Rượu ghè, gà nướng, cơm lam Tân Sơn Pleiku

 

Gà nướng Tân Sơn-Pleiku
Xã Tân Sơn tiếp giáp với xã Biển Hồ thành phố Pleiku, bà con các dân tộc nuôi rất nhiều gà, heo thả vườn. Do vận động nhiều và tìm ăn những thức ăn trong thiên nhiên nên thịt gà cũng như heo ở đây rất dẻ dặt, thơm ngon, còn đọng nhiều tính hoang dã của vùng sơn cước. Có dịp đến Pleiku, du khách nên thưởng thức món gà nướng ăn với cơm lam, tận hưởng hương vị ẩm thực cao nguyên. Ở những khu du lịch khác thuộc các tỉnh Tây Nguyên người ta nướng gà theo cách sau: Gà tơ khoảng chừng một ký rưỡi trở lại, làm sạch để trong rổ chừng 10 phút cho ráo nước rồi dùng cây xăm đâm vào thịt để cho gia vị ướp dễ thấm. Phụ liệu và gia vị gồm có mật ong, dầu mè, nước tương ngon, ít muối, bột ngọt, ngũ vị hương, tỏi bằm một củ, tiêu sọ đâm dập, vài lát gừng xắt sợi, vài miếng vỏ cam sắc sợi mỏng… Cũng có thể mua loại nước sốt dùng để ướp nướng có bán sẵn ở các chợ, siêu thị. Trộn đều tất cả gia vị và phụ liệu trên, dùng cọ phết đều lên thân gà.Để gà lên vỉ nướng với lửa than hồng. Khi thấy gà khô ráo mặt, ta lấy xuống phết thêm gia vị một lần nữa cho thấm rút vào thịt. Giữ lửa liên tục, không để bị tắt trong suốt thời gian nướng. Gà chín đem xuống đặt vào dĩa có lót sẵn xà-lách, cà chua, rau diếp, càng cua. Chấm thịt gà nướng với nước tương ngon dầm ớt hiểm, ăn kèm với cơm lam.
 Còn ở đây người ta nướng gà và dùng gia vị nguyên thuỷ hơn nhiều: Gà làm thịt xong, chặt chân, cổ và bộ lòng làm món cháo gà (dùng để ăn nóng sau khi nhậu xong), phần còn lại của con gà (không chế biến, không phết gia vị) người ta dùng xăm thép, nứa hoặc cây lồ ô xuyên qua con gà và cắm xung quanh bếp lửa, làm cho thịt khô dần và cho đến khi chín tới, vàng ươm, thơm lừng, xong xếp ra dĩa, mỗi dĩa một con, thông thường là khẩu phần nhậu của một người khi đến đây để thưởng thức. Khi ăn dùng tay xé gà không dùng các thực cụ: dĩa, dao, muỗng, đũa. Chấm thịt gà với muối é, ớt xanh…..muối là muối hầm hạt to nguyên thuỷ rang khô bỏ vào cối giã nhỏ (không phải muối tinh, hay muối iốt), ớt xanh có mùi và vị thơm hăng hắc nhưng rất cay, é là lá cây é được bỏ vào cối giã cùng với ớt xanh và hạt muối rang, người ta không dùng thêm bất kỳ một gia vị nào khác các loại trên, vì theo sự giải thích của dân địa phương nếu dùng gia vị (hiện đại) thì sẽ làm mất hương vị của thịt gà, ban đầu không tin nhưng khi thưởng thức thấy quả đúng là như vậy 
Cảnh nướng gà chiếu ngày 01/5/2011 tại Tân Sơn-Pleiku

Cảnh giã muối é, ớt xanh

 

 

 

 

Du khách lúc 15h30′ ngày 01/5/2011

 

Gia đình tôi

 

 

 

 

 

 

Khu chăn nuôi gà, heo của đồng bào dân tộc địa phương

 

 

Khu ẩm thực được đặt từ trước, nhưng thường tới 18 giờ mới đông khách, có lẽ do ngày lễ du khách ăn, nhậu muộn hơn thường ngày

 

 

 

 

Trường Sơn cao ngất rừng xanh
Quây quần hũ rượu, Em – Anh chung cần

 

 

 

Uống rượu cần thể hiện sự đoàn kết, thương yêu không có chuyện chén chú, chén anh, chén ông, chén bác… Mọi người cùng uống với nhau chung cần, trẻ, già, trai, gái, cha, mẹ, vợ, con, anh, em, bè bạn,…nhâm nhi thịt gà nướng mà không sợ mất vệ sinh…thắm đượm tình người.

 

 

 

 

 

 

 

Mỗi người một con như thế này đây

 

Cơm lam Pleiku, hương vị của núi rừng Tây Nguyên

 

 Cơm lam có nguồn gốc từ những chuyến đi rừng dài ngày của người đàn ông với túi gạo mang theo, dao quắm và đá đánh lửa cùng ống nứa sẵn có trong rừng, vậy mà nay đã trở thành món đặc sản, “hút hồn” du khách đến với Tây nguyên. Trong hình dung cảm tính của nhiều người, cơm lam phải là thứ cơm đại loại có mầu xanh của lá rừng, có hương thơm của cây rừng… Nhưng thực tế đặc sản của vùng đất bazan ấy được làm từ gạo nếp ngâm lẫn với lá thơm đêm trước, cho vào ống nứa non. Khi gạo đã đầy hai phần ba ống, người “đầu bếp” khéo léo đổ nước suối mát lạnh đựng trong những cái bầu khô như cái hồ lô đen bóng dốc vào từng ống một. Người ta tước những thẻ lá chuối già hườm hườm và ươm ươm vàng đã tai tái héo bởi hơi nóng lửa hơ và bắt đầu vê từng cái nút cho từng ống nứa. Những chiếc ống sau khi đã nạp đủ gạo, nước, nút lá chuối kín, được vùi vào bếp tro hồng. Tiếng những hạt lửa nhỏ nổ, tiếng nước reo li ti trong ống nghe thật ấm áp, vui tai. Những hạt gạo dẻo bắt đầu giữ rịt lấy nhau, nước từ thành ống nứa ngấm dần vào từng hạt gạo…. Chỉ là một món ăn giản dị của núi rừng, gắn với những con suối chảy róc rách đầu nguồn, những nương lúa chín vàng bên sườn đồi, những vạt rừng tre, nứa, lồ ô xanh ngút đầu non và bếp lửa hồng mùa đông của mẹ, mà sao có thể khiến người đi xa khó nguôi quên đến thế. Cơm lam cũng khiến người mới gặp lần đầu bỗng ngỡ ngàng trước một món ăn tưởng không có gì đơn giản, khiêm tốn hơn, mà chứa trong đó biết bao nghệ thuật và ý tưởng của hạt gạo vùng cao trong mối giao tình với nước, lửa và những ống nứa non…hình như ống nứa càng nhỏ, càng non, càng dài thì cơm đựng trong ống càng ngon. Cơm lam thường được ăn cùng với thịt rừng nướng hay thịt gà nướng. Từ lịch sử hình thành và cách làm từ lâu cơm lam đã là một món ăn truyền thống đậm chất dân dã của dân tộc Jrai, Bahnar. Theo truyền thống của người Bahnar, Jrai, cơm lam thường được sử dụng làm lương thực khi đi lên rẫy, thết đãi bạn bè hay trong các dịp lễ trọng đại của cộng đồng. Trong sự biến thiên, giao thoa của các giá trị tinh thần, cơm lam không còn là món ăn của riêng đồng bào dân tộc thiểu số nữa mà nó đã trở thành tài sản chung trong khối tài sản văn hóa ẩm thực các dân tộc Việt Nam. Cơm lam xuất hiện ngày càng nhiều trong các bữa tiệc thịnh soạn, những bữa cơm thết đãi người thân, bạn bè ở các nhà hàng, khách sạn của tỉnh Gia Lai. Giữa không gian mênh mông, thoáng đãng, từng khúc cơm lam trắng ngần chấm muối vừng ăn với thịt gà, lợn nướng thật không gì thú bằng. Trong men rượu cần chuếnh choáng say, người ăn thưởng thức cơm lam đậm hương vị nồng ấm của cây, của đất và như tận hưởng được cả thanh âm của núi rừng. Cơm lam của người JơRai, Bahnar thể hiện sâu sắc tính cộng đồng, gắn kết chặt chẽ với nhiều chi tiết liên quan đến đời sống thường nhật của người dân. Chính vì thế cùng với thời gian, cơm lam đã nâng lên thành một nét văn hóa ẩm thực, là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc Bahnar, JơRai.

