chương  “Bảo vệ anh ninh tổ quốc” Quyết định số 09-Số GCN: 22 ngày 18/7/2011 của  Bộ Công an.

2012

Kỷ niệm chương 

“Vì thế  hệ trẻ”

Quyết định số 71/QĐ-TWĐTN ngày 27/02/2012 của BCH Trung ương Đoàn thanh niên cộn sản Hồ Chí Minh

2012

Kỷ niệm chương  “Vì sự nghiệp kiểm tra của Đảng” Quyết định số 891/QĐ-UBKTTW ngày 16/10 /2012 của UBKT Trung ương đảng cộng sản Việt Nam

2013

Cúp Asean 100 nhà quản lý tài đức năm 2013 Quyết định số 31/QĐ-BTC 22/02/2014 của Ban tổ chức bình chọn và trao tặng;

2002

Huy chương vì sự nghiệp Nông nghiệp và PTNT Quyết định số 5813 QĐ/BNN-VP ngày 20/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT

2014

Huân chương lao động hạng nhì (2009-2013) Quyết định số 1233-QĐ/CTN ngày 09/6/2014 của Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

3-Những sáng kiến, cải tiến, sáng tạo kỹ thuật, nghiên cứu có ích, giải pháp kỹ thuật (gọi chung là sản phẩm) phục vụ cho sự phát triển của công ty, tỉnh Gia lai và Cộng đồng.

          3.1-Sản phẩm thứ nhất (Năm 2007) Tôi chủ trì cùng các cộng sự trong công ty xây dựng Giải pháp dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia lai lần thứ III năm 2007 “Tổ chức khai thác các tiềm năng đa mục tiêu từ hồ chứa thủy lợi Ayunhạ đạt hiệu quả kinh tế cao”. Đạt giải III-Giá trị làm lợi của giải pháp/năm:

+ Lợi nhuận trong công tác quản lý khai thác công trình:  501.420 triệu đồng

+ Tiết kiệm chi phí sửa chữa 304,163 triệu đồng

+ Tiết kiệm chi phí bảo vệ: 400 triệu đồng

Tổng giá trị làm lợi = 1.205,563 triệu đồng/năm

Được UBND tỉnh tặng bằng khen về thành tích lao động sáng tạo cho nhóm tác giả của công ty. Tổng Liên Đoàn lao động Việt Nam tặng bằng lao động sáng tạo

*Đánh giá về sản phẩm:

-Sản phẩm thuộc lĩnh vực: Nông nghiệp

+Hiệu quả đóng góp của Sản phẩm: Mô tả sáng kiến, đề tài khoa học, giải pháp:

1. Mô tả ngắn gọn những ưu khuyết điểm của tình trạng kỹ thuật hoặc tổ chức sản xuất được áp dụng tại đơn vị. Đặc biệt cần chỉ rõ những những nhược điểm cần khắc phục.

     Từ sau ngày giải phóng 30/4/1975 và nhiều năm trong thập niên cuối của thế kỷ 20 đã qua ở tỉnh Gia lai nói riêng và toàn quốc nói chung Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình hồ chứa thuỷ lợi vừa và lớn với nguồn kinh phí từ ngân sách không nhỏ, nhưng sự quan tâm đến quản lý khai thác vẫn chưa đủ tầm so với việc đầu tư của Nhà nước, quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hồ chứa chưa tập trung, không đồng bộ, không khai thác hết tiềm năng, còn nặng bao cấp từ Nhà nước và đã hạn chế phần nào hiệu quả của các công trình. Hầu hết các công ty Khai thác công trình thuỷ lợi trong toàn quốc trong đó có cả tỉnh Gia lai đều tổ chức bộ máy quản lý sản xuất thuỷ nông (trong đó có bộ máy quản lý, vận hành, khai thác, điều tiết hồ chứa tuân thủ theo Nghị định 31/2004/NĐ-CP Về cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích

 Một là: Công trình thuỷ lợi hồ chứa trước khi có giải pháp chỉ tập trung phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Diện tích phục vụ tưới thực tế mới khai thác được khoảng 60% năng lực thiết kế. Việc khai thác thuỷ điện, thuỷ sản, du lịch sinh thái, cấp nước công nghiệp, trồng rừng đặc dụng, chăn nuôi gia súc,… chưa được quan tâm đúng mức hoặc có quan tâm khai thác nhưng không đồng bộ, chưa tập trung và không thuộc quản lý của các công ty khai thác công trình thuỷ lợi. UBND các tỉnh thường giao cho các ngành, tổ chức, doanh nghiệp và địa phương cấp huyện quản lý và đầu tư khai thác, dẫn đến trong cùng một công trình thuỷ lợi có rất nhiều đơn vị tham gia khai thác nguồn lợi, công ty khai thác công trình thuỷ lợi chỉ quản lý khai thác đập, cống, tràn xả lũ và vận hành, điều tiết hồ. Vì vậy công tác bảo vệ lòng hồ, môi trường sinh thái và giữ gìn an ninh trật tự khu vực đầu mối công trình gặp rất nhiều khó khăn và hầu như ít được quan tâm. Công tác phối hợp bảo vệ không được các đơn vị thực hiện. Diện tích phục vụ tưới của công trình hồ chứa đưa vào ký kết hợp đồng dùng nước không công ty nào vượt được qua ngưỡng 70% diện tích thực tưới.

Hai là: Thuỷ lợi phí hàng năm thu được không vượt qua 65% số phải thu theo thanh lý hợp đồng dùng nước, nhà nước thường xuyên phải cấp bù cho duy tu sửa chữa công trình và hoạt động của công ty. Công tác đầu tư đổi mới, hiện đại hoá công nghệ vận hành nhiều năm công ty không chủ động thực hiện được do thiếu kinh phí.

Ba là: Kinh phí sửa chữa công trình từ nguồn thuỷ lợi phí hạn hẹp không đáp ứng nhu cầu cần sửa chữa, nhu cầu bảo vệ công trình và lòng hồ cũng bị thiếu nhân lực và kinh phí dẫn đến công trình xuống cấp có nguy cơ sự cố, không đảm bảo an toàn và bền vững lâu dài như trong Luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình đã đề cập.

 Bốn là: Tiền lương và thu nhập của người lao động không đáp ứng tương xứng với việc họ phải thường xuyên thường trực bảo dưỡng, bảo vệ công trình và thu thuỷ lợi phí. Mới chỉ đủ trả công cho công tác quản lý, vận hành, điều tiết.

Năm là: Hộ dùng nước, chính quyền địa phương, các đơn vị tham gia khai thác tổng hợp nguồn lợi từ công trình vẫn quan niệm công trình thủy lợi là của nhà nước, nhà nước phải bảo vệ, hư hỏng phải sửa chữa, họ chỉ là người đương nhiên được hưởng lợi, họ ít có sự tham gia bảo vệ và sửa chữa công trình cùng với doanh nghiệp thuỷ nông

2. Mô tả giải pháp (sản phẩm):

– Thuyết minh tính mới của giải pháp:

Mô tả ngắn gọn đầy đủ và rõ ràng nội dung, bản chất của giải pháp. Đặc biệt cần nêu rõ những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm tình trạng kỹ thuật hoặc tổ chức sản xuất hiện tại.

+Công ty là chủ thể quản lý toàn diện hồ chứa và được giao đất chỉ giới bảo vệ công trình và lòng hồ.

+Khai thác thuỷ sản phải đấu thầu công khai, ký hợp đồng từ 15 năm trở lên và phải ký với doanh nghiệp tư nhân hành nghề thuỷ sản, không ký hợp đồng với các cá nhân, tổ chức kinh tế khác và nghiêm cấm khai thác theo kiểu cộng đồng như các hồ chứa thuỷ lợi khác trong toàn quốc đã làm (Khai thác cộng đồng toàn quốc đạt 35kg/ha, khai thác doanh nghiệp tư nhân hồ Ayunhạ đạt 70kg/ha) đồng thời phải giao trách nhiệm bảo vệ lòng hồ, môi trường sinh thái, rừng đầu nguồn và vùng bán ngập cho doanh nghiệp khai thác thuỷ sản đảm nhận vì nếu công ty làm chức năng này thì phải chịu chi phí quá lớn.

+Mọi sự khai thác khác các nguồn lợi từ hồ chứa đều do công ty trực tiếp thực hiện hoặc phải được ký kết hợp đồng kinh tế trực tiếp với công ty có như vậy công tác quản lý hồ mới tập trung, thống nhất, không bị chồng chéo và hết thảy các thành viên tham gia khai thác đều có trách nhiệm bảo vệ công trình (ký được hợp đồng và ban hành được qui chế bảo vệ phối hợp, thoả thuận thứ tự ưu tiên dùng nước cho từng đối tượng theo qui định của pháp luật “Sinh hoạt-nông nghiệp-thuỷ điện-công nghiệp-Thuỷ sản-du lịch”, thông qua và ký kết qui chế hoạt động phối hợp của các đơn vị tham gia khai thác với công ty để trong hoạt động không bên nào gây ảnh hưởng cho bên nào và đều tuân thủ qui trình vận hành, điều tiết hồ chứa của Công ty)

+Mô hình tổ chức bộ máy quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh ở công trình hồ chứa gọn nhẹ, chuyên tinh, có đủ khả năng hoạt động kiêm nhiệm, công tác vận hành phải đặt dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Sở Nông ghiệp, Bộ Nông nghiệp, công tác bảo vệ an toàn hồ chứa và an ninh trật tự phải được sự tham gia và chỉ đạo trực tiếp của Công an, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, huyện và chính quyền địa phương sở tại.

 – Khả năng áp dụng, nhân rộng, chuyển giao:

Giải pháp đã được áp dụng rộng rãi hoặc chứng minh có khả năng áp dụng trong điều kiện kinh tế kỹ thuật tại đơn vị.

Giải pháp này đã được thực thi từng bước và áp dụng tại hồ chứa thuỷ lợi Ayunhạ nhiều năm từ 2007 cho tới hôm nay và đã thu được hiệu quả kinh tế – xã hội cao, được nhiều đơn vị khai thác công trình thuỷ lợi khu vực Tây nguyên, miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung, các tỉnh phía Bắc đến tham quan và học hỏi kinh nghiệm, đối với tỉnh Gia lai có thể áp dụng giải pháp này cho 99 công trình hồ chứa hiện nằm rải rác trên địa bàn toàn tỉnh trong tổng số 320 công trình thuỷ lợi hiện có của tỉnh nhà, giải pháp sẽ tối ưu hơn nữa nếu Nhà nước giao cho Công ty khai thác thuỷ điện thay vì hiện nay đang giao cho ngành điện đảm nhận, có thể áp dụng giải pháp này cho các chủ thể các công ty Khai thác công trình thuỷ lợi khác ở các tỉnh Tây nguyên và các tỉnh miền núi trung du trên địa bàn toàn quốc.

-Lợi ích kinh tế, xã hội:

Hiệu quả kinh tế

Giải pháp này đem lại hiệu quả kinh tế hơn hẳn các giải pháp khai thác tiềm năng hồ chứa thuỷ lợi trước đây của các công ty khai thác công trình thuỷ lợi trong toàn quốc và đặc biệt hơn hẳn giải pháp khai thác hồ Ayunhạ công ty áp dụng từ năm 1996-2000 theo mô hình tổ chức công ty thuỷ nông qui định tại thông tư 06/BNN&PTNT đồng thời giải pháp này phù hợp với lộ trình sắp xếp, đổi mới và không ngừng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trong giai đoạn mới, tạo đà hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế và tiến tới thực hiện xã hội hóa công tác thủy nông. Hiệu quả cụ thể:

 -Diện tích tưới thanh lý hợp đồng dùng nước tăng bq năm so với giải pháp cũ: 5.556ha

 -Cấp nước nông nghiệp-Thủy lợi phí các trạm hệ thống thu tăng so với giải pháp cũ: 1.421 triệu đồng/năm

 -Tiền nước thu từ cung cấp nước phi nông nghiệp tăng so với giải pháp cũ:776,533 triệu đông/năm

Chi tiết:

+Cho thuê hồ NTTS: 73 triệu đồng tăng 23 triệu đồng so với giải pháp cũ

+Tiền nước thu từ Du lịch 10%DT: tăng 5,65 triệu đồng so với giải pháp cũ

+Cấp nước Thuỷ điện: 776,5 triệu đồng tăng 100% so với giải pháp cũ

+Cấp nước công nghiệp Mía đường tăng bq năm so với cũ :  52 triệu đồng   

+Cấp nước sinh hoạt nhà máy nước IaRbol Ayun pa: tăng 30 triệu đồng năm 2006 và sẽ tăng 100 triệu đồng từ năm 2007 trở về sau.

+Doanh thu du lịch đạt 130 triệu/năm và tăng dần theo tiến độ đầu tu khai thác. 

  -Sửa chữa thường xuyên công trình hồ chứa tiết kiệm được so với giải pháp cũ: 304,143 triệu đồng so với kế hoạch và 5.039,400 triệu/năm so với qui định của Nhà nước.  

  -Chi phí phòng chống lụt bão, bảo vệ và cứu hộ công trình giảm: 400 triệu đồng 

  -Thu nhập của người lao động so với Giải pháp cũ: Tăng 695.000 đ/người/tháng

  –Giá trị làm lợi của giải pháp: Lợi nhuận QLKT 501.420 triệu + tiết kiệm chi phí sửa chữa 304,163 triệu + Tiết kiệm chi phí bảo vệ: 400 triệu = 1.205,563triệu đồng/năm

Hiệu quả khai thác đa mục tiêu năm 2014 Công trình Ayun Hạ:

Doanh thu khai thác tổng hợp Ayun Hạ 2014

4.814.036.999

*Trong đó:  
+Cấp nước thuỷ điện Ayunhạ

2.230.960.951

+Cấp nước Cao su Hoàng Anh

66.297.000

+Cấp nước nhà máy đường Ayun Pa

689.884.020

+Cấp nước nhà máy nước Ayun Pa

742.911.750

+Cấp nước thủy điện Kênh BắcAyun Hạ

658.392.436

+Thủy sản (AyunHạ)

160.505.402

+Du lịch (Ayun Hạ)

164.715.000

      Hiệu quả xã hội

Giải pháp mang lại hiệu quả xã hội to lớn cho tỉnh nhà, đảm bảo được an ninh lương thực và thực phẩm cá tươi sống cho tỉnh và cung cấp cho các tỉnh lân cận, tạo thêm công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động sinh sống trong khu tưới của công trình và hàng trăm lao động tham gia khai thác tổng hợp nguồn lợi từ công trình, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc địa phương cư trú trên địa bàn 6 xã ven hồ, tạo tiền đề xã hội hoá công tác thuỷ nông đối với các hộ dùng nước, đặc biệt đối với hộ dùng nước là đồng bào dân tộc thiểu số địa phương. Nếu giải pháp được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh sẽ tạo thêm việc làm cho hàng ngàn lao động trong lĩnh vực khai thác tổng hợp công trình thuỷ lợi hồ chứa.

          3.2- Sản phẩm thứ hai (Năm 2008-2009): Tôi chủ trì cùng các cộng sự trong công ty đưa ra giải pháp “Sáng tạo biện pháp bổ sung nước cho công trình Ia H’rung và cải tiến kỹ thuật trong Dự án đầu tư xây dựng công trình sửa chữa, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi Biển Hồ”, tham dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ 4 và Đạt giải nhì (Toàn tỉnh không có giải nhất) Gía trị làm lợi: 15 tỷ đồng

Được UBND tỉnh tặng bằng khen về thành tích lao động sáng tạo cho nhóm tác giả của công ty và Tổng Liên Đoàn lao động Việt Nam tặng bằng lao động sáng tạo cho cá nhân tôi.

*Đánh giá về sản phẩm:

-Sản phẩm thuộc lĩnh vực: Nông nghiệp

+Hiệu quả đóng góp của Sản phẩm: Giải pháp

I. Mô tả ý tưởng hình thành và hiệu quả của sản phẩm giải pháp:

1.  Giải pháp dự thi của tôi được hình thành trong quá trình trực tiếp điều hành quản lý vận hành hồ chứa thuỷ lợi Biển Hồ, hồ chứa thuỷ lợi IaH’rung, hình thành trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, thử nghiệm trong quản lý, vận hành, khai thác 10 hồ chứa thuộc quản lý của công ty. Đặc biệt ý tưởng làm nên giải pháp được hình thành ở ý nghĩ và biện pháp đề xuất khắc phục khó khăn hàng năm (Về tính đặc thù của vùng Tây Trường Sơn tỉnh Gia Lai thừa nước về mùa mưa, thiếu nước về mùa khô; Về tình hình quản lý lưu vực của các công trình thuỷ lợi liên tục bị xâm hại và thu hẹp; Về tình hình hạn hán không thể khắc phục ở các công trình thuỷ lợi đập dâng và công trình hồ chứa Ia H’rung; Về kinh phí cho duy tu, nâng cấp công trình, tiền lương công nhân và các khó khăn khác xảy ra liên tục từ nhiều năm nay). Những ý nghĩ đó là:

+Quản lý hồ chứa như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất ? (An toàn nhất, tiết kiệm chi phí sửa chữa nhất, giảm tối thiểu nhân công nhất, năng lực khai thác phục vụ sản xuất đạt gần với năng lực thiết kế nhất, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các nguồn lợi từ công trình tốt nhất, thuỷ lợi phí thu cao nhất và tiền nước thu được từ các dịch vụ ở hồ chứa lớn nhất,…)

+Quản lý dự án sửa chữa thường xuyên, nâng cấp, nâng cao, hoàn thiện công trình công ty quản lý như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế và xã hội cao nhất?

+Thực hiện dự án sửa chữa, nâng cấp ở công trình này liệu có thể kết hợp giải quyết các vấn đề khó khăn về nguồn nước thiếu ở các công trình lân cận hay không, so sánh việc kết hợp này với việc lập một dự án mới khác về xây dựng mới hoặc nâng cấp công trình đó bên nào có lợi hơn về kinh tế, về nguồn nước, v.v… 

+Xuất phát từ những ý nghĩ nung nấu nhiều năm đã trình bày ở trên- Tôi đã đưa ra Giải pháp “Sáng tạo biện pháp bổ sung nước cho công trình Ia H’rung và cải tiến kỹ thuật trong Dự án đầu tư xây dựng công trình sửa chữa, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi Biển Hồ”  đồng thời soạn thảo thành phương án đầu tư kết hợp với Dự án đầu tư xây dựng công trình sửa chữa, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi Biển Hồ trình Bộ Nông nghiệp và PTNT rồi UBND tỉnh phê duyệt. Giải pháp có tính khả thi cao vì không ngoài mục đích: An toàn hồ đập, nâng cao hiệu quả phục vụ của các công trình thuỷ lợi theo chủ trương của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và PTNT. Đặc biệt là nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hồ chứa thuỷ lợi lớn như hồ thuỷ lợi Biển Hồ và đặc biệt hơn nữa là kết hợp xử lý việc thiếu nước thường xuyên không thể khắc phục của công trình Hồ chứa Ia H’rung lân cận với sự chênh lệch độ cao giữa 2 công trình đầu mối trên 100m và giữa 2 khu tưới trên 10m.

2. Mô tả giải pháp (sản phẩm)

– Thuyết minh tính mới của giải pháp:

+Cá nhân tôi dám suy nghĩ và đề xuất với chủ đầu tư thay đổi thiết kế để làm lợi cho nhà nước và tạo điều kiện cho các nhà thầu vượt qua giai đoạn suy thoái kinh tế, thắt chặt tiền tệ. 

+Lập và thực hiện dự án đầu tư xây dựng sửa chữa nâng cấp hệ thống thuỷ lợi Biển Hồ, kết hợp sáng tạo tiếp nước từ lưu vực công trình Biển Hồ sang lưu vực công trình Ia H’rung chống hạn cho gần 200ha (công ty đang tưới tự chảy) và tưới tự chảy thêm cho 100ha cà phê của dân.

+Mọi sự cải tiến, thay đổi biện pháp thi công trong thực hiện dự án mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đều được tính toán kỹ lưỡng không làm ảnh hưởng đến chất lượng kỹ thuật, hiệu quả và mục tiêu của dự án ban đầu đã đề cập.

– Thuyết minh tính sáng tạo cạnh tranh của giải pháp:

+Thực hiện 1 dự án sửa chữa, nâng cấp trong 1 công trình (hệ thống thuỷ lợi Biển Hồ) nhưng đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho 3 công trình (Hồ thuỷ lợi Biển hồ, Hồ tự nhiên Biển Hồ thuộc quản lý của Công ty cấp thoát nước Gia Lai, hồ chứa thuỷ lợi Ia H’rung)

 – Khả năng áp dụng, nhân rộng và chuyển giao:

Giải pháp đã được áp dụng tại Công ty trong điều kiện kinh tế kỹ thuật cho phép

+Giải pháp này đã được thực thi đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao tại hai công trình hồ chứa Biển hồ và Ia H’rung và đã được công ty khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai áp dụng nhân rộng tại Công trình Hồ chứa Ia Ring Chư Sê “Xả nước từ hồ Ia Ring xuống suối cấp nước chống hạn cho các công trình đập dâng của dân gần 100ha trong cùng một lưu vực sông, suối (đập dâng Trà Đung-Ia Rú, đập dâng Làng Long-xã Ia Lốp, đập Ia Lú xã Ia Blang) và khoảng trên 500ha tưới hỗ trợ (có biên bản xác nhận của UBND các xã) và áp dụng tại Công trình hồ chứa Ia GLai-huyện Chư Sê tưới hỗ trợ nước cho 360ha thuộc công trình đập dâng Ia Lâu – huyện Chư Prông, kết quả phục vụ tưới hỗ trợ và chống hạn này đã được nhiều đơn vị khai thác công trình thuỷ lợi khu vực Tây nguyên, miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung, các tỉnh phía Bắc đến tham quan và học hỏi kinh nghiệm chống hạn, đối với tỉnh Gia lai có thể áp dụng giải pháp này cho một số công trình hồ chứa có đủ điều kiện tương tự (chênh lệch độ cao và cùng lưu vực sông, suối) trong công tác chống hạn vụ đông xuân hàng năm, rộng hơn có thể áp dụng giải pháp này cho các chủ thể các Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi khác ở các tỉnh Tây nguyên và các tỉnh miền núi trung du trên địa bàn toàn quốc nơi có độ dốc sông suối cao và có nhiều công trình trên cùng lưu vực.

+Giải pháp này được nhân rộng về quyền làm chủ của Chủ đầu tư “Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đề xuất biện pháp có lợi cho công ty và nhà nước”

-Hiệu quả kinh tế, xã hội:

*Kinh tế: Giải pháp này đem lại hiệu quả kinh tế hơn hẳn các giải pháp trước đây của các chủ đầu tư là các công ty khai thác công trình thuỷ lợi trong toàn quốc (trong đó có công ty TNHH MTV khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai trước khi có giải pháp này) trong công tác thực hiện dự án đầu tư xây dựng sửa chữa, nâng cấp công trình thuỷ lợi hồ chứa, đồng thời giải pháp này phù hợp với lộ trình sắp xếp, đổi mới và không ngừng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trong giai đoạn mới, giải quyết được và vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế trong đầu tư xây dựng công trình trong cả nước, tạo đà hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế. Hiệu quả cụ thể:

a/Hồ Biển Hồ    2.626.838.391đồng

-Tiết kiệm chi phí thi công so với dự toán: 1.626.838.391 đồng

-Tiết kiệm chi phí bù thép cho các nhà thầu và nhà nước: 1.000.000.000đồng

-Thi công đúng tiến độ vượt được lũ năm 2008, tránh được thiệt hại (không tính trước được) do lũ gây ra.

-Tiết kiệm chi phí quản lý dự án do công ty làm chủ đầu tư (thi công đúng tiến độ và vượt được lũ)

-Giảm bớt được khó khăn (tại thời điểm) cho các nhà thầu trong đầu tư kinh doanh thi công trong khi sắt thép nâng giá gần gấp đôi so với giá trúng thầu và tiết kiệm được chi phí nhân công thi công.

-Tạo nhiều thuận lợi cho công tác duy tu, bảo dưỡng công trình của công ty.

b/Hồ Ia H’rung            2.355.845.600 đồng

-Tiết kiệm chi phí chống hạn cho dân: 199,84ha * 1.500.000đ/ha =  299.760.000 đồng

-Làm tăng thuỷ lợi phí cho công ty (1,5 đợt tưới):199,84ha*840.000đ/ha= 167.865.600đồng 100 ha 3 đợt tưới * 1.680.000đ/ha  = 168.000.000đồng

-Tiết kiệm chi phí đầu tư đào giếng và tưới bơm 100ha cho dân:

100ha*16triệu/ha=1,6tỷđồng [1ha cà phê cần đầu tư (Máy bơm THĐ+đào giếng+100m đường ống)=(4triệu+2 triệu+10 triệu)=16triệu]

-Tiết kiệm chi phí tưới tưới bơm so với tưới tự chảy: 4,6triệu-1,68triệu = 2,92triệu

(200lít dầu điezen/3 đợt tưới+nhân công tưới 3 đợt = 2,6triệu+2triệu=4,6triệu và thuỷ lợi phí nộp cho công ty tưới tự chảy là 1,68 triệu đồng/ha)

-Tiết kiệm tiền đền bù giải phóng mặt bằng 0,69ha cà phê *170.000.000đ/ha(theo đơn giá của nhà nước tại thời điểm)  = 117.300.000đồng

(Ghi chú: 199,84ha cà phê kinh doanh công trình Ia H’rung từ 2001 đến 2008 công ty chỉ thực hiện tưới được 1,5 đợt BQ/3đợt yêu cầu; Sau giải pháp sẽ tưới đủ 3 đợt ngoài ra còn tưới thêm 100 ha diện tích cà phê của dân trong khu tưới của công trình Ia H’rung mà không phải đầu tư tưới bơm từ giếng đào)

*Tổng giá trị làm lợi của giải pháp : 4.982.683.991đồng ≈ 5,0 tỷ đồng

                      (2.626.838.391đ + 2.355.845.600đ= 4.982.683.991đồng)

*Xã hội: Giải pháp mang lại hiệu quả xã hội to lớn cho tỉnh nhà trong công tác chống hạn ổn định đời sống nhân dân, tạo việc làm thêm cho 150 lao động sản xuất và dịch vụ trong ngành cà phê trên địa bàn xã Ia H’rung, huyện Ia Grai, tỉnh Gia lai. Nếu giải pháp được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh và cả nước sẽ tạo thêm việc làm cho hàng ngàn lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có dùng nước từ công trình thuỷ lợi.

          3.3-Sản phẩm thứ ba (Năm 2010-2011): Tôi chủ trì cùng các cộng sự trong công ty đưa ra giải pháp “Cải tiến ngưỡng tràn xả lũ, tăng dung tích hiệu dụng hồ chưa nước Hoàng Ân phục vụ chống hạn cuối vụ và mở rộng diện tích tưới, tham dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ V tổ chức vào quí IV năm 2011 đạt giải nhì, tổng giá trị làm lợi 4,5 tỷ đồng. Được UBND tỉnh tặng Bằng khen về thành tích lao động sáng tạo năm 2011 và Tổng Liên Đoàn lao động Việt Nam tặng bằng lao động sáng tạo cho cá nhân tôi.

*Đánh giá về sản phẩm:

-Sản phẩm thuộc lĩnh vực: Nông nghiệp

+Hiệu quả đóng góp của Sản phẩm (giải pháp)

*Mô tả : Giải pháp dự thi của tập thể đồng tác giả được hình thành trong quá trình quản lý khai thác vận hành công trình hồ chứa thủy lợi Hoàng Ân. Sự hình thành này do quá trình trăn trở tìm hiểu học tập, đúc rút kinh nghiệm của nhiều đơn vị khai thác công trình thủy lợi khác trên toàn quốc và đặc biệt ý tưởng làm nên giải pháp được hình thành ở ý nghĩ và biện pháp khắc phục khó khăn về đặc thù của vùng Tây Trường Sơn tỉnh Gia Lai là chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đớt gió mùa, nên thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô;

Về tình hình quản lý lưu vực của các công trình thủy lợi liên tục bị xâm hại và thu hẹp; Về tình hình hạn hán ngày càng khắc nghiệt chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu toàn cầu, xuất hiện các yếu tố khí tượng cực đoan như tổng lượng mưa năm trong thời gian gần đây điều giảm, phân bố lượng mưa không tập trung sai khác so với quy luật, thời tiết  nắng hạn kéo dài.

Đối với các công trình đập dâng không thể khắc phục được tình hình hạn hán, mực nước các sông suối dần cạn kiệt vào các tháng 2 và 3, thời điểm mà nhu cầu nước cho cây trồng rất lớn.

Đối với công trình hồ chứa đặc biệt là hồ chứa nước Hoàng Ân với tình hình hạn hán kéo dài xảy ra, gây thiếu nước cuối vụ làm thiệt hại rất lớn năng xuất và sản lượng cây trồng thậm chí có nơi còn mất trắng do cháy vườn cây.

Những ý nghĩ đó là:

– Quản lý, khai thác hồ chứa thế nào để đạt hiệu quả cao nhất ? (An toàn, tiết kiệm chi phí sửa chữa, giảm thiếu nhân công nhất, khai thác năng lực lớn nhất, bảo vệ môi trường sinh thái, thu thủy lợi phí và tiền nước từ các dịnh vụ hồ chứa lớn nhất, …)

– Quản lý dự án sửa chữa thường xuyên, nâng cấp, nâng cáo, hoàn thiện công trình công ty quản lý như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế và xã hội cao nhất ?

– Thực hiện dự án sửa chữa, nâng cấp ở công trình này liệu có thể kết hợp giải quyết các vấn đề khó khăn về nguồn nước cho cây trồng hay không, đồng thời dự phòng trong những trường hợp bất lợi do thiên tai hạn hán xảy ra, so sánh việc kết hợp này với việc lập một dự án mới khác bên nào có lợi hơn về kinh tế, về nguồn nước, v.v….

* Xuất pháp từ những ý tưởng nung nấu nhiều năm đã trình bày ở trên, thế là giải pháp:  “Cải tiến ngưỡng tràn xả lũ hồ chứa nước Hoàng Ân, tăng dung tích hiệu dụng (hữu ích) phục vụ chống hạn cuối vụ và mở rông diện tích tưới” dần dần được hình thành và được tập thể đồng tác giả nhất trí thông qua đồng thời được soạn thành phương án đầu tư kết hợp với dự án nâng cấp công trình hồ chứa nước Hoàng Ân trình Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt, Đặc biệt nâng cao nâng cao hiệu quả quản lý khai thác và an toàn hồ chứa thủy lợi và đặc biệt hơn nữa là kết hợp tăng công suất phụ vụ của công trình để xử lý việc thiếu nước thường xuyên không thể khắc phục của công trình hồ chứa nước Hoàng Ân.

* Trình tự thực hiện các ý tưởng của giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện theo lộ trình từng năm (2007 – 2010).

+Lập dự án xử lý chống hạn và tăng thêm diện tích tưới cho công trình hồ chứa nước Hoàng Ân.

a/ Để cấp nước tưới và chống hạn cho vụ đông xuân năm 2006 – 2007, từ đầu tuần tháng 12 năm 2006, công ty đã xây dựng kế hoach và phương án dùng nước cho công trình, thành lập tổ khảo sát và nghiên cứu nâng cao ngưỡng tràn để tạo thêm dung tích hữu ích cho hồ chứa, tuy vậy chỉ nâng cao trong phạm phi cho phép được trử, vì công trình xuống cấp và hư hỏng không an toàn, bằng hình thức đắp bao tải nâng cao ngưỡng tràn 40cm. Kết quả công trình đã tưới tăng thêm được 30 ha ngoài ra còn cấp nước phục vụ sinh hoạt của nhân dân xã Ia Phìn bằng cách dẫn từ kênh vào các giếng nước, và giữ một phần nước để chống hạn cuối vụ. (xem bảng kết quả tưới của công trình qua các năm)

Hạn chế là: Hàng năm phải tốn kém nhân công và vật liệu để nâng cao ngưỡng, còn mang tính tạm thời, giải quyết tình thế, không đảm bảo an toàn và phải tháo dở ngưỡng tạm trong mùa mưa bão và làm lại cuối mùa mưa hàng năm.

b/ Năm 2008: Lập dự án báo cáo tóm tắt  nâng cấp công trình đầu mối hồ chứa nước Hoàng Ân, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh Gia Lai chấp nhận đầu tư. Trong thời gian chờ dự án được phê duyệt và làm các thủ tục để đầu tư, công ty vẫn tiếp tục thực hiện phương án tạm để bảo đảm nguồn nước cho việc chống hạn cuối vụ.

c/ Ngày 29/6/2009: Được Bộ Nông nghiệp chấp thuận và UBND tỉnh Gia Lai ra Quyết định phê duyệt dự án đầu tư sửa chữa nâng cấp hồ chứa nước Hoàng Ân, xã Ia Phìn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, và giao cho công ty khai thác công trình thủy lợi Gia Lai làm chủ đầu tư (nay là công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai)

Quy mô dự án sửa nâng cấp công trình hồ chứa Hoàng Ân gồm : Đập đất, Tràn xả lũ, Cống lấy nước, Nhà và đường quản lý và hệ thống đường điện. (xem chi tiết quyết định số : 912/QĐ – UBND ngày 29/6/2009)

Ngày 11/12/ 2009, UBND tỉnh Gia Lai ra quyết định số: 1690/QĐ – UBND về việc phê duyệt kế hoach đấu thầu, hồ sơ mời thầu (giai đoạn 2) sửa chữa nâng cấp tràn xả lũ, gia cố hoàn thiện mái thượng lưu đập đất công trình hồ chứa nước Hoàng Ân, xã Ia Phìn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

+Tổ chức đấu thầu và hợp đồng thi công thực hiện dự án.

Ngày 2/3/2010, UBND tỉnh Gia Lai ra quyết định số: 312/QĐ – UBND về việc phê duyệt kết quả đấu thầu gói thầu xây lắp số 10 Sửa chữa nâng cấp tràn xả lũ, công trình sửa chữa nâng cấp hồ chứa nước Hoàng Ân,huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. (giai đoạn 2)

Thời gian thực hiện dự án: Sửa chữa nâng cấp tràn xả lũ hồ chứa nước Hoàng Ân là 180 ngày. Với giá trị gói thầu là : 4.479.000.000 đồng.

Tháng 10 năm 2010 dự án thực hiện xong.