 

 

 

 

 

 

Thường chỉ có thêm đĩa dưa leo để ăn cho đỡ say

Rượu cần Phố núi
Đây là đặc sản rất riêng của núi rừng Tây Nguyên, rượu cần được làm từ men rượu ủ với cơm, ngô, sắn nấu chín đựng trong ghè sành, trên phủ lá chuối khô nén chặt. Độ 4-5 ngày rượu cần ngấm men, khi uống cho thêm nước lọc vào. Rượu cần có nồng độ nhẹ, có vị chua chua, ngọt ngọt, người ta uống rượu bằng cần. Trong những dịp Tết, lễ hội người ta thường uống rượu cần để chúc mừng sức khoẻ, mừng mưa thuận gió hoà. Rượu cần có nhiều loại. Rượu thóc là lúa mới xay, rửa cho sạch, ngâm nước rồi trộn men để bỏ vào ché. Lấy lá chuối bịt chặt miệng ché độ năm, sáu hôm sau là dùng được. Rượu cơm là rượu làm bằng gạo nấu thành cơm ủ với men; hoặc là trộn đều bỏ vào ché; hay bỏ một lớp cơm, một lớp men cũng được. Cơm rượu chỉ độ vài ba hôm là nở tràn ché. Còn rượu kê, bo bo, bắp, mì, v.v… thì cũng làm theo cách trên. Đồng bào Ba Na gọi rễ cây men là Hiam. Rễ này cùng với gừng, ớt được giã nhỏ, trộn với gạo rồi viên thành viên nhỏ. Hoặc lấy rễ dây men – loại dây có gai bò trên mặt đất giống như dây trầu – đem phơi khô, giã nhỏ với củ riềng hay củ gừng rồi cũng viên thành từng viên lớn như quả trứng gà so. Mỗi ché chỉ bỏ độ một viên men là đủ. Đến lúc uống mới đem cần cắm vào ché. Cần uống thường làm bằng cây trúc hay cây triêng. Cuốn cây triêng thường dài cả mét, chặt đem về phơi khô, rút lõi bỏ đi, dùng làm cần rượu thì tuyệt!  Rượu cần tuy nhẹ, dễ uống, nhưng uống nhiều, khách dễ bị say và có thể ngã lăn quay lắm…lắm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đã phê

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Du lịch Huế 2011

Du lịch Huế 2011

Tập tin:Citadelle de Huế profil.jpg

Huế đã từng là Thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn trong gần 400 năm (1558-1945). Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Suốt mấy thế kỷ, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho một bức cảnh thiên nhiên tuyệt vời sẵn bày sông núi hữu tình thơ mộng. Bởi vậy, nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên thợ trời khéo tạc…

91.JPG
92.JPG
93.JPG
94.JPG
95.JPG
96.JPG
97.JPG
98.JPG
99.JPG
100.JPG
101.JPG
102.JPG
103.JPG
104.JPG

Trên nền tảng vật chất và tinh thần đã được hình thành ở Huế từ đầu thế kỷ XIV (khi vua Chăm là Chế Mân dâng hai Châu Ô, Rí cho nhà Trần để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân), các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI-XVIII), triều đại Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và 13 đời vua Nguyễn (1802-1945) đã tiếp tục phát huy và gây dựng ở vùng Huế một tài sản văn hóa vô giá. Tiêu biểu nhất là Quần thể di tích của Cố đô đã được sánh ngang hàng với các kỳ quan hằng ngàn năm tuổi của nhân loại trong danh mục Di sản Văn hóa thế giới của UNESCO.

105.JPG
106.JPG
107.JPG
108.JPG
109.JPG
110.JPG
111.JPG
112.JPG
113.JPG
114.JPG
115.JPG
116.JPG
117.JPG
118.JPG
119.JPG
120.JPG
121.JPG
122.JPG
123.JPG
124.JPG
125.JPG
126.JPG

Nằm giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động của thời gian. Đó là Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, ba tòa thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế – đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh… Nhìn từ phía ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu diệu kỳ khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó.

127.JPG
128.JPG
129.JPG
130.JPG
131.JPG
132.JPG
133.JPG
134.JPG
135.JPG
136.JPG
137.JPG

Xuyên suốt cả ba tòa thành, khi thì lát đá cụ thể khi thì mang tính ước lệ, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan yếu nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung… Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng thanh thản.

139.JPG
140.JPG
141.JPG
142.JPG
143.JPG
144.JPG

Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành – nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.

145.JPG
146.JPG
147.JPG
148.JPG
149.JPG
150.JPG
151.JPG
152.JPG
153.JPG
154.JPG
155.JPG
156.JPG
157.JPG
158.JPG
159.JPG
160.JPG
161.JPG
162.JPG
163.JPG
164.JPG
165.JPG
166.JPG
167.JPG
168.JPG
169.JPG
170.JPG
171.JPG
172.JPG
173.JPG
174.JPG
175.JPG
176.JPG
177.JPG
178.JPG
179.JPG
180.JPG
181.JPG
182.JPG
183.JPG
184.JPG
185.JPG
186.JPG
187.JPG
188.JPG

Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ…

Bên cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với thể chế của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành lũy của Kinh đô song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì nghệ thuật kiến trúc đã đạt đến đỉnh cao. Đan xen giữa các khu vực kiến trúc cảnh vật hóa độc đáo ấy, chúng ta còn có thể tham quan đàn Nam Giao – nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc – nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền – đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu – nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu – nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên Tiến sĩ võ; điện Hòn Chén – nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na… còn quá nhiều những thắng tích liên quan đến triều Nguyễn hòa điệu trong những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận… thực sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.