Tóm lai: Giải pháp cải tiến ngưỡng tràn xả lũ, tăng dung tích hiệu dụng hồ chứa nước Hoàng Ân phục vụ chống hạn cuối vụ và mở rộng diện tích tưới, tiết kiệm kinh phí đầu tư cho nhà nước để xây dựng công trình mới. Với sự cải tiến này vừa tăng công xuất của công trình (tăng dung tích hiệu dụng hồ chứa thêm 412.000 m3 làm tăng diện tích tưới của công trình 50 ha cà phê và chống hạn cuối vụ 210ha); đồng thời bảo đảm công trình làm việc an toàn đặc biệt là trong mùa mưa bão hàng năm. Giải pháp thể hiện các tiêu chuẩn kinh tế – kỹ thuật và xã hội cao và đã trở thành hiện thực đó là:

            *Tính mới của giải pháp (sản phẩm):

            + Công ty làm chủ đầu tư quản lý dự án toàn diện theo quy định của pháp luật và sự cho phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh Gia Lai.

            + Lập và thực hiện dự án đầu tư xây dựng  sửa chữa nâng cấp công trình thủy lợi kết hợp với việc giải quyết việc chống hạn và mở rộng diện tích tưới của công trình (diện tích tưới tăng này trước đây hoàn toàn không chủ động được nguồn nước)

            + Mọi sự cải tiến, thay đổi biện pháp, giải pháp công trình trong thực hiện dự án mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn điều được tính toán kỹ lưỡng không làm ảnh hưởng đến chất lượng kỹ thuật, hiệu quả và mục tiêu dự án ban đầu đã đề cập.

            + Thực hiện dự án sữa chũa nâng cấp công trình đầu mối Hồ chứa nước Hoàng Ân không những đảm bảo sự làm việc an toàn của công trình mà còn nâng cao công suất phục vụ cho nhu cấp sản xuất nông nghiệp trên địa bàn khu vực hưởng lợi đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giải quyết nhu cầu thiếu nước trong tình hình hiện nay.

            *. Tính sáng tạo và cạnh tranh của giải pháp (sản phẩm):

            + Qua nghiên cứu các giải pháp chống hạn vụ đông xuân hàng năm cho các loại cây trồng hưởng lợi từ nguồn nước công trình do công ty quản lý. Đặc biện là công trình thủy lợi hồ chứa nước Hoàng Ân. Mặc dù đơn vị đã dùng nhiều biện pháp kỹ thuật công trình như áp dụng chế độ tưới luân phiên, tăng nhanh thời gian tưới cho mỗi đợt sau đó giản lịch tưới các đợt để giảm tổn thất nước và tránh hạn cuối vụ, ngoài ra tận dụng các biện pháp tích trữ nước khác: Như trước mỗi vụ tưới tận dụng lượng nước đến hồ chứa thừa dùng đường kênh để trữ hoặc làm ngấm trước các vùng đất phi sản xuất để tăng cao mực nước ngầm trong khu vực. v.v…Song các kết quả trên chỉ đạt hiệu quả nhỏ và mang tích hỗ trợ một phần lượng nước thiếu. Do vậy việc chống hạn là không thể  và cũng không thể chuyễn đỗi cơ cấu cho cây trồng để tránh hạn (bất khả kháng do nguyên nhân cơ bản là nhân dân mở rộng diện tích sản xuất một cách tự phát, thiếu quy hoạch một cách đồng bộ về thủy lợi và sản xuất nông nghiệp, về mặt tác động do con người lấm chiếm lưu vực công trình phía thượng lưu làm thay đổi yếu tố địa lý, rừng phòng hộ đầu nguồn, mặt đệm thảm thực vật, công trình xây dựng trước đây chưa đề cập việc nâng cao công suất và nhiệm vụ  công trình.

            + Trước vấn đề cấp bách của công trình thường xảy ra hạn cuối vụ và thiếu nước tưới, trước khi có chủ trương đầu tư nâng cấp. Nếu công trình đầu tư sửa chữa kiên cố lại như thiết kế trước đây thì chỉ mang tính chất an toàn và lâu dài, không phát huy hết khả năng năng cao công suất mà công trình có khả năng. Tập thể tác giả công ty đã nghiên cứu trên cơ sở đồ án thiết kế cũ trước đây và kết hợp đi thực địa, từ đó đưa ra sáng kiến là cải tiến ngưỡng tràn xả lũ hồ chứa nước Hoàng Ân từ hình thức tràn đỉnh rộng chảy tự do không điều tiết có cao trình ngưỡng tràn là 657.00m sang hình thức tràn tự do kết hợp tràn xả sâu có cửa van điều tiết với cao trình phần ngưỡng tràn không điều tiết là 657,50m và cao trình ngưỡng tràn có điều tiết 655,50. Với việc kết hợp hai hình thức xả lũ như vậy đã tăng mực nước dâng bình thường lên 0,5m so với trước đây, hay nói cách khác hồ chứa tăng dung tích hiệu dụng lên được 412.000 m3 nước.

            *. Khả năng áp dụng, chuyển giao và nhân rộng:

            Giải pháp này đã được đã được thực thi đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao cho công trình hồ chứa nước Hoàng Ân trong vụ đông xuân năm 2010 – 2011.

            Công ty đã áp dụng nhân rộng tại công trình hồ chứa nước Ia Glai – Chư Sê, công trình này trong vụ đông xuân năm 2010 – 2011 đã tưới hỗ trợ chống hạn cho nông trường Ia Kor là 300 ha cà phê, giá trị thanh lý là : 210.000.000,0 đồng và tưới tăng thêm cho nhân dân xã Ia Kor 130,8 ha trong đó : 87,8 ha lúa nước, 37,1ha cà phê và 5,9 ha cây hồ tiêu (có hợp đồng và thanh lý hợp đồng với đơn vị sử dụng nước).

Kết quả phục vụ tưới hỗ trợ và chống hạn cho công trình  đã được nhiều đơn vị khai thác công trình thủy lợi khu vực Tây nguyên, miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung, và các tỉnh phía Bắc đến tham quan và học hỏi kinh nghiệm chống hạn, đối với tỉnh Gia Lai có thể áp dụng giải pháp này cho một số công trình hồ chứa có hình thức xả lũ bằng tràn tự do (khoảng 76 công trình hồ chứa còn lại nằm rải rác trên địa bàn toàn tỉnh) trong công tác chống hạn vụ đông xuân hàng năm, rộng hơn có thể áp dụng giải pháp này cho các chủ thể các công ty khai thác công trình thủy lợi khác ở các tỉnh tây nguyên.

Lợi ích kinh tế – xã hội:

      1/Kinh tế:

Giải pháp này đêm lại hiệu quả kinh tế hơn hẳn các giải pháp trước đây của các chủ đầu tư là các công ty khai thác công trình thủy lợi trong toàn quốc (trong đó có công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai trước khi có giải pháp này) trong công tác thực hiện dự án đầu tư xây dựng sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi hồ chứa, vừa đảm bảo an toàn công trình hồ chứa vừa nâng cao công xuất tưới của công trình, góp phần giải quyết chống hạn và thiếu nước sản xuất.

Hiệu quả cụ thể:

Đối với cây trồng (cây cà phê) do hạn hán xảy ra cuối vụ năng xuất cây trồng giảm từ 15 – 20 % sản lượng, (nếu hạn kéo dài thì thì sản lượng mất đến 40 – 50%, có thể mất trắng do cháy vườn cây)

Sản lượng bị giảm do hạn hán: 15% * 3000 kg cà phê nhân/ha = 450 kg /ha

Giá trung bình 1kg cà phê nhân trên thị trường tại thời điểm là:  45.000,0 đồng /1kg

+ Giá trị làm lợi cho việc chống hạn của công trình là:

           210 ha x 450 x 45.000 = 4.252.500.000,0 đồng

+ Làm tăng thủy lợi phí do mở rộng diện tích tưới thêm 50 ha cà phê:

    50 ha x 1.680.000, đồng /ha = 84.000.000 đồng.

(1.680.000 đồng/ha là mức thu thủy lợi phí theo quyết định số:13/2009/UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai ban hành ngày 7/5/2009)

Tổng giá trị làm lợi của giải pháp: 4.336.500.000,0 đồng (Bốn tỷ, ba trăm ba sáu, triệu, năm trăm ngàn đồng)

            2/ Xã hội:

          Giải pháp mang lại hiệu quả xã hội to lớn cho tỉnh nhà trong công tác chống hạn ổn định đời sống nhân dân, tạo thêm việc làm cho 100 lao động sản xuất và dịch vụ trong ngành cà phê trên địa bàn xã Ia Phìn – Huyện Chư Prông – tỉnh Gia Lai. Nếu giải pháp được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh và cả nước sẽ tạo thêm việc làm cho hàng ngàn lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có dùng nước từ công trình thủy lợi.

          3.4-Sản phẩm thứ 4 (Năm 2012-2013): Tôi chỉ đạo Nhóm tác giả trong công ty đưa ra giải pháp “Sáng tạo biện pháp chống thấm công đầu mối hồ chứa thuỷ lợi Ayun Hạ, tham dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ VI (2012-2013) đạt giải ba, giá trị làm lợi của giải pháp 0,5 tỷ đồng.

*Đánh giá về sản phẩm:

-Sản phẩm thuộc lĩnh vực: Nông nghiệp

-Hiệu quả đóng góp của Sản phẩm:

+Mô tả: Giải pháp dự thi của tập thể đồng tác giả được hình thành trong quá trình quản lý vận hành hồ chứa thuỷ lợi Ayunhạ, hình thành trong quá trình mà tập thể đồng tác giả cùng nhau học tập, tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm ở nhiều công ty khai thác công trình thuỷ lợi trong toàn quốc và đặc biệt ý tưởng làm nên giải pháp được hình thành ở ý nghĩ và biện pháp khắc phục khó khăn (Về vốn cho tu sửa công trình, tiền lương công nhân và các khó khăn khác xảy ra liên tục từ năm 2010 đến nay) đã thành công hữu hiệu trong hoạt động công ích theo qui định của Pháp luật và hoạt động kinh doanh bổ sung trong nền kinh tế thị trường biến đổi hàng ngày với mục đích hỗ trợ tích cực và hiệu quả cho hoạt động công ích nhằm điều hành công ty phát triển đi lên.

Những ý nghĩ đó là:

+Quản lý hồ chứa như thế nào để đạt hiệu quả: (An toàn nhất, tiết kiệm chi phí sửa chữa nhất, giảm tối thiểu nhân công nhất, năng lực khai thác phục vụ sản xuất đạt gần với năng lực thiết kế nhất, bảo vệ môi trường sinh thái và nguồn lợi tốt nhất, thuỷ lợi phí thu cao nhất, tiền nước thu được từ các dịch vụ ở hồ chứa lớn nhất,…) 

+ Quản lý dự án sửa chữa thường xuyên, nâng cấp, nâng cao, hoàn thiện công trình công ty quản lý như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế và xã hội:

– Thực hiện dự án sửa chữa, nâng cấp ở công trình này liệu có thể kết hợp giải quyết các vấn đề khó khăn về an toàn công trình, tuổi thọ công trình sau khi xử lý, đồng thời dự phòng trong những trường hợp bất lợi do thiên tai gây ra, so sánh việc kết hợp này với việc lập một dự án mới khác bên nào có lợi hơn về kinh tế, về nguồn nước, v.v….

* Xuất pháp từ những ý tưởng nung nấu nhiều năm đã trình bày ở trên, thế là giải pháp:  “Sáng tạo biện pháp chống rò rỉ cống lấy nước đầu mối hồ chứa nước Ayun hạ” dần dần được hình thành và được tập thể đồng tác giả nhất trí thông qua đồng thời được soạn thành phương án, Đặc biệt nâng cao hiệu quả quản lý khai thác và an toàn hồ chứa thủy lợi

* Trình tự thực hiện các ý tưởng của giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện theo lộ trình từng năm (2010 – 2012).

         Giải pháp kỹ thuật: Sáng tạo biện pháp chống rò rỉ cống lấy nước đầu mối hồ chứa nước Ayun hạ.

* Vị trí rò rỉ: Gồm 3 điểm trong thân cống tại Ko +40; Ko+50; Ko+75.

* Nhân lực thi công: Sử dụng đội ngũ, cán bộ kỹ sư và công nhân quản lý hiện có thực hiện thủ công vào thân cống làm sạch bề mặt xung quanh vị trí rò rỉ, khoanh vùng khu vực sau đó khoan lỗ bắt vít xung quanh vị trí rò rỉ, khoảng cách giữa các lỗ khoan ngoài mép biên tấm thép a = 10cm và các lỗ khoan xung quanh tấm thép cách nhau 15cm, sau đó dùng tấm thép dày 10mm ép chặt, khoảng cách từ tâm nơi xảy ra rò rỉ đến vị trí lỗ khoan bắt vít r>=15cm.

* Vật tư chính: Dùng sợi filament tẩm nhựa đường và xi măng ép chặt vào tấm thép đã phủ một lớp nhựa đường đặt vào vị trí rò rỉ xiết chặt bu loong để ép tấm thép vào mặt bê tông. Bi tum nhựa đường khi gặp nước chảy sẽ không tan mà tạo thành mảng kết dính với những hạt cát, sỏi nhỏ đang trôi theo dòng nước, sử dụng sợi filament chống mài mòn đã tẩm nhựa đường và xi măng để chặn giữ không cho cát sỏi theo dòng rò rỉ trôi ra ngoài mà được giữ lại bởi các sợi filament tích tụ dần làm kín lỗ rò.

* Tính mới: “Sáng tạo biện pháp chống rò rỉ cống lấy nước đầu mối hồ chứa nước Ayun hạ” thể hiện được các tiêu chuẩn cao hôm nay đã trở thành hiện thực đó là: Dễ thi công, thiết bị thi công đơn giản, kinh phí thực hiện ít tốn kém, đặc biệt là không phải hạ mực nước hồ để triển khai thi công làm ảnh hưởng đến sản xuất của nhân dân, cung cấp nước cho các ngành kinh tế khác, hồ chứa từ ngày chặn dòng cho tới nay mực nước hồ chưa năm nào hạ xuống đến mực nước chết, nguồn nước trong sạch có thể dùng được cho sinh hoạt và nuôi trồng thuỷ sản, công trình an toàn và bền vững lâu dài, chi phí sửa chữa thường xuyên giảm hơn nhiều so với các hồ chứa khác. Khu tưới của công trình chưa lần nào xảy ra hạn hán hoặc úng ngập, công suất phục vụ tưới gần bằng công suất thiết kế của công trình, năng suất lúa của dân trong khu tưới đạt trên 10tấn/ha, năng sất thuỷ sản cá ao trong khu tưới đạt 5 tấn/ha, năng suất thuỷ sản hồ chứa đạt gấp đôi các hồ chứa khác trên toàn quốc, nhà máy thuỷ điện phát điện đạt công suất thiết kế/năm. Du lịch sinh thái lòng hồ đã mở ra cho tỉnh nhà một tiềm năng khai thác lớn thông qua kêu gọi đầu tư. Môi trường sinh thái hồ chứa qua gần 20 năm khai thác vẫn được bảo tồn và ổn định. Nguồn lợi thuỷ sản và các nguồn lợi hoang sơ khác vẫn còn gần như nguyên vẹn.

* Hiệu quả công trình sau khi dự án hoàn thành và giải pháp áp dụng: Sau khi sáng tạo biện pháp chống rò rỉ cống lấy nước đầu mối hồ chứa nước Ayun hạ:

+ Hồ chứa nước Ayun hạ không phải xả nước trong lòng hồ và xác định vị trí lỗ rò rỉ đồng thời khoan sâu từ đỉnh đập đến vị trí rò sau đó phụt vữa bê tông + phụ gia đông kết nhanh để làm bít lỗ rò.

+Công ty chủ động trong việc điều tiết nước tưới xản xuất nông nghiệp 3 huyện Phú thiện, Ayun Pa, Ia Pa, nuôi trồng thuỷ sản và cung cấp nước cho các nhà máy  thuỷ điện Ayun hạ, kênh Bắc Ayun hạ, nhà máy mía đường Ayun Pa, nhà máy nước Ayun Pa.

+ Mọi sự cải tiến, thay đổi biện pháp, giải pháp công trình trong thực hiện dự án mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn điều được tính toán kỹ lưỡng không làm ảnh hưởng đến chất lượng kỹ thuật, hiệu quả và mục tiêu dự án ban đầu đã đề cập.

            + Thực hiện dự án chống rò rỉ cống lấy nước đầu mối Hồ chứa nước Ayun hạ không những đảm bảo sự làm việc an toàn của công trình mà còn nâng cao công suất phục vụ cho nhu cấp sản xuất nông nghiệp trên địa bàn khu vực hưởng lợi đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giải quyết nhu cầu thiếu nước trong tình hình hiện nay.

*Tính sáng tạo và cạnh tranh của Giải pháp (sản phẩm):

+ Qua nghiên cứu các giải pháp chống thấm cống lấy nước đầu mối hồ chứa nước công ty quản lý, đặc biệt là công trình thuỷ lợi hồ chứa nước Ayun hạ. Mặc dù đơn vị đã dùng nhiều biện pháp kỹ thuật công trình như áp dụng phương pháp khoan phụt hỗn hợp xi măng + sét + phụ gia chống thấm bên ngoài thân cống trong điều kiện công trình vẫn làm việc bình thường, ngoài ra còn dùng các biện pháp khác như trộn hỗn hợp dung dịch vữa xi măng mác cao và phụ gia chống thấm để trít mạch vào các vị trí rò rỉ hoặc lồng ống thép trong toàn bộ thân cống sau đó khoan phụt vữa xi măng chèn lấp giữa ống thép và thân cống cũ … Song các kết quả trên chỉ đạt hiệu quả nhỏ và mang tích hỗ trợ giảm một phần lượng nước rò rỉ nhưng tuổi thọ cũng đạt rất thấp chỉ được một vài tháng đầu hoặc không khả thi do đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, thời gian thi công kéo dài làm ảnh hưởng đến phục vụ sản xuất và kinh phí đầu tư lớn. (Năm 2000 Công ty đã xử lý rò rỉ cho công trình hồ chứa nước Hoàng ân bằng phương pháp lồng ống thép trong toàn bộ thân cống sau đó khoan phụt vữa xi măng chèn lấp giữa ống thép và thân cống cũ, mặc dù hồ chứa nước Hoàng ân chỉ có dung tích 5,2 .106m3 nhưng đã phải thi công trong 5 tháng liên tục (từ tháng 6 đến tháng 11) và kinh phí thực hiện trong thời điểm đó là 500 triệu đồng, vì đây là công trình chủ yếu phục vụ cho tưới cà phê do đó thi công trong thời điểm trên không ảnh hưởng đến công tác tưới của công trình).

+ Trước vấn đề cấp bách của công trình nếu thường xuyên để tình trạng cống đầu mối bị rò rỉ thấm nước thì công trình rất nhanh bị xuống cấp và tuổi thọ của công trình sẽ giảm đáng kể. Tập thể tác giả công ty đã nghiên cứu trên cơ sở đồ án thiết kế cũ trước đây và kết hợp đi thực địa, từ đó đưa ra sáng kiến là bằng mọi phương án phải giải quyết triệt để công tác chống rò rỉ cho cống đầu mối công trình hồ chứa nước Ayun hạ. Với việc kết hợp sử dụng hỗn hợp là bi tum nhựa đường và sợi filament chống mài mòn đã tẩm nhựa đường và xi măng để chặn giữ không cho cát, sỏi theo dòng rò rỉ trôi ra ngoài mà được giữ lại trước các sợi filament tích tụ dần làm kín lỗ rò.

+Xác định được và đã xác định đúng: Ở hồ chứa thuỷ lợi công tác quản lý vận hành, bảo vệ công trình, thuỷ lợi phí trong cung cấp nước cho nông nghiệp là nhiệm vụ cơ bản của Doanh nghiệp thuỷ nông, nhưng nhiệm vụ chủ yếu mang lại hiệu quả lớn trong khai thác hồ chứa là tiền nước thu được từ khai thác đa mục tiêu nguồn lợi còn tiềm ẩn chứ không phải là thuỷ lợi phí thu từ phục vụ nông nghiệp vì trong toàn quốc chưa có công trình nào mà thuỷ lợi phí bù đắp đủ chi phí cho hoạt động thuỷ nông.

          Tóm lại tính sáng tạo ở đây là:

Dùng sợi filament tẩm nhựa đường và xi măng ép chặt vào tấm thép đặt vào vị trí rò rỉ xiết chặt bu loong để ép tấm thép vào mặt bê tông. Bi tum nhựa đường khi gặp nước chảy sẽ không tan mà tạo thành mảng kết dính với những hạt cát, sỏi nhỏ đang trôi theo dòng nước, sử dụng sợi filament chống mài mòn đã tẩm nhựa đường và xi măng để chặn giữ không cho cát sỏi theo dòng rò rỉ trôi ra ngoài mà được giữ lại bởi các sợi filament tích tụ dần làm kín lỗ rò.

*Khả năng áp dụng: Giải pháp này đã được thực thi và áp dụng tại hồ chứa thuỷ lợi Ayunhạ từ năm 2010 cho tới hôm nay và đã thu được hiệu quả cao, được nhiều đơn vị khai thác công trình thuỷ lợi khu vực Tây nguyên, miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung, các tỉnh phía Bắc đến tham quan và học hỏi kinh nghiệm, đối với tỉnh Gia lai có thể áp dụng giải pháp này cho các công trình hồ chứa hiện nằm rải rác trên địa bàn toàn tỉnh trong tổng số 252 công trình thuỷ lợi hiện có của tỉnh nhà trong trường hợp xảy ra hiện tượng thấm tại các vị trí như thân cống đầu mối, xi phông lớn có kết cấu tương tự đi qua các khu vực có điều kiện địa chất phức tạp và trong các điều khiện thi công khó khăn, nhất là đối với các công trình ở vùng sâu vùng xa chi phí vận chuyển thiết bị lớn đến xử lý tốn kém.

*Lợi ích kinh tế-xã hội:

1/Kinh tế: Giải pháp này đem lại hiệu quả kinh tế hơn hẳn các giải pháp xử lý chống rò rỉ cống đầu mối hồ chứa thuỷ lợi trước đây của các công ty khai thác công trình thuỷ lợi và đặc biệt hơn hẳn giải pháp khai thác hồ Ayunhạ công ty áp dụng từ các năm trước không chủ động trong việc điều tiết nước để phục vụ cấp nước đồng thời giải pháp này phù hợp với lộ trình sắp xếp, đổi mới và không ngừng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trong giai đoạn mới, tạo đà hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế và tiến tới thực hiện xã hội hóa công tác thủy nông.

Hiệu quả cụ thể:

 -Diện tích tưới thanh lý hợp đồng dùng nước tăng bình quân năm so với trước năm 2010: 200ha lúa nước 2 vụ.

– Cấp nước nông nghiệp-Thủy lợi phí các trạm hệ thống thu tăng so với trước đây: 200ha x 2.280.000 đồng/ha triệu đồng/năm = 456 triệu đồng (2.280.000 đồng/ha/năm là mức thu thủy lợi phí theo nghị định số:67/2012/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10/09/2012).

 -Tiền nước thu từ cung cấp nước phi nông nghiệp tăng so với các năm trước: 1.111 triệu đông/năm, cụ thể như sau:

+Nuôi trồng thuỷ sản: 262 triệu đồng tăng 189 triệu đồng so với năm 2010

+Tiền nước thu từ Du lịch 10%DT: tăng 10 triệu đồng so với năm 2010

+Cấp nước Thuỷ điện: tăng  300 triệu đồng so với năm 2010

+Cấp nước công nghiệp Mía đường tăng bq năm so với cũ :  100  triệu đồng   

+Cấp nước sinh hoạt nhà máy nước IaRbol Ayun pa: từ 100 triệu đồng năm 2010 lên 612 triệu đồng  năm 2013.

+Doanh thu du lịch đạt 260 triệu/năm và tăng dần theo tiến độ đầu tu khai thác. 

– Tiết kiệm chi phí sửa chữa:

-Thu nhập của người lao động tăng so với năm 2010: Tăng 1.450.000 đ/người/tháng (1.450.000 đồng/người/tháng x 12 tháng/năm x 260 người = 4.524.000.000 đồng/năm.

* Tổng cộng:  6.091 triệu đồng.

*Tính toán so sánh hiệu quả kinh tế mang lại sau khi áp dụng giải pháp chống thấm hồ chứa nước Ayun Hạ (giải pháp dự thi):

a/ Với việc sử dụng vật liệu như đã trình bày ở trên, tổng chi phí thực tế Công ty đã triển khai thực hiện để sử lý chống rò rỉ cống đầu mối là: 5.128.000 đồng, cụ thể như sau:

+ Chi phí nhân công: 8 công x 250.000 đồng/công = 2.000.000 đồng.

+ Chí phí vật tư:

– Thép tấm dày 10mmm: 0,6m x 0,6m x 10 x 7,85kg/m2 x 25.000 đồng/kg x 3 vị trí = 2.119.500 đồng.

– Nhựa đường: 1kg/1 vị trí x 22.000 đồng/kg x 3 vị trí = 66.000 đồng.

– Sợi filament: 5mx15.000đ/m x 3 vị trí = 225.000 đồng.

– Xi măng: 2kgx1.750 đồng/kgx3 vị trí = 10.500 đồng

– Đinh vít ốc nở: 16 vít x 18.000 đồng/vítx3 vị trí = 864.000 đồng.

– Xăng máy phát điện: 20 lít x 25.000 đồng/lít = 500.000 đồng.

* Tổng cộng: 5.785.000 đồng.

-Khi áp dụng biện pháp xử lý chống thấm theo các phương pháp hiện hành:

Hiện nay để xử lý việc rò rỉ cống đầu mối của hồ chứa đại đa phần các công trình đều xử lý bằng phương pháp khoan phụt chống thấm gồm hỗn hợp vữa sét + xi măng từ mái đập xuống thân cống.

– Cao trình đỉnh đập là +211.00, cao trình đáy cống là +190.50; h = 20,5m vậy độ sâu Htrung bình tính cho 1 lỗ khoan là 13m/1 lỗ khoan. 

– Chiều dài cống đầu mối là Lc = 113m; bố trí khoan phụt theo lưới ô vuông khoảng cách các điểm khoan là a = 2,5m; khẩu độ cống bxh = 3mx3,5m (chiều dày bê tông thân cống d = 0,9m do vậy chiều rộng khoan phụt thân cống là b = (3m + 2×0,9m) = 4,8m tương ứng là 3 vị trí khoan.

Tổng cộng có: (113m/2,5m) x 3 vị trí = 135 vị trí khoan.

* Tổng chi phí để xử lý chống thấm cống đầu mối là: 877.500.000 đồng, (đơn giá và biện pháp thi công thực hiện để khoan phụt tính cho 1m khoan tạm thời chúng tôi áp dụng theo đơn giá thực hiện của công trình thuỷ lợi hồ chứa nước Ia Mơr do Bộ Nông nghiệp & PTNT làm chủ đầu tư đang triển khai thi công tại xã Ia Mơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai), cụ thể như sau:

+ Chi phí khoan lỗ để phun sét+xi măng bằng máy khoan XĐTH D105:

450.000 đồng/m x 13m x 135 vị trí = 789.750.000 đồng.

+ Chi phí gia cố cống, màng chống thấm bằng phun vữa xi măng (tỉ lệ 100kg xi măng/1m phụt): 50.000 đồng x 13m x 135 vị trí = 87.750.000 đồng.

* Tổng cộng: 877.500.000 đồng

* Như vậy sau khi so sánh đối chiếu về các giải pháp khác thì giải pháp chống thấm hồ Chứa nước Ayun hạ thì tổng giá trị làm lợi là:

877.500.000 đồng – 5.785.000 đồng  = 871.715.000 đồng

Ngoài ra chưa kể đến việc làm lợi do việc chủ động cấp nước của công trình mang lại là: 6.091 triệu đồng (như đã trình bày ở trên)

2/Xã hội: Giải pháp mang lại hiệu quả xã hội to lớn cho tỉnh nhà trong công tác chống rò rỉ của các công trình thuỷ lợi, đảm bảo được an ninh lương thực và thực phẩm cá tươi sống cho tỉnh và cung cấp cho các tỉnh lân cận, tạo thêm công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động sinh sống trong khu tưới của công trình và hàng trăm lao động tham gia khai thác tổng hợp nguồn lợi từ công trình, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc địa phương cư trú trên địa bàn 6 xã ven hồ, tạo tiền đề xã hội hoá công tác thuỷ nông đối với các hộ dùng nước, đặc biệt đối với hộ dùng nước là đồng bào dân tộc thiểu số đại phương. Nếu giải pháp được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh sẽ tạo thêm việc làm cho hàng trăm lao động trong lĩnh vực khai thác tổng hợp công trình thuỷ lợi hồ chứa.

           3.5-Sản phâm thứ 5 (2014-2015)Tôi chỉ đạo đoàn thanh niên và công đoàn cơ sở trực thuộc xí nghiệp Kênh Nam –Bắc Ayun Hạ đua ra giải pháp (sản phẩm): “Sáng tạo biện pháp thi công cơ giới kênh tiêu úng cánh đồng của HTX Amazơn, huyện Ia Pa thuộc khu tưới Công trình thủy lợi Ayun Hạ  đạt hiệu quả kinh tế cao”. dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ 7 (tổ chức vào tháng 7 năm 2015)

I. Mô tả giải pháp (sản phẩm):

        Hồ chứa thuỷ lợi Ayunhạ (xã Ayunhạ, huyện Phú Thiện) là công trình cấp 3 (nhóm A), được khởi công xây dựng từ năm 1990, chặn dòng (sông Ayun) năm 1994, có dung tích hữu ích 253 triệu m3 nước, dung tích ứng với mực nước gia cường 401,7 triệu m3, diện tích lưu vực 1.670 km2, diện tích mặt hồ (mực nước dâng bình thường): 3.700 ha, Diện tích ứng với mực nước gia cường 3.983ha, diện tích ứng với mực nước chết 1.080 ha (ngập vĩnh viễn), vùng ngập dài ngày 2.620 ha, ngập tạm thời 1.880ha, bán ngập 370 ha, vành đai vùng ngập lụt dài khoảng 21 km, Đập đất dài 366 m, cao 36m, đỉnh đập rộng 6m, cao trình đỉnh đập 211, cao trình khu tưới bình quân 160, cống lấy nước (3mx3,5m) bê tông cốt thép dài 113m, cao trình đáy cống 195, lưu lượng nước qua cống bình quân 23,4m3/s, năng lực tưới theo thiết kế 13.500ha, cống thuỷ điện Q= 23,4 m3/s, công suất nhà máy 2.700kwh, Tràn xả lũ 3 cửa cung BxH = 6m x 5m, QMax= 1.267 m3/s, cao trình ngưỡng tràn 199, cột nước cao 9,92m.

        Hệ thống kênh: Kênh chính dài 14,458km, năng lực tải nước 23,4m3/s , kênh chính Nam dài 18,565km, năng lực tải nước14,8m3/s, kênh chính Bắc dài 14,8 km, năng lực tải nước 8,8m3/s, trên 80,7 km kênh cấp 1, 150km kênh cấp 2, hàng trăm km kênh cấp dưới và hàng ngàn công trình trên kênh trải dài và tưới phủ khắp địa bàn ba huyện, thị (Phú Thiện, Ia Pa & thị xã Ayun Pa).

        Vị trí công trình: Nằm trong toạ độ 12o56’59” – 12o57’60” vĩ độ Bắc, 107o27’20”- 107o28’00” kinh độ Đông, lòng hồ và đầu mối công trình thuộc địa giới hành chính 6 xã thuộc 3 huyện Chư Sê, Phú Thiện và Đắc đoa đồng thời là nơi tiếp giáp giữa hai vùng khí hậu Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Lòng hồ Ayunhạ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Đông Trường sơn và bán Tây Trường sơn. 

Nhiệm vụ của công trình: Cấp nước tưới theo thiết kế 13.500ha phục vụ sản xuất nông nghiệp cho nhân dân trong khu tưới của công trình thuộc địa bàn huyện Ia Pa, Phú Thiện và Thị xã Ayun Pa Ayun Pa.

Một số hạn chế của công trình dẫn đến hình thành giải pháp:

        +Do Luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dụng công trình thủy lợi Ayun Hạ không thiết kế hệ thống tiêu riêng (suất đầu tư quá lớn) mà thiết kế tiêu theo kiểu tự tiêu tràn từ ruộng này qua ruộng khác, xuống vùng trũng và cuối cùng đổ ra sông Ayun nên việc tiêu nước mặt của cả hệ thống công trình vẫn còn nhiều hạn chế.

        +Một số diện tích tưới tự chảy nằm trong khu tưới ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình, qua nhiều năm Chính quyền địa phương chuyển sang xây dựng cơ sở hạ tầng làm giảm diện tích tưới.

        +Một số diện tích nằm trong đường tiêu nước qua gần 20 năm dân tự sản xuất làm tăng diện tích lên nhưng thường ngập úng gây thiệt hại về kinh tế rất lớn cho người dân và chính quyền địa phương.

        Năm 2012-2013 HTX Amazơn, xã Amazơn huyện Ia Pa có phối hợp với công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai khảo sát, nghiên cứu giải pháp tiêu nước cho cánh đồng thường xuyên ngập úng có diện tích 30ha. Tuyến khảo sát dài khoảng 2.000m, đi qua bãi sình lầy rất khó thi công cơ giới mà phải thi công bằng thủ công khoảng 300m chiều dài.

        Là công nhân lái máy được giao nhiệm vụ trực tiếp thi công cơ giói tuyến kênh trên, sau nhiều ngày đêm trăn trở và trực tiếp khảo sát lại để tìm ra giải pháp thi công tối ưu thế là giải pháp “Sáng tạo biện pháp thi công cơ giới  kênh tiêu úng cánh đồng của HTX Amazơn, huyện Ia Pa thuộc khu tưới Công trình thủy lợi Ayun Hạ  đạt hiệu quả kinh tế cao” được hình thành, được lập thành phương án thi công chi tiết và được giám đốc công ty cho chuẩn y thực hiện.  

2-Mô tả hiện trạng cánh đồng và đặc điểm của tuyến kênh tiêu ban đầu:

          Bản thân tôi là công nhân lái máy có nhiều năm kinh nghiệm, trong quá trình kiểm tra, khảo sát tuyến kênh tiêu mà UBND xã Ia Mrơn, HTX Amazơn đã cắm tuyến dài 2000m, tôi nhận thấy tuyến kênh đã cắm tuyến trên không hợp lý, nếu thi công thì hiệu quả tiêu sẽ rất thấp (tuyến kênh dài không thể tiêu hết nước và chất đất sình lầy không thể thi công cơ giới ở một số đoạn xung yếu).