Huế từng hiện hữu những khu vườn ngự danh tiếng như Ngự Viên, Thư Quang, Thường Mậu, Trường Ninh, Thiệu Phương… Chính phong cách kiến trúc vườn ở đây cũng lan tỏa khắp nơi trong dân gian, phối hợp với những nhân tố sẵn có, dần dần định hình một kiểu thức nhà vườn đặc thù của xứ Huế. Đây là thành phố của những khu nhà vườn với những ngôi nhà cổ thâm nghiêm ẩn hiện giữa xóm phường bình yên trong lòng cố đô. Mỗi một khu nhà vườn lại mang bóng dáng của Kinh Thành Huế thu nhỏ, cũng có bình phong thay núi Ngự, bể nước thế dòng Hương, đôi tảng đá cụm hoa thay cho cồn Dã Viên, Bộc Thanh… đủ các yếu tố tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ… lại bốn mùa hoa trái, ríu rít chim ca, không gian ấy còn là thế giới của những thi nhân mặc khách đối ẩm ngâm vịnh, là nơi diễn xướng những điệu ca Huế não nùng như Nam Bình, Nam Ai… trong những đêm gió mát trăng thanh.

Gần một thế kỷ rưỡi là Kinh đô của một triều đại phong kiến với thiết chế chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, lại từng là thủ phủ của Phật giáo một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn lưu giữ hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính, an lạc giữa những núi rừng hoang vu u tịch. Ông Amadou MahtarM’bow – Nguyên Tổng giám đốc UNESCO, đã thật tinh tế khi đưa ra một nhận xét trong lời kêu gọi cho cuộc vận động bảo vệ, giữ gìn, tu sửa và tôn tạo di sản văn hóa Huế: “Nhưng Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động – ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu, hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo”.

Gắn với một triều đại phong kiến tuân thủ những nguyên tắc rạch ròi của triết lý Khổng Mạnh, lễ hội và âm nhạc ở vùng kinh sư này đã phát triển vô cùng phong phú và mang đậm phong cách dân tộc. Triều đình thì có lễ Tế Giao, Tế Xã Tắc, lễ Nguyên Đán, lễ Đoan Dương, lễ Vạn Thọ, lễ Đại triều, lễ Thường triều, lễ Ban Sóc, lễ Truyền Lô, lễ Duyệt Binh… mỗi một lễ hội đều có những bước nghi thức mà phần hồn của nó chính là âm nhạc lễ nghi cung. Dân gian cũng đa dạng các loại hình lễ hội: lễ hội điện Hòn Chén, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội vật Sình, lễ hội đua ghe, lễ hội tế đình, tế chùa, tế miếu… gắn kết với các loại hình lễ hội lại là những hình thức âm nhạc lễ nghi dân gian muôn màu muôn vẻ. Cùng tồn tại với dòng âm nhạc mang tính lễ nghi, loại hình âm nhạc mang tính giải trí tiêu khiển của xứ Huế cũng được thế giới biết đến như một điển hình mang đậm bản sắc riêng của một vùng văn hóa, mộc mạc thuần khiết, đặc thù không pha trộn. Đó là những điệu múa Huế, những vở tuồng Huế, những bài ca Huế mà ngày nay đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu trong một chuyến tham quan Cố đô của du khách mọi miền. Huế ngày nay vẫn đang gạn đục khơi trong, cố giữ gìn những tinh hoa văn hóa cổ truyền của dân tộc, cố bảo tồn những hình thái nghệ thuật được tạo nên bằng trí tuệ tâm huyết của tiền nhân nay đang ở bên bờ lãng quên, cố phục hồi những giá trị tinh thần quí báu của cha ông khi còn có thể.

Các loại hình âm nhạc truyền thống mang tính giải trí tiêu khiển vẫn đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn trong lòng thành phố Huế. Vừa qua, điều khiến cho người dân Huế vui mừng nhất là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp với Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam dưới sự cố vấn của nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài, đã thiết lập hồ sơ đệ trình UNESCO xin công nhận Âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc (triều Nguyễn) là Kiệt tác di sản văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại. Tuy mọi việc vẫn còn ở phía trước, song động thái đó cũng đủ nói lên giá trị vô vàn của âm nhạc truyền thống Huế.

Ngày nay, Huế trở thành một thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam. Cứ mỗi hai năm, nhân dân thành phố Huế lại đón chào ngày lễ hội trọng đại này trong niềm háo hức, mừng vui khôn cùng. Trong ý nghĩ của nhiều người, Huế trở thành thành phố Festival gần như là một điều tất yếu vì ở Huế còn bảo lưu khá điển hình diện mạo một kinh đô của triều đại phong kiến mà các công trình kiến trúc lại hòa điệu với thiên nhiên tạo nên những tiết tấu độc đáo với những lễ hội, âm nhạc, ẩm thực truyền thống được bảo tồn phong phú đa dạng. Cách cấu tạo giữa kiến trúc và cảnh quan làm cho Huế trở thành một thành phố của sự hài hòa giữa kiến trúc – thiên nhiên và con người “Huế thực hiện được sự tổng hợp giữa đạo và đời trong kiến trúc, tổng hợp được cổ xưa và hiện đại, qua đó cố đô cổ kính chung sống hài hòa với thành phố trẻ mới ngày nay”.

189.JPG
190.JPG
191.JPG
192.JPG
193.JPG
194.JPG
195.JPG
196.JPG
197.JPG
198.JPG
199.JPG
200.JPG
201.JPG
202.JPG
203.JPG
204.JPG
205.JPG
206.JPG
207.JPG
208.JPG
209.JPG
210.JPG
211.JPG
212.JPG
213.JPG
214.JPG
215.JPG
216.JPG
217.JPG
218.JPG
219.JPG
220.JPG
221.JPG
222.JPG
223.JPG
224.JPG
225.JPG
226.JPG
227.JPG
228.JPG
229.JPG
230.JPG
231.JPG
232.JPG
234.JPG
233.JPG
235.JPG
236.JPG
237.JPG
239.JPG
240.JPG
241.JPG
242.JPG
243.JPG
244.JPG
245.JPG
246.JPG
247.JPG

Mù Căng Chải

Giới thiệu chung:

Mù Cang Chải là huyện vùng cao phía tây của tỉnh Yên Bái với trên 90% dân số là đồng bào Mông. Trong những năm gần đây, Mù Cang Chải đã và đang trở thành điểm đến của nhiều du khách, nhiều nhà nghiên cứu, nhiếp ảnh gia.

Đến với Mù Cang Chải dù chỉ một lần du khách cũng cảm nhận được sự giàu có của thiên nhiên, sự đặc sắc của văn hóa, sự ấm áp của tình người. Đường lên Mù Cang Chải tuy xa và khó khăn song lại rất thú vị, quang cảnh thay đổi liên tục trên đường, du khách chưa kịp ngắm hết những ngôi nhà sàn Thái trên cánh đồng Mường Lò rộng lớn với bạt ngàn hoa ban trắng đã được đến với những con đường quanh co, uốn khúc trên các sườn đồi dốc đứng. Các vận động địa chất đã tạo cho Mù Cang Chải những đỉnh núi cao như: Púng Luông (2985m), Phu Ba (2512m), Mồ Dề (2100m)… Qua đèo Khau Phạ (cao 2100m) mờ trong sương trắng là tới đất Mù Cang Chải (nơi mà người dân Yên Bái vẫn gọi là “biển mây Khau Phạ”). Từ đây, cứ từ đèo này qua đèo khác, núi này qua núi khác, du khách sẽ cảm nhận rõ nét sự thay đổi của độ cao, hai bên đường là những triền ruộng bậc thang làm choáng ngợp lòng người.