          Với kinh nghiệm nghề nghiệp lâu năm và trách nhiệm tiêu úng triệt để cho cánh đồng thôn Đoàn kết đã được công ty giao tôi đã trực tiếp khảo sát lại và tìm ra biện pháp, vị trí cắm tuyến và hướng thi công mới.

          Tuyến mới được cắm có độ dài 1.700m ngắn hơn tuyến cũ 300m, khối lượng phải đào đắp ít hơn tuyến cũ 1.800m3 (18.000m3 x 16.000đ/m3 =288.000.000 đồng, công tác thi công thuận lợi và đảm bảo tiêu hết nước của cánh đồng.

          Tuy nhiên trong suốt quá trình thi công bản thân là công nhân lái máy cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại như: Điều kiện thi công không thuận lợi, máy đào luôn ở trong tình trạng ngập nước, khối lượng đào đắp lớn, một số hộ dân do sợ mất đất canh tác đã có hành động cản trở thi công. Nhưng được sự quan tâm, động viên và giải quyết kịp thời của chính quyền địa phương xã Ia Mrơn và ban quản trị HTX Nông nghiệp, Tôi đã cố gắng khắc phục khó khăn giải thích lợi, hại với người dân, đẩy nhanh tiến độ thi công sớm hoàn thành công trình để bà con có được diện tích hưởng lợi gieo sạ đúng lịch.

* Máy và Nhân lực thi công:

+Máy thi công Máy đào 0,5m3/gầu

+Nhân lực: 1 thợ lái máy + thợ phụ

+Nhân lực đào đắp thủ công: Không dùng

Máy thi công: 

– Số ca máy đào: 15,5 (ca) 300 (m3/ca)

– Di chuyển máy thi công: 0,5 (ca)

– Tổng số ca máy đào là: 16,0 (ca)

Nhiên liệu:                                                                      = 16.362.000đồng

– Dầu Diezen: 16,0ca x 40,50 lít/ca  = 648lítx24.500đ/l = 15.876.000 đồng

– Nhớt phụ: 648lít x 1,5%  = 9,72lít x 50.000đ/l = 486.000 đồng

         Giải pháp “Sáng tạo biện pháp thi công cơ giới  kênh tiêu úng cánh đồng của HTX Amazơn, huyện Ia Pa thuộc khu tưới Công trình thủy lợi Ayun Hạ  đạt hiệu quả kinh tế cao” thể hiện được các tiêu chuẩn kinh tế-kỹ thuật cao và đã trở thành hiện thực đó là: Dễ thi công, thiết bị thi công cơ giới sẵn có, không phải tổ chức thi công đào đắp bằng thủ công, kinh phí thực hiện ít tốn kém, đặc biệt là không phải giải tỏa đền bù để triển khai thi công và không làm ảnh hưởng đến sản xuất của nhân dân trong quá trình thi công.

Hiệu quả của giải pháp:

        +Toàn bộ diện tích khoảng 30ha cánh đồng thôn Đoàn kết (trong đó có khoản 10ha không canh tác được do ngập úng nhiều năm trở lại đây) đã được tiêu úng hoàn toàn và trở lại canh tác lúa nước một năm hai vụ.

        +Việc sáng tạo biện pháp thi công tuyến kênh tiêu của tôi trình bày trên đã làm lợi cho chính quyền và nhân dân địa phương hàng trăm triệu đồng, bản thân tôi đã được chọn làm điển hình tiên tiến của huyện Ia Pa năm 2013, được UBND huyện, UBND xã khen thưởng và đã vinh dự được đài truyền hình Gia Lai đưa tin quảng bá, nhân rộng.

        – Thuyết minh tính mới của giải pháp (sản phẩm):

So với các giải pháp Tiêu úng trước đây thường là tiêu tràn tự do xuống các chân ruộng thấp rồi tràn chuyền ruộng ra suối về sông nên hiệu quả thấp và gây thiệt hại cho các hộ dân sản xuất ổn định khác. Tính mới của giải pháp là mỗi hộ dân hy sinh đi một ít diện tích để cùng nhau thi công kênh tiêu ổn định nhiều năm, sự sinh lợi của kênh tiêu lớn hơn giá trị đất để làm kênh gấp bội, rất đúng với tư tưởng thực hành dân chủ của Đảng và nhà nước: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” kết hợp với quan điểm nhà nước và nhân dân cùng làm nâng lên thành quan điểm thực hành dân chủ mới trong dân, trong đầu tư và xây dựng công trình vì lợi ích của nhân dân đó là:“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân đóng góp, dân hưởng lợi”.

        -Thuyết minh Tính sáng tạo, cạnh tranh của Giải pháp (sản phẩm):

          +Áp dụng tiến bộ kỹ thuật đồ bản, kinh nghiệm thi công nhiều năm tiến hành hảo sát và cắm lại tim tuyến của kênh thi công nhằm đáp ứng các điều kiện tránh sình lầy, độ dốc cao thoát nước nhanh, giảm đền bù thiệt hại, rút ngắn chiều dài tuyến kênh.

          +Sử dụng máy thi công không sử dụng nhân lực thi công đào đắp thủ công nhằm giảm giá thành và rút ngắn thời gian thi công

 -Mô tả Khả năng áp dụng và nhân rộng:

Giải pháp này đã được thực thi và đã được áp dụng vào tiêu úng cho nhiều công trình công ty quản lý và đã thu được hiệu quả cao, được nhiều đơn vị trong tỉnh đến học hỏi kinh nghiệm, được huyện Ia Pa và Tỉnh Gia Lai nhân rộng thành điển hình tiến tiến trong lao động sản xuất năm 2013.

            -Hiệu quả kinh tế- xã hội:

            –Kinh tế: Tổng giá trị làm lợi của giải pháp: 866.480.000 đồng

a/Hiệu quả giảm chi phí thi công: 348.480.000đồng

+Giảm chi phí thi công 300m kênh tương đương 288 triệu đồng

(300m x 6m2 x 16.000đồng/m3 = 288.000.000 đồng)

+Tiết kiệm chi phí thi công bằng máy thay cho thi công thủ công 120m kênh

(120m x 6m2 x 100.000đồng/m3) – (120m x 6m2 x 16.000đồng/m3) = 72triệu – 11.520.000 đồng = 60.480.000 đồng.

b/Hiệu quả tăng lợi nhuận cho người dân sản xuất lúa nước hai vụ và doanh thu thủy lợi phí cho công ty: 518.000.000đồng/năm.

+Doanh thu:30ha x5tấnthóc/ha =150tấn/ha x 5triệu đồng/tấn =750triệu đồng/năm

+Chi phí sản xuất: 10triệu đồng/ha x 30ha = 300 triệu đồng

+Lợi nhuận sản xuất lúa: 750 triệu – 300  triệu = 450 triệu đồng/năm

+Thủy lợi phí công ty được nhà nước trả thay dân tăng: 30ha x 2 x 1,14triệu đồng/ha = 68,4 triệu đồng/năm

Tổng cộng : 450triệu + 68,4 triệu = 518,4triệu đồng/năm.

          -Xã hội: Giải pháp mang lại hiệu quả xã hội to lớn cho tỉnh nhà trong công tác tiêu úng trong khu tưới của 99 công trình thủy lợi hồ chứa trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai. Nếu giải pháp được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh sẽ tăng thêm diện tích sản xuất lúa hai vụ hang 100ha, tạo thêm việc làm cho hàng trăm lao động trong lĩnh vực sản xuất lúa nước hai vụ trong khu tưới các công trình thuỷ lợi hồ chứa.

* NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ KHÁC:

+Thông tin qua báo – đài: Những giải pháp dự thi đoạt giải trong hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Gia Lai đều được báo đài PTTH của tỉnh thông tin rộng rãi và được đua vào kỷ yếu sáng tạo kỹ thuật của tỉnh Gia Lai;

+Nhận xét của tổ chức, cá nhân đã áp dụng sử dụng Sản phẩm: Tất cả đều công nhận sản phẩm có giá trị thực tế và kinh tế cao;

+Hướng phát triển của Sản phẩm: Sản phẩm được áp dụng và nhân rộng trên địa bàn tỉnh Gia Lai;

                                                         Gia Lai, ngày 19  tháng 6  năm 2015        

                                                                                       (Trí thức tự khai)

                                                                 Chức danh, Chữ ký, dấu (nếu có)

                                                                       GIÁM ĐỐC                                           

Hội thao và điều lệ thi đấu từng môn

HĐTĐKT TỈNH GIA LAI

KHỐI TĐ CÔNG NGHIỆP-XD

Số: 01/BTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Gia Lai, ngày 23 tháng 7 năm 2015.

ĐIỀU LỆ

Giải Bóng đá Mini 5 người sân cỏ nhân tạo

A. Mục đích:

- Chào mừng kỷ niệm 70 năm cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9;

- Chào mừng đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX (14/9/2015)

- Phát triển phong trào TDTT của khối thi đua công nghiệp – xây dựng nói chung và môn Bóng đá nói riêng.

- Tạo sân chơi cho người lao động trong các doanh nghiệp thuộc Khối thi đua giao lưu, đoàn kết, rèn luyện sức khỏe để phục vụ tốt cho công tác sản xuất - kinh doanh.

B. Điều lệ kỹ thuật:

I. Tên gọi của giải: “Giải Bóng đá Mini 5 người – Cúp Kỷ niệm Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX”.

II. Đối tượng - Thủ tục đăng ký tham dự giải:

1. Đối tượng:

- Các Doanh nghiệp thuộc Khối thi đua Công nghiệp – Xây dựng được BTC mời tham gia.

- Cầu thủ dự giải là nam giới từ 18 tuổi trở lên.

- Cầu thủ phải là công nhân, viên chức trong biên chế chính thức của doanh nghiệp tham dự giải.

- Có đủ điều kiện về sức khỏe thi đấu Bóng đá, các VĐV tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về sức khỏe của mình khi thi đấu.

2. Thủ tục đăng ký:

- Mỗi Doanh nghiệp dự giải cấp cho Ban tổ chức Danh sách đội bóng (có chứng minh nhân dân và thẻ BHYT của VĐV photo đính kèm), ghi rõ năm sinh có xác nhận của giám đốc công ty. Mỗi đội bóng có nhiều nhất là 10 người trong đó có 1 trưởng đoàn.

- Bản cam kết tham gia giải.

- Thời gian nhận hồ sơ: chậm nhất 16 giờ 00 ngày 10/8/2015 (thứ hai).

- Địa điểm nhận hồ sơ: Văn phòng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai

- Điện thoại: 059.3824227, GĐ: 0913408476, TĐ: 0905190395.

III. Thể thức thi đấu và cách tính điểm:

2.2 Thể thức thi đấu: BTC sẽ mời 6-7 đội bóng (Bốc thăm) chia thành 02 bảng (A&B), thi đấu vòng tròn 1 lượt, chọn 02 đội hạng nhất và nhì của mỗi bảng vào vòng II (chung kết). Trường hợp có dưới 3 đội sẽ không tổ chức thi đấu, nếu chỉ có ba đội tham gia thì đấu vòng tròn 1 lượt.

+Bán kết:

Trận thứ nhất: Nhất A - Gặp nhì B

Trận thứ hai: Nhất B - Gặp nhì A

+Chung Kết

+Trận Tranh ba, tư: Đội thua trận thứ nhất - Gặp đội thua trận thứ hai.

+Trận chung kết: Đội thắng trận thứ nhất - Gặp đội thắng trận thứ hai.

Thắng chung kết: Giải nhất

Thua chung kết: Giải nhì

Thắng trận thứ ba: Giải Ba

Thua trận thứ ba: Giải khuyến khích

2.3 Cánh tính điểm xếp hạng:

- Thắng: 03 điểm, hòa: 01 điểm, thua: 0 điểm.

- Xếp hạng: áp dụng cho thể thức thi đấu vòng tròn :

+ Đội có tổng số điểm cao hơn xếp trên.

+ Nếu có 2 hay nhiều đội bằng điểm nhau thì xét chỉ số phụ giữa các đội đó với nhau theo thứ tự:

* Kết quả trận gặp nhau, Hiệu số tổng bàn thắng và tổng bàn thua, tổng bàn thắng.

* Nếu vẫn bằng nhau thì xét chỉ số phụ chung của các đội trong bảng theo thứ tự: Hiệu số tổng bàn thắng và tổng bàn thua, tổng bàn thắng.

* Nếu vẫn bằng nhau thì bốc thăm.

IV. Thời gian - Địa điểm thi đấu:

Thời gian họp chuyên môn: vào lúc 8h00 ngày 03/9/2015 (thứ năm) tại Văn phòng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai.

- Khai mạc lúc: 07 giờ ngày 04/9/2015 và thi đấu cả ngày 4 tháng 9 năm 2015 (ngày thứ sáu).

Địa điểm thi đấu (Dự kiến): Sân bóng Mini Vạn Phú-63 đường Vạn Kiếp-Phường Thống Nhất-Thành phố Pleiku-Gia Lai

V. Luật thi đấu - Khiếu nại và các quy định khác:

1. Luật thi đấu:

Áp dụng Luật thi đấu Bóng đá 5 người do Ủy ban TDTT Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) ban hành và các quy định trong điều lệ giải.

2. Khiếu nại:

Chỉ có Trưởng đoàn (Người được ghi trong danh sách đăng ký với BTC) mới có quyền khiếu nại bằng văn bản cho Ban Tổ chức khi phát hiện vi phạm Điều lệ giải (nhất là về nhân sự), Ban Tổ chức có trách nhiệm xem xét và xử lý; Các đồng chí Trưởng đoàn của mỗi đơn vị phải chịu trách nhiệm về nhân sự của đoàn mình. Lệ phí khiếu nại 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng). Nếu khiếu nại đúng Ban Tổ chức sẽ gửi trả tiền lại cho đơn vị; nếu khiếu nại không đúng, số tiền lệ phí được đưa vào chi phí tổ chức thi đấu.

Những khiếu nại về chuyên môn do trọng tài giải quyết ngay trong trận đấu, sau 5 phút khi trận đấu kết thúc mọi khiếu nại về kỹ thuật trên sân không còn giá trị, chỉ có đội trưởng trên sân mới có quyền khiếu nại về chuyên môn.

Việc khiếu nại về nhân sự chỉ được giải quyết trước khi trận đầu kết thúc 15 phút; sau khi có kết quả, mọi khiếu nại về nhân sự sẽ không được giải quyết.

3. Các quy định khác:

- Trang phục: Các đội phải có đồng phục và đăng ký màu áo trongbuổi họp chuyên môn, giày vải đế mềm hoặc giày có núm cao su mềm.

- Có sự gian lận, hoặc hành vi vi phạm khác như: cố tình dừng trận đấu quá 5 phút, gian lận về nhân sự sẽ xử thua 0 – 3 nếu thua nhiều hơn thì giữ nguyên tỉ số, tùy theo mức độ vi phạm có thể loại ra khỏi giải.

- Các đội phải có mặt đúng thời gian, nếu đến trể quá 5 phút so với lịch thi đấu xem như bỏ cuộc (trừ trường hợp khách quan có báo với BTC),Đội đi trể hoặc bỏ cuộc bị xử thua 0 - 3.

- BTC không xử lý các tình huống do lỗi nhận định của trọng tài, mọi trường hợp khiếu nại về lỗi nhận định chỉ là cơ sở để BTC xử lý kỷ luật trọng tài, kết quả trận đấu không thay đổi.

- VĐV bị phạt thẻ đỏ hoặc 2 thẻ vàng nghỉ trận đó và trận kế tiếp.

VI. Kinh phí:

- Mỗi Doanh nghiệp có đội bóng tham gia thi đấu, đóng góp tiền cho Ban tổ chức giải theo dự toán chi phí (đính kèm). Các đơn vị có thể tham khảo thêm thông tin về giải trên Website http://congtykhaithacgialai.vn của đơn vị Trưởng Khối, nếu có điều gì thắc mắc thì gửi bằng văn bản về BTC qua địa chỉ Email nguyensongviet3979@gmail.com trước ngày 03/9/2015). Tiền đóng góp Đội trưởng các đội tham gia giải nộp tại Văn phòng đơn vị Khối trưởng: Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai.

- Ban tổ chức chịu trách nhiệm thuê sân, bóng, trọng tài, in cờ lưu niệm, cờ giải thưởng, băng rôn, Lễ đài, tiền thưởng, ăn uống cho toàn bộ cán bộ và VĐV tham dự giải vào buổi chiều sau khi kết thúc giải đấu) toàn bộ chi phí cũng như giải thưởng.

VI. Cơ cấu giải thưởng:

1. Khen thưởng: Ban tổ chức trao cờ lưu niệm cho các đội tham gia giải.

- Vô địch Cúp, cờ và tiền thưởng 2.000.000 đồng .

- Hạng nhì: cờ và tiền thưởng 1.000.000 đồng .

- Hạng ba : cờ và tiền thưởng 600.000.000 đồng .

- Giải khuyến khích: cờ và tiền thưởng 400.000đồng.

- Cờ Lưu niệm các Đội tham gia thi đấu.

* Nếu đơn vị nào bỏ cuộc trong quá trình thi đấu thì phải chịu mọi hình thức xử lý của BTC.

* Trong trường hợp cần thiết, BTC có quyền thay đổi và bổ sung điều lệ.

HĐTĐKT TỈNH GIA LAI

KHỐI TĐ CÔNG NGHIỆP-XD

Số: 02/BTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Gia Lai, ngày 23 tháng 7 năm 2015.

ĐIỀU LỆ

Giải Kéo co

A. Mục đích:

- Chào mừng kỷ niệm 70 năm cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9;

- Chào mừng đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX (14/9/2015)

- Phát triển phong trào TDTT của khối thi đua công nghiệp – xây dựng nói chung và môn Kéo co nói riêng.

- Tạo sân chơi cho người lao động trong các doanh nghiệp thuộc Khối thi đua giao lưu, đoàn kết, rèn luyện sức khỏe để phục vụ tốt cho công tác sản xuất - kinh doanh.

B. Điều lệ kỹ thuật:

I. Tên gọi của giải: “Giải Kéo co – Cúp Kỷ niệm Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX”.

II. Đối tượng - Thủ tục đăng ký tham dự giải:

1. Đối tượng:

- Các Doanh nghiệp thuộc Khối thi đua Công nghiệp – Xây dựng được BTC mời tham gia.

- VĐV dự giải là nam, (nữ) giới từ 18 tuổi trở lên.

- VĐV phải là công nhân, viên chức trong biên chế chính thức của doanh nghiệp tham dự giải.

- Có đủ điều kiện về sức khỏe thi đấu Kéo co, các VĐV tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về sức khỏe của mình khi thi đấu.

2. Thủ tục đăng ký:

- Mỗi Doanh nghiệp dự giải cấp cho Ban tổ chức Danh sách đội kéo co, (có chứng minh nhân dân và thẻ BHYT của VĐV photo đính kèm), ghi rõ năm sinh có xác nhận của Giasm đốc công ty. Đội kéo co gồm có 12 VĐV trong đó có 10 VĐV chính thức (5 nam, 5 nữ) và 2 VĐV dự bị (1 nam. 1 nữ)

- Bảng cam kết tham gia giải.

- Thời gian nhận hồ sơ: chậm nhất 16 giờ 00 ngày 10/8/2015 (thứ hai).

- Địa điểm nhận hồ sơ: Văn phòng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai

- Điện thoại: 059.3824227, GĐ: 0913408476, TĐ: 0905190395.

III. Thể thức thi đấu và cách tính điểm:

- Áp dụng luật thi đấu Kéo co hiện hành

- Mỗi đội thi kéo co gồm 10 VĐV; đơn vị đăng ký 12 VĐV (6 nam. 6 nữ) trong đó 2 VĐV dự bị. Được phép thay VĐV dự bị sau mỗi hiệp thi đấu nhưng trọng lượng của toàn Đội không thay đổi sau khi thay người;

+Tổng trọng lượng của đội (5 nam, 5 nữ) bắt buộc không quá 550 kg/10 người (nữ bình quân 48kg/người, Nam bình quân 62kg/người), sai số trọng lượng cho phép là ±10kg, trang phục của đội phải đồng nhất, không có đồng phục không được thi đấu.

+Vận động viên tham gia, bắt buộc phải mang giày thể thao và trang phục thể thao, có thể đeo găng tay (tránh chấn thương). Không mang giày thì không được thi đấu.

* Đội khi thi đấu phải trình bảng đăng ký danh sách VĐV cho BTC.

* Dây kéo (do BTC mua hoặc thuê) không có buộc nút hay những điểm mấu khác mà tay người kéo có thể cầm được. Đoạn cuối của dây có một nút buộc.

* Mỗi trận đấu 03 hiệp (một hiệp đổi sân một lần), giữa các hiệp có thể thay đổi VĐV dự bị theo danh sách đăng ký.

* Vòng loại: Bốc thăm chọn các cặp đấu loại trực tiếp, chọn ra 4 đội tham gia bán kết.

* Vòng bán kết: đấu loại trực tiếp, chọn ra hai đội thắng, thua.

* Vòng chung kết: Các đội thua ở bán kết sẽ đấu với nhau để tranh hạng ba, khuyến khích và hai đội thắng ở bán kết sẽ thi đấu với nhau để tranh hạng nhất, nhì.

* Những vi phạm luật kéo co cần lưu ý: Ngồi khi kéo; chạm đất bất kỳ một phần cơ thể trừ chân, dùng tay khoá dây (vòng dây vào tay), người trước ngồi lên đùi, chân người sau, người huấn luyện chỉ đạo, nhắc nhở với VĐV của đơn vị mình trong khi thi đấu.

IV. Thời gian - Địa điểm thi đấu:

Thời gian họp chuyên môn: vào lúc 8h00 ngày 03/9/2015 (thứ năm) tại Văn phòng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai.

- Khai mạc lúc: 07 giờ ngày 04/9/2015 và thi đấu cả ngày 4 tháng 9 năm 2015 (ngày thứ bảy).

Địa điểm thi đấu (Dự kiến): Sân bóng Mini Vạn Phú-63 đường Vạn Kiếp-Phường Thống Nhất-Thành phố Pleiku-Gia Lai

V. Luật thi đấu - Khiếu nại và các quy định khác:

1. Luật thi đấu:

Áp dụng luật thi đấu Kéo co qhiện hành do Ủy ban TDTT Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) ban hành và các quy định trong điều lệ giải.

2. Khiếu nại:

Chỉ có Trưởng đoàn (Người được ghi trong danh sách đăng ký với BTC) mới có quyền khiếu nại bằng văn bản cho Ban Tổ chức khi phát hiện vi phạm Điều lệ giải (nhất là về nhân sự và trọng lượng), Ban Tổ chức có trách nhiệm xem xét và xử lý; Các đồng chí Trưởng đoàn của mỗi đơn vị phải chịu trách nhiệm về nhân sự của đoàn mình. Lệ phí khiếu nại 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng). Nếu khiếu nại đúng Ban Tổ chức sẽ gửi trả tiền lại cho đơn vị; nếu khiếu nại không đúng, số tiền lệ phí được đưa vào chi phí tổ chức thi đấu.

Những khiếu nại về chuyên môn do trọng tài giải quyết ngay trong trận đấu, sau 5 phút khi trận đấu kết thúc mọi khiếu nại về kỹ thuật trên sân không còn giá trị, chỉ có đội trưởng trên sân mới có quyền khiếu nại về chuyên môn.

Việc khiếu nại về nhân sự, trọng lượng chỉ được giải quyết trước khi trận đầu kết thúc 15 phút; sau khi có kết quả, mọi khiếu nại về nhân sự sẽ không được giải quyết.

3. Các quy định khác:

- Trang phục: Các đội phải có đồng phục và đăng ký màu áo trongbuổi họp chuyên môn, VĐV mang giày vải, găng tay đảm bảo an toàn trong thi đấu.

- Có sự gian lận, hoặc hành vi vi phạm khác như: cố tình dừng trận đấu quá 5 phút, gian lận về nhân sự sẽ xử thua 0 – 3 nếu thua nhiều hơn thì giữ nguyên tỉ số, tùy theo mức độ vi phạm có thể loại ra khỏi giải.

- Các đội phải có mặt đúng thời gian, nếu đến trể quá 5 phút so với lịch thi đấu xem như bỏ cuộc (trừ trường hợp khách quan có báo với BTC),Đội đi trể hoặc bỏ cuộc bị xử thua 0 - 3.

- BTC không xử lý các tình huống do lỗi nhận định của trọng tài, mọi trường hợp khiếu nại về lỗi nhận định chỉ là cơ sở để BTC xử lý kỷ luật trọng tài, kết quả trận đấu không thay đổi.

VI. Kinh phí:

- Mỗi Doanh nghiệp có đội Kéo co tham gia thi đấu, đóng góp tiền cho Ban tổ chức giải theo dự toán chi phí (đính kèm). Các đơn vị có thể tham khảo thêm thông tin về giải trên Website http://congtykhaithacgialai.vn của đơn vị Trưởng Khối, nếu có điều gì thắc mắc thì gửi bằng văn bản về BTC qua địa chỉ Email nguyensongviet3979@gmail.com trước ngày 04/9/2015). Tiền tài trợ Đội trưởng các đội tham gia giải nộp tại Văn phòng đơn vị Khối trưởng: Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai.

- Ban tổ chức chịu trách nhiệm thuê sân, trọng tài, in cờ lưu niệm, cờ giải thưởng, băng rôn, Lễ đài, tiền thưởng, ăn uống cho toàn bộ cán bộ và VĐV tham dự giải vào buổi chiều sau khi kết thúc giải đấu) toàn bộ chi phí cũng như giải thưởng.

VI. Cơ cấu giải thưởng:

1. Khen thưởng: Ban tổ chức trao cờ lưu niệm cho các đội tham gia giải.

- Vô địch Cúp, cờ và tiền thưởng 1.000.000 đồng .

- Hạng nhì: cờ và tiền thưởng 600.000 đồng .

- Hạng ba : cờ và tiền thưởng 400.000.000 đồng .

- Giải khuyến khích: cờ và tiền thưởng 200.000đồng.

- Cờ Lưu niệm các Đội tham gia thi đấu.

* Nếu đơn vị nào bỏ cuộc trong quá trình thi đấu thì phải chịu mọi hình thức xử lý của BTC.

* Trong trường hợp cần thiết, BTC có quyền thay đổi và bổ sung điều lệ.

HĐTĐKT TỈNH GIA LAI

KHỐI TĐ CÔNG NGHIỆP-XD

Số: 01/BTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Gia Lai, ngày 23 tháng 7 năm 2015.

ĐIỀU LỆ GIẢITHI ĐẤU BÓNG BÀN

CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI THI ĐUA YÊU NƯỚC TỈNH GIA LAI LẦN THỨ IX

A. Mục đích:

- Chào mừng kỷ niệm 70 năm cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9;

- Chào mừng đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX (14/9/2015)

- Phát triển phong trào TDTT của khối thi đua công nghiệp – xây dựng nói chung và môn Bóng bàn nói riêng.

- Tạo sân chơi cho người lao động trong các doanh nghiệp thuộc Khối thi đua giao lưu, đoàn kết, rèn luyện sức khỏe để phục vụ tốt cho công tác sản xuất - kinh doanh.

B. Điều lệ kỹ thuật:

I. Tên gọi của giải: “Giải Bóng bàn – Cúp Kỷ niệm Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX”.

II. Đối tượng - Thủ tục đăng ký tham dự giải:

1. Đối tượng:

- Các Doanh nghiệp thuộc Khối thi đua Công nghiệp – Xây dựng được BTC mời tham gia.

- VĐV phải là viên chức quản lý trong biên chế chính thức của doanh nghiệp tham dự giải (giám đốc, phó giám đốc, kiểm soát viên, kế toán trưởng). Mỗi đơn vị tối đa 2 VĐV;

- Có đủ điều kiện về sức khỏe thi đấu Bóng bàn, các VĐV tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về sức khỏe của mình khi thi đấu.

2. Thủ tục đăng ký:

- Mỗi Doanh nghiệp dự giải cấp cho Ban tổ chức Danh sách VĐV (có chứng minh nhân dân và thẻ BHYT của VĐV photo đính kèm), ghi rõ năm sinh có xác nhận của giám đốc công ty. Mỗi Doanh nghiệp có nhiều nhất là 2 VĐV.

- Bảng cam kết tham gia giải.

- Thời gian nhận hồ sơ: chậm nhất 16 giờ 00 ngày 10/8/2015 (thứ hai).

- Địa điểm nhận hồ sơ: Văn phòng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai

- Điện thoại: 059.3824227, GĐ: 0913408476, TĐ: 0905190395.

IV. NỘI DUNG VÀ THỂ THỨC THI ĐẤU

1. Nội dung thi đấu

Giải bóng bàn tổ chức 1 nội dung thi đấu, cụ thể là đơn nam. Ban Tổ chức sẽ không tổ chức thi đấu nếu có ít hơn 3 đội đăng ký thi đấu.

2. Thể thức thi đấu (áp dụng đối với nội dung thi đấu đơn nam)

- Áp dụng Luật thi đấu bóng bàn do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành (Các quy định cụ thể ở mục 3 - Một số quy định cụ thể về luật thi đấu được ưu tiên áp dụng).

- Bóng thi đấu là bóng màu trắng hoặc cam. (Vợt và bóng các vận động viên tự chuẩn bị và mang theo để thi đấu)

- Các đội sẽ được bốc thăm chia bảng để thi đấu. Các trận đấu ở vòng bảng thi đấu vòng tròn tính điểm. Các đội nhất và nhì ở các bảng đấu được lựa chọn để vào đấu loại trực tiếp theo nguyên tắc nhất bảng này gặp nhì bảng kia. Các đội thắng ở các vòng đấu loại trực tiếp sẽ thi đấu cho đến trận cuối cùng để giành giải nhất; hai đội thua ở các trận bán kết sẽ tranh giải 3 và khuyến khích.

- Khi thi đấu, các vận động viên phải tuân thủ quyết định của Trọng tài điều khiển trận đấu. Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Trọng tài thì vận động viên có thể khiếu nại lên Ban Tổ chức giải. Quyết định của Ban Tổ chức là quyết định cuối cùng.

3. Một số quy định cụ thể về luật thi đấu

- Tất cả các trận đấu tổ chức đánh 5 ván, đội nào thắng trước 3 ván sẽ thắng chung cuộc trận đấu. (Nếu VĐV đông thì tổ chức đánh 3 ván thay cho 5 ván)

- Một đội được tính là thắng một ván khi được 11 điểm với cách biệt ít nhất 2 điểm.

- Khi bắt đầu trận đấu, các đội bốc thăm để chọn quyền ưu tiên giao bóng hoặc chọn bên bàn đứng.

- Đội thắng được tính 3 điểm. Đội thua được tính 0 điểm. Trong trường hợp có hai hoặc nhiều đấu thủ trong một bảng bằng điểm nhau thì xem xét theo thứ tự ưu tiên sau: đối kháng, tỷ số các ván, điểm số từng ván.

- Trong trường hợp trận đấu phải đánh đến ván thứ năm thì khi điểm số của một trong hai đấu thủ đến 5 điểm, hai đội sẽ đổi bên và đánh tiếp từ điểm số đó cho đến hết ván đấu.

V. TRỌNG TÀI

Trọng tài điều khiển các trận đấu do Ban Tổ chức thuê hoặc chỉ định.

Mỗi trận thi đấu có 1 trọng tài chính và 1 trọng tài biên. Trong trường hợp trọng tài biên và trọng tài chính có ý kiến khác nhau thì tuân theo quyết định của trọng tài chính.

VI. Thời gian - Địa điểm thi đấu:

Thời gian họp chuyên môn: vào lúc 8h00 ngày 03/9/2015 (thứ sáu) tại Văn phòng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai.

- Khai mạc lúc: 07 giờ ngày 04/9/2015 và thi đấu cả ngày 4 tháng 9 năm 2015 (ngày thứ bảy).

Địa điểm thi đấu (Dự kiến): Sân bóng Mini và cơ sở thể thao Vạn Phú-63 đường Vạn Kiếp-Phường Thống Nhất-Thành phố Pleiku-Gia Lai

V. Luật thi đấu - Khiếu nại và các quy định khác:

1. Luật thi đấu:

Áp dụng luật thi đấu Bóng bàn hiện hành do Ủy ban TDTT Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) ban hành và các quy định trong điều lệ giải.

2. Khiếu nại:

Chỉ có Trưởng đoàn (Người được ghi trong danh sách đăng ký với BTC) mới có quyền khiếu nại bằng văn bản cho Ban Tổ chức khi phát hiện vi phạm Điều lệ giải (nhất là về nhân sự), Ban Tổ chức có trách nhiệm xem xét và xử lý; Các đồng chí Trưởng đoàn của mỗi đơn vị phải chịu trách nhiệm về nhân sự của đoàn mình. Lệ phí khiếu nại 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng). Nếu khiếu nại đúng Ban Tổ chức sẽ gửi trả tiền lại cho đơn vị; nếu khiếu nại không đúng, số tiền lệ phí được đưa vào chi phí tổ chức thi đấu.

Những khiếu nại về chuyên môn do trọng tài giải quyết ngay trong trận đấu, sau 5 phút khi trận đấu kết thúc mọi khiếu nại về kỹ thuật trên sân không còn giá trị, chỉ có đội trưởng trên sân mới có quyền khiếu nại về chuyên môn.

Việc khiếu nại về nhân sự chỉ được giải quyết trước khi trận đầu kết thúc 15 phút; sau khi có kết quả, mọi khiếu nại về nhân sự sẽ không được giải quyết.

3. Các quy định khác:

- Trang phục: Các đội phải có đồng phục và đăng ký màu áo trongbuổi họp chuyên môn, VĐV mang giày vải đảm bảo an toàn trong thi đấu.

- Có sự gian lận, hoặc hành vi vi phạm khác như: cố tình dừng trận đấu quá 5 phút, gian lận về nhân sự sẽ xử thua 0 – 3 nếu thua nhiều hơn thì giữ nguyên tỉ số, tùy theo mức độ vi phạm có thể loại ra khỏi giải.

- Các đội phải có mặt đúng thời gian, nếu đến trể quá 5 phút so với lịch thi đấu xem như bỏ cuộc (trừ trường hợp khách quan có báo với BTC),Đội đi trể hoặc bỏ cuộc bị xử thua 0 - 3.

- BTC không xử lý các tình huống do lỗi nhận định của trọng tài, mọi trường hợp khiếu nại về lỗi nhận định chỉ là cơ sở để BTC xử lý kỷ luật trọng tài, kết quả trận đấu không thay đổi.