Con người

Chiếm 90% dân số toàn huyện, người Mông ở Mù Cang Chải có 4 nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng); Mông Đu (Mông Đen); Mông Lềnh (Mông Hoa); Mông Si (Mông Đỏ) với truyền thống văn hóa đặc sắc luôn thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nghệ thuật và là tiềm năng lớn cho du lịch văn hóa phát triển. Đồng bào Mông thường cư trú ở những sườn núi cao từ 800 đến 1.700m, với kinh nghiệm làm ruộng bậc thang và một số nghề thủ công truyền thống như: nghề rèn đúc, dệt vải bằng sợi lanh, làm đồ trang sức…

Người Mông ở Mù Cang Chải có nền văn hóa dân gian phong phú, phản ánh nhận thức về cuộc sống thực tại gắn với thiên nhiên, khao khát vươn tới cái đẹp, cái thiện thể hiện trong làn điệu dân ca như: tiếng hát tình yêu, cưới xin, ru con, lao động sản xuất, …các phong tục, lễ hội mang những nét đặc sắc riêng của đồng bào như: cưới xin, tang ma… Ngoài ra, nơi đây còn lưu giữ được một kho tàng truyện cổ về các tục lệ, lịch sử tộc người, văn hóa tộc người thể hiện tinh thần thượng võ của cha ông được truyền từ đời này qua đời khác.

Đi từ Hà Nội

Từ Hà Nội cứ đi thẳng theo đường 32 qua Sơn Tây, Thanh Sơn, Thu Cúc, Nghĩa Lộ, Tú Lệ, Mù Căng Chải, quãng đường khoảng hơn 300km, có thể đến bằng ô tô, xe máy. Có thể đến Mù Căng Chải bằng xe khách, xe xuất phát tại bến xe Giáp bát, bến xe Sơn La (còn gọi là bến xe phía tây, nằm ở đầu đường Nguyễn Tuân).

Giống như hầu hết các thị trấn khác, Mù Căng chải cũng có khá nhiều nhà nghỉ, giá cũng khá khá thoải mái, tầm 100-150k / phòng đôi (có thể ở đến 4 người). Ngoài ra bạn cũng có thể ở tại thị trấn tú lệ (trước Mù Căng Chải khoảng 40km).

Chơi bời:

+ Ruộng Bậc thang Mù Căng Chải: Mù Cang Chải có 700ha ruộng bậc thang (trong đó hơn 47% tập trung ở 3 xã: La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Su Phình). Ruộng bậc thang không chỉ cho năng suất cao và ổn định, góp phần cải thiện đời sống dân cư, góp phần hạn chế việc chặt phá rừng làm nương rẫy mà còn làm nên danh thắng kỳ vĩ. Đó là sản phẩm hội tụ các giá trị văn hóa truyền thống của tộc người. Năm 2007, ruộng bậc thang ở 3 xã này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia.(Xem bản đồ bên dưới)

+ Đèo Khau Phạ là một trong những cung đường đèo quanh co và dốc đứng thuộc hàng bậc nhất Việt Nam vượt qua đỉnh núi Khau Phạ, ngọn núi cao nhất vùng Mù Cang Chải. Đèo Khau Phạ có điểm khởi đầu là đoạn cắt quốc lộ 32 với quốc lộ 279 liền mạch liên tiếp với đèo Chấu phía trước nó và đèo Vách Kim phía sau trên đường 32. Khau Phạ đẹp nhất vào mùa lúa, tầm tháng 9 tháng 10, khi lúa trên chân ruộng bậc thang chín vàng nương. Đây cũng là thời điểm mà nhiều khách du lịch mạo hiểm chinh phục đèo để ngoạn cảnh. Những cánh rừng già tại Khau Phạ còn lưu giữ được nhiều loại động thực vật quý hiếm như thông dầu, chò chỉ và các loại chim muông, thú quý hiếm khác.

+ Ruộng bậc thang Tú Lệ: Phải đến Tú Lệ vào mùa lúa chín mới thấy hết được vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang. Những cánh đồng của Tú Lệ chính là nơi những tay máy ảnh dù chuyên hay không chuyên đi qua đều dừng chân và thoả sức sáng tạo. Sáng sớm, khi núi rừng còn ngà ngà trong một màu trắng đục của sương mai thì khắp các nương lúa nếp đã thấp thoáng màu áo chàm đen của bà con đi gặt. Hương thơm vương vít khắp không gian, đậu trên từng nhánh cây ngọn cỏ, khiến lòng người thấy xốn xang.

+ Đèo Lũng Lô mạn phía Yên Bái tiếp giáp Sơn La cũng trong cảnh tương tự như vậy. Con đèo dài 15 km này nằm trên quốc lộ 37, trong thời kì chống Pháp là một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên. Kể từ đó cho đến nay, con đường dần bị rơi vào quên lãng, nhất là khi đèo Khế nối Yên Bái với Sơn La được mở. Đèo bị sạt lở nghiêm trọng mất hẳn 4/5 tầng đường không khôi phục được. Đường giao thông tại tỉnh Yên Bái là nơi hứng chịu nhiều trận sạt lở nhất cả nuớc do tầng đất quá mềm. Tôi đi qua con đèo này khi quá trưa. Tranh thủ tạt qua bản gần đó xin bữa cơm đạm bạc, hoà chung cuộc sống với những người dân quanh đây. Con đèo bị bỏ quên cũng khiến cuộc sống của người dân nhiều vất vả vì đường giao thông khó khăn. Rất ít người qua lại đường này, có chăng chỉ là dân các bản vùng trong.

Bản đồ:

Bản đồ

http://timdiadiem.net/#M%C3%B9%20Cang%20Ch%E1%BA%A3i%2C%20Vietnam

Bản đồ hành chính

http://timdiadiem.net/bando/bandohanhchinh/files/YenBai_TuyenQuang.jpg

Bản đồ đường bộ

http://timdiadiem.net/bando/bandoduongbo/

Đặc sản:

Nếp Tú Lệ, qua bàn tay của người Thái nấu thành cơm thì ngon tuyệt vời. Đặc biệt là không hề bị dính tay và rất dẻo, kể cả để đến hai ngày sau. Xôi mới, nắm xôi nghi ngút khói, hương thơm ngào ngạt. Đưa xôi lên miệng, vừa đủ ngậy mà không quá béo, vừa đủ mềm, dẻo mà không quá ướt hay quá khô để người thưởng thức khó tính nhất cũng phải tấm tắc. Ai đó, nếu được nếm thử một lần, chắc hẳn sẽ chẳng thể nào quên. Lại nữa, gạo nếp Tú Lệ cũng chẳng cần phải thêm đỗ, thêm dừa cho đậm đà mùi vị. Chỉ xôi gạo không thôi mới thưởng thức được cái tinh tuý của đất trời, cái mộc mạc của núi rừng.Ngoài thổi xôi, gạo nếp Tú Lệ dùng để gói bánh chưng, giã bánh dày hay chế biến các món bánh khác cũng đặc biệt thơm ngon. (P/S: Hiện giờ nếp Tú Lệ bị thương mại hoá nhiều nên chất lượng đa phần ko được như trước, may mắn lắm mới có thể mua được nếp ngon)

Nếp Tú Lệ

Nếp Tú Lệ

Xem ảnh

Một số hình ảnh về ruụong bậc thang vào mùa lúa chín

Chế Cu Nha

Khau Phạ

 

La Pán Tẩn

 

 

Khau Phạ

 

 

 

 

Mùa vàng Mù Cang Chải

 

Nhìn về phía thị trấn Mù Căng Chải

ST….Facebook

Biển Hồ Pleiku và Hồ thuỷ lợi Biển Hồ

Biển hồ-Hồ Tơ nưng

Những du khách đến Gia Lai và ghé thăm Biển Hồ Pleiku bên phố núi thơ mộng, ai cũng đều khen ngợi thắng cảnh có một không hai trên cao nguyên Gia Lai. Cảnh đẹp của Biển Hồ mà thiên nhiên ban tặng ở đây có lẽ ai cũng dễ dàng nhận thấy, nhưng xung quanh thắng cảnh hữu tình ấy còn có nhiều câu chuyện khá thú vị mà không phải ai cũng biết đến.

Tháp vọng cảnh Biển Hồ

Hình ảnh DSC08144.JPG

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Hình ảnh Biển hồ Pleiku

bien ho to nung rong.JPG

Rừng cây và đường đi ven hồ.JPG
Biển Hồ, hay hồ Tơ Nưng, Ia Nueng nằm ở phía Bắc Gia Lai, cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng 7km, thuộc xã Biển Hồ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai. Biển Hồ có hình bầu dục, diện tích khoảng 230ha, xung quanh núi bao bọc và rừng thông xanh mát quanh năm.

Theo truyện cổ dân gian của dân tộc Jơ Rai kể về sự tích Ia Nueng (Biển Hồ) khi xưa là bến nước uống chung của làng người Jơ Rai. Nước ở bến Ia Nueng rất xanh trong, soi rõ mặt người. Một hôm, trên đường đi đến bến Ia Nueng để lấy nước, có hai người dân trong làng là Yă Pôm và Yă Chao phát hiện một con heo trắng rất đẹp. Yă Chao đã bắt con lợn trắng xinh đẹp kia về nuôi ở nhà mình. Hằng ngày, Yă Chao chăm sóc cho lợn trắng đủ thức ăn ngon nhưng chú lợn con không ăn gì cả. Một lần Yă Chao mang những chiếc bầu đi lấy nước ở Ia Nueng về dính những hạt cát trắng thì bỗng nhiên chú lợn con đã liếm hết những hạt cát một cách ngon lành. Sửng sốt trước hiện tượng lạ, sau này Yă Chao cứ đi lấy cát trắng về cho chú lợn ăn và lớn nhanh như thổi. Sau 3 lần trăng tròn, chú lợn trắng lớn bằng con trâu to và khiến cả dân làng ngạc nhiên.
Khi ấy dân làng làm nhà rông mới và sai người trong làng đi tìm một con lợn thật to để cúng Yàng và làm lễ ăn mừng. Sau khi sai người đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không lấy đâu ra con lợn to như già làng mong muốn nên trở về nhà Yă Chao xin bắt con lợn trắng này để làm thịt. Yă Chao kiên quyết từ chối, dù có đổi bao nhiêu tài sản của dân làng cũng không chịu. Nhưng cuối cùng dân làng đã quyết cử 2 người to khỏe đến bắt cho bằng được con lợn trắng về làm thịt cúng Yàng và chia đều thịt cho các gia đình trong làng để ăn mừng. Riêng Yă Chao không nhận thịt và thề rằng: “Nếu tôi ăn thịt này thì đất sẽ động, Ia Nueng sẽ sụp lở”. Nhưng đứa cháu của Yă Chao thấy thịt ngon đòi ăn và khóc cả ngày đêm nên bà không cầm được lòng mà phải cho đứa cháu ăn thịt lợn trắng. Bỗng chốc, trời đất, núi rừng rung chuyển, nhà cửa ngả nghiêng, vùi lấp cả dân làng. Hai bà cháu Yă Chao chạy nhưng không kịp nên bị nước nhấn chìm biến thành tượng đá dưới đáy hồ…
Ngoài ra, còn có chuyện kể rằng, hồ mang tên Tơ Nưng là tên một làng cổ trong huyền thoại. Chuyện kể về ngôi làng xưa to và đẹp lắm. Dân làng sống yên vui, hòa thuận lâu đời thì bỗng một hôm, ngọn núi lửa ập tới vùi lấp làng. Những người may mắn còn sống sót đã khóc thương cho làng mình, khóc cho người thân không ngớt, khiến nước mắt chảy thành suối, các suối đổ về thành hồ. Hồ mang tên Tơ Nưng là một kỷ niệm chung của làng cổ đó…
Về Biển Hồ ở Pleiku còn có nhiều huyền thoại khác như chuyện kể rằng hồ sâu không đáy và thông ra tận biển Đông. Từ đó có câu chuyện ví von về những người làm gỗ ở Gia Lai, họ chỉ cần thả những lóng gỗ xuống Biển Hồ, một đêm xuống cảng biển Quy Nhơn, Bình Định là có thể lấy gỗ đem bán…

Biển hồ nhà máy nước

Thực tế, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng; Ia Nueng) nguyên là một miệng núi lửa đã ngừng hoạt động từ hàng trăm triệu năm qua. Sự rộng lớn mênh mông của hồ nước này tựa như biển khơi nên người dân địa phương đặt tên là Biển Hồ. Dẫu thiên nhiên khắc nghiệt, nắng hạn đến đâu nhưng từ trước đến giờ nước Biển Hồ này vẫn chưa bao giờ cạn. Biển Hồ là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho hàng chục ngàn người dân TP Pleiku. Đây còn là nơi có nhiều tôm cá, phong cảnh xung quanh hồ rất xinh đẹp, mát mẻ quanh năm và là nơi hẹn hò thú vị của nhiều đôi nam nữ yêu đương. Có những bạn tình sau lần đến với Biển Hồ Pleiku đã rất thích thú và viết nên những cảm nhận trên Blogcủa mình: “…Giữa mùa nắng nóng oi nồng mà ở đây rất dễ chịu, không khí trong lành và mát rượi. Đứng trước hồ nước mênh mông, ngắm cảnh rừng thông trữ tình mà lòng càng đầy ắp tình yêu lãng mạn…”.

Nhiều người còn ví Biển Hồ như viên ngọc bích giữa mênh mông đất đỏ Tây Nguyên, là “đôi mắt” của phố núi Pleiku (Do có Hồ thuỷ lợi -Hồ B xây dựng từ năm 1978 ngay cạnh hồ Biển Hồ có diện tích mặt nước khoảng 240ha gần bằng diện tích hồ Biển Hồ, hai hồ nối với nhau bởi kênh thông hồ (50m) nên từ không trung nhìn xuống giống như đôi mắt). Gần đây, tỉnh Gia Lai dự định sẽ cho phép một doanh nghiệp ngoài tỉnh đầu tư thực hiện dự án “Lâm viên Biển Hồ” hàng trăm tỷ đồng với nhiều loại hình dịch vụ du lịch khác nhau nhưng phải bảo đảm tính bền vững về môi trường sinh thái ở đây. Dự án đến nay chưa triển khai nên chưa thể nói gì thêm, tuy nhiên vẻ đẹp tự nhiên của Biển Hồ trên phố núi Pleiku đã được xếp hạng là thắng cảnh đặc biệt và độc đáo./.