VI. Kinh phí:

- Mỗi Doanh nghiệp có đội bóng bàn tham gia thi đấu, đóng góp tiền cho Ban tổ chức giải theo dự toán chi phí (đính kèm). Các đơn vị có thể tham khảo thêm thông tin về giải trên Website http://congtykhaithacgialai.vn của đơn vị Trưởng Khối, nếu có điều gì thắc mắc thì gửi bằng văn bản về BTC qua địa chỉ Email nguyensongviet3979@gmail.com trước ngày 04/9/2015). Tiền tài trợ Đội trưởng các đội tham gia giải nộp tại Văn phòng đơn vị Khối trưởng: Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai Số 97A-Phạm Văn Đồng-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lai.

- Ban tổ chức chịu trách nhiệm thuê bàn, lưới, trọng tài, in cờ lưu niệm, cờ giải thưởng, băng rôn, Lễ đài, tiền thưởng, ăn uống cho toàn bộ cán bộ và VĐV tham dự giải vào buổi chiều sau khi kết thúc giải đấu) toàn bộ chi phí cũng như giải thưởng. Ăn sáng, trưa các đội VĐV tự túc;

VI. Cơ cấu giải thưởng:

1. Khen thưởng: Ban tổ chức trao cờ lưu niệm cho các đội tham gia giải.

- Vô địch Cúp, cờ và tiền thưởng 1.000.000 đồng .

- Hạng nhì: cờ và tiền thưởng 600.000 đồng .

- Hạng ba : cờ và tiền thưởng 400.000.000 đồng .

- Giải khuyến khích: cờ và tiền thưởng 200.000đồng.

- Cờ Lưu niệm các Đội tham gia thi đấu.

* Nếu đơn vị nào bỏ cuộc trong quá trình thi đấu thì phải chịu mọi hình thức xử lý của BTC.

* Trong trường hợp cần thiết, BTC có quyền thay đổi và bổ sung điều lệ.

VII. NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN

1. Nghĩa vụ

- Có mặt đúng giờ tại địa điểm thi đấu theo thông báo của Ban Tổ chức. Vận động viên nào đến trễ quá 10 phút kể từ khi Trọng tài thông báo trận đấu mà không thông báo trước với Ban Tổ chức thì xem như bỏ cuộc.

- Trung thực trong việc đăng ký thông tin với Ban Tổ chức giải.

- Tuân thủ Điều lệ Giải, luật thi đấu, các quyết định của Trọng tài và của Ban Tổ chức.

- Vận động viên tự chuẩn bị dụng cụ để thi đấu và mặc trang phục thể thao phù hợp với nội dung đã đăng ký tham gia.

- Có thái độ giao tiếp hoà nhã, giữ gìn vệ sinh chung, tuân thủ sự hướng dẫn của các thành viên Ban Tổ chức giải.

2. Quyền lợi

- Được tham dự các trận đấu theo thể thức thi đấu của Giải.

- Được nhận tiền, cờ thưởng của Ban Tổ chức.

VIII. XỬ LÝ VI PHẠM

- Ban Tổ chức không chấp nhận việc thay đổi vận động viên của các cặp đấu đã đăng ký.

- Nếu trong một trận đấu có một VĐV đấu bỏ cuộc giữa chừng thì VĐV đấu còn lại sẽ được xử thắng với tỷ số 3-0.

- Ban Tổ chức có toàn quyền quyết định dừng ngay trận đấu nếu phát hiện vận động viên nào vi phạm Điều lệ Giải hoặc không tuân thủ quyết định của Trọng tài. Đội có vận động viên vi phạm sẽ bị xử thua trận với tỷ số 0-3.

- Khi vận động viên vi phạm Điều lệ Giải thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quyết định của Ban Tổ chức.

- Vận động viên nào có hành vi phi thể thao như nói tục, chửi thề,… hoặc có những hành vi không tôn trọng quyết định của Trọng tài hoặc của Ban Tổ chức sẽ bị truất quyền thi đấu.

- Nếu phát hiện vận động viên gian dối từ lúc đăng ký và trong suốt quá trình tham gia thi đấu, Ban Tổ chức sẽ có thông báo về cơ quan nơi vận động viên công tác. Việc đó cũng đồng nghĩa với việc xem xét quá trình thi đua của đơn vị đã cử cán bộ tham gia thi đấu.

DỰ TOÁN KINH PHÍ TỔ CHỨC GIẢI THỂ THAO CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI THI ĐUA YÊU NƯỚC TỈNH GIA LAI LẦN THỨ IX -2015

TT

Nội dung chi phí

Đơn vị tính

Số lượng

Đơn giá

Thành tiền

Ghi chú

I

Chi phí thuê, mua

7.600.000

1

Thuê sân, bàn, bãi

đồng

2.200.000

2

Thuê dây kéo co, bóng

đồng

770.000

3

Thuê trọng tài

đồng

2.500.000

4

Mua Bóng bàn

quả

10

10.000

100.000

3

Cờ Lưu niệm

cái

7

77.000

539.000

giá bao gồm

4

Cờ giải nhất

cái

3

93.500

280.500

cả hóa đơn

5

Cờ giải nhì

cái

3

93.500

280.500

6

Cờ giải ba

cái

3

93.500

280.500

7

Cờ giải khuyến khích

cái

3

93.500

280.500

14

Thuốc, dụng cụ y tế sơ cứu

405.000

II

Tiền thưởng

8.400.000

1

Bóng đá mini 5 người

đồng

4.000.000

Giải nhất bóng đá

đồng

2.000.000

Giải nhì bóng đá

đồng

1.000.000

Giải ba bóng đá

đồng

600.000

Giải KK bóng đá

đồng

400.000

2

Bóng bàn

đồng

2.200.000

Giải nhất bóng bàn

đồng

1.000.000

Giải nhì bóng bàn

đồng

600.000

Giải ba bóng bàn

đồng

400.000

Giải KK bóng bàn

đồng

200.000

3

Kéo co

đồng

2.200.000

Giải nhất Kéo co

đồng

1.000.000

Giải nhì Kéo co

đồng

600.000

Giải ba Kéo co

đồng

400.000

Giải KK Kéo co

đồng

200.000

Cộng

16.000.000

IV

Chi phí ăn uống

(Các đơn vị nộp 300.000đồng/VĐV căn cứ danh sách đăng ký)

BTC dự kiến mỗi đơn vị dự giải nộp cho ban tổ chức 3.000.000 đồng và tiền ăn liên hoan buổi chiều (300.000đồng/xuất ăn, uống)

BAN TỔ CHỨC

HỘI ĐỒNG TĐ-KT TỈNH GIA LAI

KHỐI THI ĐUA CÔNG NGHIỆP- XD

Số /KTĐ-CN-XD

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Gia Lai, ngày 22 tháng 7 năm 2015

“V/v Tổ chức giải Bóng đá

Mini, kéo co, bóng bàn chào

mừng Đại hội TĐ yêu nước

tỉnh Gia Lai lần thứ IX-2015”

Kính gửi: -Ban thi đua khen thưởng tỉnh Gia Lai

-Các đơn vị thuộc Khối thi đua Công nghiệp – xây dựng

-Căn cứ Quy chế hoạt động thi đua khen thưởng của Khối công nghiệp-Xây dựng;

-Thực hiện kết luận cuộc họp của Trưởng khối (họp buổi chiều ngày 8/7/2015) về tổ chức Hội thao (giải bóng đá mini 5 người, kéo co và bóng bàn đơn Nam) chào mừng Đại hội thi đua yêu nướ tỉnh Gia Lai lần thứ IX;

Khối thi đua Công nghiệp – Xây dựng lập kế hoạch tổ chức giải, điều lệ thi đấu từng môn, dự kiến kinh phí tổ chức giải và dự toán tiền đóng góp của các đơn vị, cụ thể như sau:

1. Kế hoạch tổ chức giải:

-Tên gọi của giải: “Giải Bóng đá mini, Bóng bàn, Kéo co – Cúp Kỷ niệm Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Gia Lai lần thứ IX”.

-BTC giải: Gồm có 5 người (đơn vị khối trưởng cử 3 người, đơn vị khối phó 2 người)

Đơn vị khối phó chịu trách nhiệm về bốc thăm chia bảng đấu, nhận và trả lời khiếu nại (nếu có); chỉ đạo tổ trọng tài điều khiển các trận đấu. Phần việc còn lại của BTC đơn vị khối trưởng chịu trách nhiệm;

-Đăng ký tham dự giải: Mỗi đơn vị thuộc Khối nộp về BTC (Đơn vị Khối trưởng) bản đăng ký tham dự giải, kèm theo danh sách VĐV, trưởng đoàn căn cứ theo yêu cầu của điều lệ thi đấu từng môn đính kèm; thời gian nộp từ 27/7 đến 05/8/2015.

-Thời gian: 1 ngày (04/9/2015) Buổi sáng đấu vòng loại, buổi chiều chung kết

-Địa điểm:

+Tổ chức thi đấu tại sân Vạn Phú-63 đường Vạn Kiếp, phường Thống nhất, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (Đây là dự kiến, có thể sẽ có thay đổi, nếu có BTC sẽ thông báo trước 1 tuần)

+Tổ chức họp chuyên môn (trước ngày thi đấu 1 ngày) tại Phòng họp tầng 2, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai (Địa chỉ: 97A-Phạm Văn Đồng-tp Pleiku-Gia Lai)

2. Điều lệ thi đấu từng môn (Đính kèm)

3. Dự toán kinh phí tổ chức giải (Đính kèm)

4. Kinh phí

+Kinh phí tổ chức giải mỗi đơn vị nộp 3 triệu đồng cùng lúc với nộp đăng ký tham dự giải (nộp BTC-Đơn vị Khối trưởng).

+Kinh phí tổ chức ăn uống buổi chiều khi kết thúc giải các đơn vị nộp vào buổi họp chuyên môn trước ngày thi đấu 1 ngày (nộp BTC-Đơn vị Khối trưởng).

Kính mong Quý Ban Thi đua khen thưởng tỉnh thu xếp thời gian tới dự và chỉ đạo hội thao;

Các đơn vị trong khối thực hiện nghiêm túc sau khi nhận được công văn này

TM.KHỐI THI ĐUA

CÔNG NGHIỆP – XÂY DỰNG

ĐƠN VỊ TRƯỞNG KHỐI

Nơi nhận:

-Như trên

-BCH Công đoàn

-Các Phó giám đốc (tham dự)

-Lưu VT-TĐ

NHỮNG MỐC SON TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN


NHỮNG MỐC SON TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
                                                                             Trương Vân
                                                         (Chủ tịch- kiêm Giám đốc Công ty)
Được thành lập năm 1983; Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai sau nhiều lần thay đổi tên gọi vẫn kiên cường bám trụ trên vùng đất khát Tây Nguyên. Mốc son của Công ty là đưa dòng nước về tưới cho vựa lúa lớn nhất Tây Nguyên-Cánh đồng Ayun Hạ, cùng những vườn cà phê, hồ tiêu bạt ngàn của vùng đất đỏ Bazan. Những công trình thủy lợi Công ty quản lý không chỉ tạo ra những mùa vàng bội thu năng suất, sản lượng mà còn đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà. Trải qua 31 năm cùng những thăng trầm, Công ty TNHH một thành viên Khai thác Công trình thủy lợi Gia Lai đã trở thành địa chỉ tin cậy của nông dân nói chung và người dùng nước thủy lợi nói riêng.
* Mốc son trên những công trình.
Tiền thân là Công ty Thủy nông Gia Lai- Kon Tum, đứng chân trên địa bàn rộng lớn. Ngày mới thành lập, Công ty quản lí và khai thác 22 công trình thủy lợi nằm rải rác trên địa bàn Gia Lai và Kon Tum. Lúc này, Công ty chỉ có 35 người, nhưng gánh vác trọng trách “dẫn nguồn nước tưới cho các loại cây trồng đang khô khát nước”; trong khi năng lực tưới của các công trình chưa phát huy hết hiệu quả như mong đợi. Để phục hồi các công trình tưới tiêu kịp thời cho nông dân, nhiều cán bộ, công nhân thủy nông phải lặn lội đi bộ hàng chục km, bám trụ các công trình để khai thác nguồn nước tưới hiệu quả. Bên cạnh đó, Công ty tập trung nguồn lực ưu tiên tu sửa, nâng cấp, nâng cao năng lực tưới cho từng công trình. Nhờ sự nỗ lực và đồng cam cộng khổ của tập thể cán bộ, công nhân viên, vùng tưới của Công ty dần đi vào ổn định, diện tích tưới mỗi công trình ngày được mở rộng.
           Những năm 1985 đến 1987 được xem là giai đoạn Công ty gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Bởi đây là thời điểm giao thời giữa cơ chế bao cấp và đổi mới, lại phải bàn giao 21 công trình thủy lợi cho các huyện, thị xã quản lí chỉ còn lại duy nhất công trình hồ chứa thủy lợi Biển Hồ. Tuy nhiên, do công tác hoàn thiện thủy nông sau bàn giao triển khai chậm nên hồ chứa và hệ thống kênh mương chưa đáp ứng đủ nhu cầu cần tưới, chỉ đáp ứng tưới được 300 ha cà phê. Thực tế khó khăn đặt ra câu hỏi “làm sao để vực dậy và phát huy được hiệu quả của công trình”. Sau thời gian trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu tìm giải pháp tưới tiêu mới cho cây trồng hiệu đạt quả cao nhất; tập thể lãnh đạo Công ty chọn giải pháp thường xuyên vận động các nông- lâm trường trong khu tưới của công trình chủ động xây dựng hệ thống kênh mương nội đồng, áp dụng giải pháp sáng tạo kỹ thuật “tưới tự chảy cho cây cà phê”. Với giải pháp tưới mới của công ty là tưới tràn, lướt nhanh chưa đầy 6 giờ đồng hồ đã tưới được 1 ha cà phê. Nhờ đó, năng suất cà phê vùng tưới Ia Sao thuộc hệ thống thủy lợi Biển Hồ không chỉ đạt 3.600kg nhân/ha mà diện tích tưới cũng tăng từ 300 ha lên 1.500 ha (gấp 5 lần so với trước khi áp dụng giải pháp tưới mới). Nhờ phương pháp tưới mới, doanh thu thủy lợi phí đã tăng gấp 10 lần so với những năm trước đồng thời ghi dấu son mới về giải pháp kỹ thuật tưới cho cây cà phê.
          Năm 1991, tỉnh Gia Lai-Kon Tum được chia tách thành 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum thì đến năm 1993 Công ty thành lập lại và tiếp nhận lại và tiếp nhận thêm các hồ, đập thủy lợi từ nhiều địa phương trong tỉnh như: Chư Prông, Chư Sê, Chư Pah, Ia Grai, Ayun Pa… Khó khăn lớn nhất trong thời gian này là nhiều công trình lớn như Ia Glai, Ia H’rung, Hoàng Ân… đã xuống cấp chỉ tưới từ 10-30 ha cây trồng các loại. Để phục hồi năng lực tưới của từng công trình, ưu tiên lớn nhất trong thời điểm này là “chống xuống cấp các công trình-tập trung mở rộng diện tích tưới” đã trở thành khẩu hiệu hành động của Công ty. Cụ thể hóa mục tiêu trên, hàng năm, Công ty sử dụng 50% doanh thu trích lại từ nguồn thu thủy lợi phí tập trung đầu tư sửa chữa công trình. Chỉ trong thời gian ngắn, năng lực tưới của các công trình được phục hồi trở lại, hiệu quả tưới tăng gấp 15 lần so với lúc mới tiếp nhận. Cá biệt, diện tích tưới của nhiều công trình đạt trên 70% so với thiết kế.
 Năm 1996 Công ty lại phải chuyển đổi tên gọi từ Thủy nông sang Công ty Quản lí khai thác Công trình thủy lợi Gia Lai hoạt động theo mô hình “hoạt động công ích” theo tinh thần Nghị định 56/CP. Nhiệm vụ được giao là “vận hành hệ thống tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước dân sinh và các ngành kinh tế khác, làm chủ đầu tư sửa chữa nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi do Công ty quản lí”. Công ty tiếp nhận sát nhập Xí nghiệp thủy nông Ayun Pa vào công ty cùng với 14 công trình lớn, nhỏ khác trải dài ở 10 huyện, thị xã, thành phố phục vụ tưới cho 19.361ha, trong đó đảm bảo tưới tự chảy cho 16.000ha cây trồng các loại.
          Dấu son đậm nét trong hoạt động của Công ty trong thời điểm này không chỉ giải được cơn khát cho các loại cây trồng chủ lực của tỉnh như cà phê, hồ tiêu; đặc biệt là vận hành công trình thủy lợi Ayun Hạ phục vụ tưới cho cánh đồng lúa nước 13.500ha, năng suất, sản lượng ổn định vào loại bậc nhất Tây Nguyên…mà còn cung cấp nguồn nước phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần Mía đường- Nhiệt điện Gia Lai; nhà máy nước Ayun Pa; nhà máy chế biến mủ cao su Chư Sê; Công ty Điện Gia Lai… Nhờ đó đã góp phần mang lại sự ấm no cho người dân từ nguồn nước của hệ thống các công trình thủy lợi công ty quản lý.
          * Sáng tạo để phát triển.
Hiện tại, đơn vị đang quản lí và khai thác 36 công trình thủy lợi lớn và vừa. Tổng năng lực tưới thiết kế là 30.586 ha, trong đó tưới ổn định trên 27.000 ha lúa nước, hoa màu, cây công nghiệp và ao nuôi trồng thủy sản… Các công trình mang về nguồn thu thủy lợi phí khoảng 9 tỷ đồng/năm. Từ năm 2009 đến nay với chính sách thủy lợi phí nhà nước trả thay dân, mỗi năm giá trị thủy lợi phí và tiền nước của công ty đạt từ 18-34 tỷ đồng/năm, đủ bù đắp cho chi phí hoạt động và sửa chữa công trình của Công ty.
 Sau nhiều lần thay đổi tên gọi, tái thành lập và chuyển đổi sở hữu sang loại hình công ty TNHH Một thành viên 100% vốn nhà nước, bên cạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ tưới cho các loại cây trồng, đến nay Công ty đã mở rộng thêm một số ngành nghề kinh doanh mới như sản xuất kinh doanh điện, khuyến ngư, nuôi trồng, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh… Các lĩnh vực động kinh doanh mới của công ty đã phát huy hiệu quả kinh tế rõ rệt. Đặc biệt, khoảng 10 năm gần đây, nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của giám đốc công ty và các cộng sự áp dụng vào thực tiễn đã làm lợi cho Công ty hàng tỷ đồng. Điển hình là các giải pháp: “T chc khai thác các tim năng đa mc tiêu t h cha thu li Ayun H đạt hiu qu kinh tế cao” làm lợi 1.2 tỷ đồng; “Sáng tạo biện pháp bổ sung nước tưới cho công trình Ia Hrung và cải tiến kỹ thuật trong Dự án đầu tư xấy dựng công trình sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Biển Hồ” làm lợi gần 15,3 tỷ đồng, đồng thời chống được hạn cho 200 ha cây trồng khác, tưới thêm 100 ha cà phê; “Cải tiến ngưỡng tràn xả lũ, tăng dung tích hiệu dụng hồ chứa nước Hoàng Ân phục vụ chống hạn cuối vụ và mở rộng diện tích tưới”, gía trị làm lợi 4,5 tỷ đồng. “Sáng tạo biện pháp chống thấm cống đầu mối công trình thuỷ lợi Ayun Hạ” làm lợi 0,5 tỷ đồng.
Cùng với hoạt động tưới phục vụ sản xuất Nông nghiệp và kinh doanh Công ty không ngừng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp cho đội ngũ cán bộ công nhân viên. Mỗi thành viên trong công ty đều tự giác tham gia hoạt động an sinh-xã hội, các hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng, đặc biệt là hoạt động tưới tiết kiệm nước góp phần ngăn chặn biến đổi khí hậu toàn cầu, khu vực và tỉnh mang lại niềm tin cho người dùng nước và nhân dân.