Bản đồ Biển Hồ: http://www.skydoor.net/#3623

Biển Hồ, trước đây nguyên là miệng một núi lửa. Dân trong vùng gọi Hồ là Biển và thế là có tên Biển Hồ. Hồ còn mang tên Tơ Nuêng – tên một làng cổ trong huyền thoại. Chuyện kể rằng, làngTơ Nuêng ngày xưa to và đẹp lắm dân bản sống yên vui hòa thuận, bỗng một hôm núi lửa ập tới vùi lấp làng Tơ Nuêng, những người sống sót khóc thương làng mình và người thân mãi không nguôi, nước mắt chảy thành suối đổ về làng mà thành Hồ. Hồ giữ lại tên Tơ Nuêng, một kỷ niệm chung của bản làng.

 
  Một bài viết khác về Biển hồ

Biển Hồ là tên do người Kinh đặt, còn tên thật của nó là Ia Nueng (Tơ Nưng), là một miệng núi lửa khổng lồ nằm ở phía bắc thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Biển Hồ có hình bầu dục, diện tích khoảng 230ha, xung quanh núi bao bọc và rừng thông xanh mát quanh năm.

Quanh năm hồ ăm ắp nước và luôn luôn xanh ngắt, như một chiếc gương trên chót vót cao nguyên cho mây trời soi bóng. Xung quanh nó có rất nhiều bí ẩn và huyền thoại khiến Biển Hồ lại càng lung linh kỳ ảo trong ký ức của con người, cả người sở tại và du khách.

Theo truyện cổ dân gian của dân tộc Jơ Rai kể về sự tích Ia Nueng (Biển Hồ) khi xưa là bến nước uống chung của làng người Jơ Rai. Nước ở bến Ia Nueng rất xanh trong, soi rõ mặt người. Một hôm, trên đường đi đến bến Ia Nueng để lấy nước, có hai người dân trong làng là Yă Pôm và Yă Chao phát hiện một con lợn trắng rất đẹp. Yă Chao đã bắt con lợn trắng xinh đẹp kia về nuôi ở nhà mình. Hằng ngày, Yă Chao chăm sóc cho lợn trắng đủ thức ăn ngon nhưng chú lợn con không ăn gì cả. Một lần Yă Chao mang những chiếc bầu đi lấy nước ở Ia Nueng về dính những hạt cát trắng thì bỗng nhiên chú lợn con đã liếm hết những hạt cát một cách ngon lành. Sửng sốt trước hiện tượng lạ, sau này Yă Chao cứ đi lấy cát trắng về cho chú lợn ăn và lớn nhanh như thổi. Sau 3 lần trăng tròn, chú lợn trắng lớn bằng con trâu to và khiến cả dân làng ngạc nhiên.

Khi ấy dân làng làm nhà Rông mới và sai người trong làng đi tìm một con lợn thật to để cúng Yàng và làm lễ ăn mừng. Sau khi sai người đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không lấy đâu ra con lợn to như Già làng mong muốn nên trở về nhà Yă Chao xin bắt con lợn trắng này để làm thịt. Yă Chao kiên quyết từ chối, dù có đổi bao nhiêu tài sản của dân làng cũng không chịu. Nhưng cuối cùng dân làng đã quyết cử 2 người to khỏe đến bắt cho bằng được con lợn trắng về làm thịt cúng Yàng, và chia đều thịt cho các gia đình trong làng để ăn mừng. Riêng Yă Chao không nhận thịt và thề rằng: “Nếu tôi ăn thịt này thì đất sẽ động, Ia Nueng sẽ sụp lở”. Nhưng đứa cháu của Yă Chao thấy thịt ngon đòi ăn và khóc cả ngày đêm nên bà không cầm được lòng mà phải cho đứa cháu ăn thịt lợn trắng. Bỗng chốc, trời đất, núi rừng rung chuyển, nhà cửa ngả nghiêng, vùi lấp cả dân làng. Yă Chao và cháu của mình cũng chạy nhưng không kịp nên bị nước nhấn chìm biến thành tượng đá dưới đáy hồ…

Ngay cái tên Biển Hồ có lẽ cũng là do khát vọng của con người mà ra. Cao nguyên Pleiku cao hơn mực nước biển cả nghìn mét. Theo nguyên tắc bình thông nhau thì sẽ chẳng có giọt nước nào tồn tại được trên những đỉnh núi cao này. Và vì thế mà con người khao khát nước, khao khát biển. Một nhà thơ đã viết khi đến thăm Biển Hồ: Thương thương quá suốt một đời thiếu nước/ nên cái ao tù cũng thành biển của em… Vì thế có một cái “ao” trên đỉnh núi cao vời vợi, đứng ở dưới Quốc lộ một nhìn lên chỉ thấy mây phủ kín ấy thì người ta gọi là “biển” cũng đúng thôi. Ðối diện với Biển Hồ theo trục Bắc Nam khoảng chục cây số là đỉnh Hàm Rồng, cũng là một miệng núi lửakhổng lồ (xung quanh thành phố Pleiku là hàng trăm miệng núi lửa lớn nhỏ, nhưng lớn nhất vẫn là Biển HồHàm Rồng). Rất đối xứng, một bên nhô lên, bên thụt xuống.

Diện tích của Hàm RồngBiển Hồ cũng tương ứng nhau, hình dáng cũng tương tự nhau. Nếu nhìn từ máy bay, giống như kiểu bứng phần lõm của Biển Hồ đặt vào Hàm Rồng vậy. Tức là nếu bê Hàm Rồng thả xuống Biển Hồ thì sẽ vừa khít, không còn dấu vết. Một cuộc tạo sơn vĩ đại nào đó đã làm việc này. Thời chưa có các phương tiện hiện đại, người ta đồn rằng Biển Hồ… không có đáy, nó thông xuống… biển Quy Nhơn. Nhưng có một thực tế là mực nước Biển Hồ hầu như không đổi nên nó vừa là thắng cảnh, vừa là nguồn nước sinh hoạt chính nuôi sống nhân dân thành phố Pleiku. Cái sự mực nước không đổi này cũng là sự lạ, bởi sáu tháng mùa khô khốc liệt thế, trời không một giọt mưa mà mực nước giữ nguyên thì cũng thật khó giải thích.

Xung quanh Biển Hồ được vây bọc bởi các ngọn núi mà đồng bào dân tộc bám vào các triền thoai thoải của nó để làm nhà, lập làng. Năm nhiều bù năm ít, mỗi năm có ít nhất một người, toàn là thanh niên học sinh, chết đuối làm những bí ẩn về Biển Hồ càng tăng lên.

Hồ Tơ Nưng là hạt ngọc của Plieku mà bất cứ ai đã đặt chân đến vùng đất Tây Nguyên cũng không thể bỏ qua. Con đường nhựa phẳng lỳ chạy xuyên qua những hẻm núi gồ ghề, vách thẳng đứng rêu phong, điểm tô bởi các bụi cây kim ngân hoa vàng rực rỡ dẫn ta đến bờ hồ. Mặt hồ ở cao trên một ngọn núi nên không bị các dải núi xung quanh che khuất, đứng bên bờ hồ có cảm giác như đứng bên bờ biển lộng gió. Có lẽ vì thế hồ Tơ Nưng được gọi là Biển Hồ.

Hồ Tơ Nưng làm say đắm lòng người không chỉ ở mặt nước mênh mông, mây trời lồng lộng mà còn là nơi hội tụ của nhiều loài hoa đẹp, nhiều loài chim, cá quý. Xung quanh hồ là vườn hoa khổng lồ. Cứ mỗi độ xuân về, hoa cúc quỳ trải thảm vàng trên các bìa rừng, bãi cỏ; hoa Ê Pang màu xanh lục phủ kín từ mép hồ lên triền đồi thoai thoải rồi chạy lên tít tận đỉnh núi tiếp giáp với trời mây, hoa gạo màu đỏ rực rỡ trên nền xanh biếc của nước, của trời; lác đác đây đó còn có những thảm hoa mua màu tím, hoa ngải vàng rơm, hoa đơn đỏ hồng…

Nếu tản bộ dọc theo các đường mòn, sẽ thấy trong các lùm cây lau sậy sát bờ nước là nơi trú ngụ của nhiều loài chim đẹp. Chim sin sít lông tím mỏ hồng, giọng hót lanh lảnh như tiếng kèn đồng. Chim bói cá với bộ lông màu lam pha vàng cam, trắng sặc sỡ luôn chao đảo sát mặt nước kiếm mồi, chim cuốc lông đen chũi hay lốm đốm hoa mơ lúc ẩn, lúc hiện trong đám cỏ lau sát bờ nước, chim d’rao, chim trắc ta bay lượn nhịp nhàng trên mặt hồ. Khi chiều tà nắng vàng trải dài trên các sườn đồi, từng đàn chim lũ lượt bay về tổ ven hồ Tơ Nưng. Lúc này không gian như đọng lại trên màu thiên thanh của mặt nước, chỉ có tiếng chim hót rộn ràng và tiếng cánh vỗ lao xao làm lay động bầu không khí tĩnh dặng của vùng hồ.

Hồ Tơ Nưng còn là một ”vựa cá” của Tây Nguyên. Ở đây có hầu hết các loài cá nước ngọt như trắm, chày, trôi, chép. Khi hoàng hôn buông xuống, sương khói bảng lảng, cá lên đớp mồi, bơi lội tung tăng hàng đàn trong làn nước trong vắt tạo ra một vùng sinh thái, một thắng cảnh thiên nhiên tươi đẹp tuyệt vời.

Đi trên hồ Tơ Nưng bằng thuyền độc mộc, vừa ngắm cảnh vừa nghe người lái thuyền kể chuyện bí ẩn của vùng đất huyền thoại, hay cưỡi voi đủng đỉnh dạo quanh hồ; đêm về bên ché rượu cần nghe các cô gái, chàng trai múa hát, bạn sẽ được đắm mình trong không khí tưng bừng náo nhiệt bởi âm vang của cồng chiêng, của những lời ca điệu múa truyền thống đầy chất trữ tình và lãng mạn…
 
Biển trên núi


 
 
 
108410049_7354f18bc1.jpg image by tk88_2007
và chuẩn bị về đêm
Cây cổ thụ ven hồ

 
IMG_0432.jpg image by hunguyenpvi

Ngày 16-11-1988, thắng cảnh thiên nhiên Biển Hồ đã được Bộ Văn hóa- TT cấp Bằng: Di tích danh thắng. Biển Hồ ngoài tác dụng trữ nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho dân cư TP Pleiku, nó còn tạo ra một vùng sinh thái rộng lớn. Đặc biệt là các di chỉ khảo cổ được phát hiện tại Biển Hồ đã đem lại bộ sưu tập hiện vật phong phú, là bằng chứng chứng minh lịch sử lâu đời của mảnh đất Gia Lai tươi đẹp và huyền bí.

Cổng vào Biển hồ Nước

DSC06576.jpg image by quycoctu

Đường vào Biển hồ

Biển Hồ trong huyền thoại

  Nguyễn Quang Tuệ 
Theo các nhà khoa học, Biển Hồ là miệng một núi lửa đã ngủ yên. Một nhạc sĩ đã ví Biển Hồ là đôi mắt đẹp của Pleiku duyên dáng. Nhiều tuyến du lịch đã chọn nơi này làm một điểm tham quan của du khách trong và ngoài nước. Và, dĩ nhiên từ lâu lắm rồi, người dân Pleiku vẫn coi Biển Hồ là một niềm tự hào khi giới thiệu về thắng cảnh của quê hương mình với bạn bè…
Hàng nghìn năm đã đi qua, đất bazan vẫn đỏ sậm, mặt hồ vẫn xanh trong và những huyền thoại về Biển Hồ tiếp tục làm cho người ta thêm yêu nơi này.
Thiếu nữ Jrai Pleiku trong ngày hội