          31 năm thành lập, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, cán bộ công nhân viên Công ty vẫn đứng vững, Công ty đã có những bước đi vững chắc. Nguồn nước mát lành không ngơi nghỉ hàng ngày theo hệ thống kênh mương về với ruộng đồng của người dân làm cho Tây nguyên ngày càng xanh tươi đã khẳng định việc làm hiệu quả, thiết thực của Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi Gia Lai từ ngày thành lập đến nay. T.V

BOX: 31 năm thành lập, xây dựng và phát triển, Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng:
- Huân chương lao động: hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.
- 1 cờ thi đua và 2 bằng khen của Chính phủ
-Nhiều bằng khen của UBND tỉnh Gia Lai và Bộ Nông nghiệp và PTNT.
- Thương hiệu “Thủy lợi Gia Lai” của Công ty nằm trong top 500 thương hiệu hàng đầu Việt Nam năm 2008. Chứng nhận “ Doanh nghiệp văn hóa UNESCO Việt Nam” năm 2009. Cúp “ Tam nông” vì sự phát triển Nông nghiệp- nông dân- nông thôn Việt Nam năm 2010”
Đặc biệt, cá nhân Giám đốc Công ty được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhì, Ba; Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen và danh hiệu chiến sỹ thi đua toàn quốc. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng 3 bằng lao động sáng tạo. Hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế-kỹ thuật của nhà nước tặng cúp Thánh Gióng; cúp Tam Nông Việt Nam, cúp Doanh nhân văn hóa, cúp nhà quản lý tài đức top 100 doanh nhân khối Asean, doanh nhân tiêu biểu tỉnh Gia Lai,...
 Bài đăng trên báo Gia Lai:

http://www.baogialai.com.vn/channel/722/201407/nhung-moc-son-tren-chang-duong-phat-trien-2323136/

Lễ đón nhận huân chương lao động hạng nhất cho tập thể hạng nhì và hạng ba cho cá nhân

Hoa chúc mừng Lễ kỷ niệm của các Ban, Ngành và đơn vị bạn
MC Lê Khắc Nam và Trương Đinh Diệu Thi
Quân nhạc-Quân đoàn 3
Đội văn nghệ công ty
Đại biểu
Lễ chào cờ
Các cháu thiếu nhi tặng hoa Đại biểu mời
Giám đốc công ty Trương Vân
Kính thưa các vị khách quí, quí vị đại biểu. Hôm nay, trong không khí cả nước thi đua sôi nổi thực hiện Nghị quyết trung ương lần thứ 10 và chào mừng 60 năm chiến thắng điện biên phủ; Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai tổ chức lễ kỷ niệm 31 năm ngày thành lập công ty và đón nhận Huân chương lao động hạng nhất của đảng và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng, với ý nghĩa đó công ty không những ôn lại những chặng đường phát triển mà còn nhìn lại chính mình, là cơ hội đúc kết những trải nghiệm trên nhiều lĩnh vực hoạt động, rút ra những bài học quý giá để vững bước trên con đường hội nhập, tiếp tục giành thắng lợi mới trong tương lai. Công ty hết sức vui mừng chào đón sự hiện diện của các đồng chí lãnh đạo, các vị khách qúy, quý vị đại biểu đến tham dự tại buổi lễ long trọng này.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, thưa các vị khách quý. Ba mươi mốt năm qua.Từ ngày Công ty được thành lập theo quyết định số 11/QĐ-UB-TC ngày 27-4-1983 của UBND Tỉnh Gia Lai- Kon Tum với tên gọi là Công ty thủy nông Gia Lai- Kon Tum, hoạt động của đơn vị đã trải qua những chặng đường đầy gian khổ nhưng hết sức vẻ vang, Ngày đầu thành lập, quản lý 22 công trình các công trình chưa được phát huy triệt để,với 35 người, 6 viên gạch đầu đàn đã vượt những quãng đường đầy trắc trở, bao nhiêu cơ cực về vật chất lẫn tinh thần, bám trụ với công trình làm tròn nhiệm vụ quản lý khai thác, sửa chữa để nâng cao năng lực, hiệu quả tưới đưa diện tích trong vùng ngày càng mở rộng. Doanh thu thủy lợi phí cân đối được thu chi ,thiết bị phục vụ quản lý khai thác, trụ sở làm việc được xây dựng có sự đổi thay đáng kể.
Năm 1985 đến 1987 Công ty triển khai thực hiện phân cấp qủan lý theo chủ trương của nhà nước, 21 Công trình đã được bàn giao lại cho các huyện, thị quản lý, chỉ giữ lại duy nhất công trình hồ chứa thủy lợi Biển Hồ, tưới được 300ha cà phê, hệ thống kênh mương xuống cấp phải nhận thêm việc xây dựng cơ bản để duy trì lực lượng lao động. Đối diện với khó khăn việc nâng cao năng lực tưới, thay đổi phương pháp tưới. Công ty tập trung sức và lực từ cán bộ đến công nhân viên không quản ngại ngày đêm, hy sinh cả những giây phút giành cho riêng mình để tìm tòi, nghiên cứu giải pháp tưới tiêu khoa học cùng lúc với cuộc vận động các đơn vị dùng nước xây dựng kênh nội đồng đến từng hố cà phê, sản lượng tăng, thủy lợi phí tăng theo từ 40kg cà phê nhân/ha lên 68 kg cà phê nhân/ha, diện tích khu tưới Biển Hồ nâng lên từ 300 lên 1.500 ha, doanh thu thủy lợi phí quy thóc giai đoạn này đạt 330 tấn, tăng gấp 10 lần so với trước năm 1987, đánh dấu bước đột phá mới về doanh thu. Cùng với sự kiện: Tỉnh Gia Lai-Kon Tum chia tách thành hai Tỉnh Gia Lai và Kon Tum vào năm 1991, các công trình thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Gia Lai được rà soát để đưa vào quản lý tập trung. Đến năm 1993, sau một năm thành lập lại, Công ty tiếp nhân lại các hồ, đập vừa và lớn của các huyện Chư Prông, Chư Sê, Chư Păh, như: hồ chứa IaGlei, Ia Hrung, Hoàng Ân,… diện tích tưới các công trình này chỉ đạt 10-30 ha, hệ thống kênh và công trình xuống cấp, đây mới thấy hết sự tích cực và năng động của công ty. Chặng đường nâng cao năng lực quản lý, đầu tư tu sửa bằng nguồn vốn thủy lợi phí hàng năm, diện tích tưới từ các công trình tăng dần. Công trình Ia Glei, Ia H’rung tăng 15 lần. Công trình Hoàng Ân vượt năng lực tưới so với thiết kế. Bên cạnh năng lực tưới một số công trình khác phát huy được 70% so với thiết kế. Năm 1996 Công ty Đổi tên công ty thủy nông thành Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi, chuyển sang hoạt động công ích với nhiệm vụ chính: Vận hành hệ thống tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước cho dân sinh và các ngành kinh tế khác; quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, các dự án sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, nâng cao, mở rộng và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi do công ty quản lý; nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực mới, tiếp nhận chuyển giao xí nghiệp thủy nông Ayun Pa về công ty quản lý đặt công ty trước nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, đòi hỏi sự đồng lòng vượt khó của toàn thể cán bộ, công nhân viên. Những đôi chân trần của cán bộ, công nhân viên không quản ngại ngày đêm, vượt qua những đêm mưa dầm dai dẳng của mùa mưa Tây Nguyên lặn lội trên 14 công trình thủy lợi vừa và lớn như: Hồ chứa Ayun Hạ, Biển Hồ, Hoàng Ân, Ia Hrung, Ia Glei, đập dâng Ia Pét, Ia Ring, Ia Lốp, Ia Vê, Ia Lâu, với tổng năng lực tưới theo thiết kế 19.361 ha, khắc phục sự cố, làm công tác duy tu, bảo dưỡng. Đảm bảo tưới tự chảy liên tục cho 16.000 ha cây trồng từ ngắn đến dài ngày như: Lúa nước, mía, ngô, đậu đỗ, cà phê, chè, hồ tiêu trên địa bàn toàn Tỉnh. Từ sắc xanh của những đồng lúa bạt ngàn với những vụ mùa trĩu hạt, đến những vườn cà phê, hồ tiêu, cho mùa bội thu hay vựa mía xanh ngút ngàn giữa mùa khô cạn, giải quyết nguyên liệu, nguồn nước đáp ứng hoạt động của nhà máy đường Ayun Pa, nhà máy chế biến mủ cao su Chư sê… góp phần vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Tỉnh nhà. Nguồn lợi nông dân thu được hàng năm đã cải thiện, góp phần vào kết quả tăng trưởng sản lượng lương thực trên địa bàn toàn Tỉnh. Đặc biệt là công trình thủy lợi Ayun Hạ, công trình có năng lực tưới lớn nhất Tây Nguyên năng suất 7-8tạ/sào/vụ. diện tích vùng tưới công trình thủy lợi Ayun Hạ tăng trên 9.000 ha, kết hợp phát điện và khai thác nguồn lợi thủy sản; là địa điểm lý thú cho du khách với những hoạt động du lịch, dã ngoại, góp phần tăng doanh thu đơn vị hàng năm, công ty đã không ngừng chăm lo, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao chất lượng đội ngũ bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau. Năm 2014 Công ty quản lý khai thác 36 công trình thuỷ lợi loại vừa và lớn tưới đủ nước cho trên 27.000 ha diện tích lúa, màu, cây công nghiệp, ao nuôi thuỷ sản trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Gia Lai. Những năm (2009-2014) giá trị thuỷ lợi phí phải thu và được nhà nước trả thay dân đạt 28 tỷ đồng/năm đủ bù đắp chi phí hoạt động của công ty. Ba mươi mốt năm qua đi, mặc dù gặp không ít khó khăn trên một địa bàn trải rộng và chịu sự tác động trực tiếp của thiên nhiên, nắng mưa, bão lũ, nhưng tập thể CBCNV của Công ty đã không ngừng đoàn kết, nỗ lực để tìm ra biện pháp quản lý hữu hiệu, Phối hợp chặt chẽ với hộ dùng nước, chính quyền địa phương. Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, Giáo dục Cán bộ, công nhân phối hợp và bảo vệ phục vụ tưới nhiệt tình và đáp ứng tốt các yêu cầu khó tính của người dùng nước. Đến nay công ty có 300 người, có trình độ Đại học trở lên 42 người, Cao đẳng 5 người, Trung cấp kỹ thuật chuyên ngành 92 người, còn lại là Công nhân thuỷ nông (có 79 đảng viên, 40 người lao động là dân tộc, 25 nữ công nhân viên). Thực hiện tốt các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “ngày vì người nghèo”; “Đền ơn đáp nghĩa”.Hàng năm công ty tham gia ủng hộ đồng bào mỗi năm trên 60 triệu đồng. Công tác thi đua khen thưởng cũng liên tục được công ty phát động và quan tâm, 10 năm gần đây công ty đã thu được những thành tích đã đưa ra 5 sáng kiến khoa học, đạt III 2 giải nhì, gía trị làm lợi mang lại cho công ty mỗi năm 5tỷ đồng, Tổng giá trị làm lợi của các giải pháp gần 45,3 tỉ đồng, chống hạn cho gần 200 ha công ty đang tưới và tưới thêm 100 ha cà phê, hiệu quả về tạo việc làm, dân sinh, lao động và xã hội. Tập thể Công ty, các cá nhân, cán bộ công nhân viên, người lao động đã được Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp ghi nhận thành tích và đã trao tặng nhiều danh hiệu thi đua cao quý của Đảng và Nhà nước, cụ thể: 03 Huân chương lao động , 01 Chiến sỹ thi đua toàn quốc, 01 Cờ thi đua và 2 Bằng khen của Chính phủ cho tập thể, 05 bằng khen thủ tướng chính phủ cho cá nhân, 06 cờ thi đua cuả Tổng Liên đoàn và Ủy ban nhân dân tỉnh trên 200 bằng khen của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 17 danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, 5 bằng chứng nhận thành tích lao động sáng tạo, Thương hiệu “Thuỷ lợi Gia Lai” của Công ty nằm trong tốp 500 thương hiệu hàng đầu Việt Nam năm 2008. Chứng nhận và gắn biển “Doanh nghiệp văn hoá UNESCO Việt nam” năm 2009. Cup “Tam Nông” vì sự phát triển Nông nghiệp-Nông dân– Nông thôn Việt Nam năm 2010 cho tập thể và cá nhân công ty.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, thưa các vị đại biểu! Cán bộ công nhân viên công ty ra sức thi đua thực hiện các nhiệm vụ được giao và đã đạt những kết quả to lớn, khẳng định chặng đường phát triển, trưởng thành của mình. Thành tích đó cũng là sự ghi nhận công sức của bao thế hệ cán bộ, công nhân viên, nhất là lớp người đi trước, lớp người đứng mũi chịu sào, còn là máu sương, là mồ hôi, là những bước chân vượt đại ngàn, hố thẳm, dốc sâu, đến những cuộc dò tìm, tháo gỡ bom mìn, những tàn tích chiến tranh để lại trên mảnh đất Tây Nguyên, nơi công trình đi qua tạo dựng nên vóc dáng những công trình thủy lợi hôm nay. Với niềm hân hoan của ngày kỷ niệm, chúng ta không quên tưởng nhớ những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng công ty đã mãi mãi đi xa về với cõi vĩnh hằng. Thay mặt những người đương nhiệm khai thác, bảo vệ những công trình thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Gia Lai hôm nay, với tất cả tấm lòng xin gửi đến lãnh đạo Tỉnh và các cấp chính quyền địa phương, Trung ương, lớp người đi trước cả những người đã hy sinh lời biết ơn chân thành. Nhân kỷ niệm 31 năm ngày thành lập công ty và đón nhận phần thưởng cao quí của Đảng, nhà nước với những thành quả của các thế hệ cán bộ, công nhân viên công ty đã phấn đấu đạt được và bằng việc đúc kết các bài học quý giá, công ty hứa sẻ phát huy hơn nữa hiệu quả các công trình thủy lợi, tăng nguồn lợi thiết thực cho người sử dụng nước, góp phần từng bước định hình diện mạo nông thôn mới. Trong buổi lễ hôm nay, cho phép tôi được thay mặt Ban chấp hành Đảng bộ, Ban giám đốc công ty, cùng tập thể Cán bộ công nhân viên chức, xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các đồng chí lãnh đạo qua các thời kỳ. Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và mặt trận tổ quốc tỉnh. Xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các Sở ban nghành địa phương và trung ương, các cấp chính quyền trong Tỉnh và các khách hàng đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho công ty phát triển và ổn định Xin cảm ơn các đồng chí phóng viện đài Phát thanh, đài truyền hình, báo chí về dự lễ kỷ niệm và đưa tin. Kính chúc tất cả các đồng chí, các vị khách quý sức khoẻ

Trao huân chương hạng 3 cho hai phó giám đốc công ty

Gắn Huân chương hạng nhì cho Giám đốc công ty
Lễ chào cờ và bế mạc buổi lễ