       Câu chuyện thứ nhất thuộc về một người nước ngoài khá nổi tiếng, đó là Henri Maitre. Trong công trình nghiên cứu xuất bản lần đầu năm 1912, tại Pháp (Les Jungles Moi – Rú Mọi hay là Rừng người Thượng, đã in tại Việt Nam, 2008) chẳng biết có phải là đã cầm lòng không đậu trước vẻ đẹp của Biển Hồ hay không mà ông dừng bút khá lâu tại đó. Trong tác phẩm, không chỉ khảo cứu hình thế, nguồn nước, con đường người Chăm thâm nhập cao nguyên thủa trước, mà từ những năm đầu thế kỉ 20, “nhà thám hiểm” người Pháp này còn ghi lại cho chúng ta một huyền thoại. Ông kể rằng: Teneung (Tơnueng – NV) là một cái hồ thiêng của người Habau (tức người Jrai Hà Bầu, một cách định danh nhóm tộc người – NV), nằm bên đường từ Pleiku đi Kon Tum. Theo người Jrai ở khu vực này, dưới đáy của cái hồ lớn ấy có một chiếc chum của thần Ia Tiaou – gọi là Seron Iuan – (Ia Tiaou có thể là sự phiên âm từ Yă Chao = Bà Chao; Seron Iuan là Seron Yuan = Một loại ghè quí do người Việt sản xuất – NV). Vì những lí do khác nhau, người Chăm đã trút tất cả nước vào đồng bằng Menam – một vùng đầm lầy rộng lớn nằm cách hồ Teneung 5 cây số về phía bắc – khiến nước hồ cạn đi. Sau đó, người Chăm sử dụng chính chiếc chum đó bịt nguồn nước lại. Vì vậy, khi họ kéo nó ra, nước nước liền vọt lên cuồn cuộn, nhấn chìm hết tất cả những người Jrai ở nơi đó, và làm cho đầy lòng hồ trở lại.
Câu chuyện thứ hai về Biển Hồ do ông Nay Ju kể trên Nguyệt san Thượng vụ, năm 1967. Chuyện kể đại ý rằng, ngày xưa, ở một làng Jrai rộng lớn nọ, năm kia bị hạn hán, trâu bò bị dịch bệnh chết hết. Đến ngày cúng yang, không có trâu bò, tộc trưởng đành sai người vào rừng tìm bắt nai về làm lễ. Sau khi đã có nai, theo thói quen, dân làng tụ tập tại nơi sẽ làm lễ, đánh chiêng, uống rượu suốt đêm. Rồi việc cúng yang với lễ vật là nai cũng được hoàn thành, mỗi người đều được chia một phần thịt của con vật ấy, theo tục xưa. Nào ngờ, mọi người đang vui vẻ ăn uống, bỗng mặt đất rung chuyển rồi sụp ập xuống. Nước từ đâu ào ạt dâng cao, dìm chết hết tất cả dân làng, trừ vợ chồng Măk – May đang đi thăm họ hàng ở nơi khác là còn sống. Hai người sọ hãi chạy đến các làng khác, kể cho họ nghe câu chuyện của làng mình. Từ đó, vùng đất này có Biển Hồ, cũng từ đó, người Jrai không dám cúng yang bằng thú rừng nữa.
Chuyện thứ ba do ông Rơmah Del kể, trong một tập truyện cổ được in tại Gia Lai – Kon Tum, năm 1983, đại ý: Ngày xưa, Ia Nueng là một bến nước không bao giờ cạn; ba làng người Jrai ở đó luôn sống trong no đủ. Ngày nọ, yă (bà) Pôm và yă Chao ra bến gùi nước. Trên đường đi, họ nhìn thấy một con heo trắng rất đẹp. Bà Chao chưa từng thấy con heo nào đẹp như vậy, liền nói với bà Pôm rằng, mình sẽ đem con vật kia về nuôi, nếu chủ nó biết sẽ liền trả lại. Mang heo về thả, bà Pôm chẳng thấy nó đi đâu mà chỉ ủn ỉn quanh nhà, cho gì cũng chẳng ăn, đến cháo gạo cũng còn chê. Thế rồi một hôm, bà phát hiện ra con vật quí của mình chỉ thích ăn cát. Từ đó, yă Pôm nuôi heo bằng cát. Lạ lùng sao, mới ba lần trăng tròn, con heo đã to bằng trâu… Sau mùa thu hoạch, dân làng sửa soạn cúng yang. Anh em em Rok, Set được cử đi tìm heo bự. Họ đi khắp nơi mà chưa được việc, đành trở về, đến nhà yă Pôm nài nỉ. Bà không chịu nhưng rồi cuối cùng thì những người ấy cũng vây bắt được con heo khổng lồ nọ. Heo trắng được giết thịt, cúng yang, chia đều cho mọi người. Thương heo quí, bà Pôm thề rằng, nếu mình ăn miếng thịt kia, đất sẽ động, Ia Nueng sụp xuống. Không ăn nhưng vì thương đứa cháu khóc suốt một ngày đòi ăn thịt, bà đành lấy cho nó một miếng nhỏ. Thế là, ông trời nổi giận và cái gì đến đã đến. Ia Nueng thành Biển Hồ từ đấy.

Hoa phong lan
Ba huyền thoại được kể vào những thời điểm khác nhau, mỗi cái một dáng vẻ nhưng dĩ nhiên, không phải là tất cả những gì thuộc về văn hóa dân gian liên quan đến Biển Hồ. Khảo cổ học hiện đại đã khẳng định Pleiku chính là nơi bao chứa “nền văn hóa Biển Hồ”. Ở đó, nhiều trầm tích văn hóa được phát hiện, đã chứng minh rằng từ xa xưa từng có dấu chân người tiền sử…
       Một hôm nào đó, đứng bên mặt hồ soi bóng thông yên bình trong vi vút gió lành, tôi thầm tự nhủ: May mắn sao, mình đang được sống ở một miền đất giàu có những tiềm năng!

HỒ THUỶ LỢI BIỂN HỒ

Hồ thuỷ lợi (Hồ B) nối thông với Hồ Tơ Nưng bởi kênh thông hồ, dân Pleiku thường gọi là Biển Hồ chè xây dựng từ năm 1978, hoàn thành đưa vào sử dụng năm 1983, hồ hình thành bởi đập chặn suối Ia Nhinh. Cấp nước cho Đập dâng Ia Sao tưới tự chảy cho 2.000ha cà phê, 60ha chè, 300ha lúa, màu và bổ sung nước cho Hồ Tơ Nưng (Hồ A hay Biển hồ nước) vào mùa mưa

Hồ B (Hồ Thuỷ lợi có diện tích tương đương Hồ Tơ Nưng Về mùa kiệt) 240ha,

Gần 400ha về mùa mưa Nếu du khách đi du thuyền của Khu du lịch sinh thái
Biển hồ thuộc Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Gia lai về phía thượng nguồn
(Núi Chư Jôr) sẽ thấy phong cảnh thiên nhiên còn rất nguyên sơ và hùng vĩ Có thể
xem thượng nguồn lòng hồ qua bản đồ vệ tinh sau: 
 
   
Thông số kỹ thuật hồ Thuỷ lợi

*Các thông số cơ bản của hồ chứa thuỷ lợi Biển hồ:

+ Cao trình MNDBT                          : + 745,00m

+ Cao trình MNDGC thiết kế P=1%   : + 746,47m

+ Cao trình MNDGC kiểm tra P=0,2%: + 746,71m

+ Cao trình MNC                               : + 738,00m

+ Dung tích toàn bộ                            : 42,00 x 106m3

+ Dung tích hữu ích                            : 28,50 x 106m3

+ Dung tích chết                                 : 13,50 x 106m3

+ Hệ số sử dụng dòng chảy a = 0,84

+ Hệ số dung tích b= 0,69

+ Chế độ làm việc của hồ chứa: điều tiết nhiều năm.

*Đập đất:

+ Cao trình đỉnh đập                    : +748,30m

+ Cao trình đỉnh tường chắn sóng  : +749,00m

+ Chiều rộng đỉnh đập                 :      5,50m

+ Chiều dài đỉnh đập                    :  L=280,00m

+ Chiều cao đập max                    : Hmax= 24,00m

+ Độ dốc mái thượng hạ lưu đập : mt =4,0; mh = 3,35 và 3,5

+ Hình thức kết cấu đập: Đập đất đồng chất + gia tải hạ lưu.

*Tràn xả lũ: Nằm ở Hồ Tơ Nưng (Biển Hồ) do hai nối thông nhau bởi kênh thông hồ

– Cao trình ngưỡng tràn            : +745,00m

– Cao trình đỉnh đập không tràn: + 748,30m

– Cột nước tràn max                 :       1,47m

– Chiều rộng tràn                      :    18,00m

– Lưu lượng thiết kế tràn P=1%:     51,00m3/s

*Cống lấy nước:

– Cao trình ngưỡng cống : +736,14m

– Lưu lượng thiết kế cống: 3,00m3/s

– Khẩu diện cống            : (1,00×1,25)m2

– Chiều dài cống             : 70,00m

– Cao trình đầu dốc nước : +735,50m

– Cao trình cuối dốc nước: +730,49

– Chiều dài dốc nước      :50,10m

– Độc dốc dốc nước        : 10%

– Chế độ chảy trong cống: không áp

*Đường quản lý cụm đầu mối:

– Chiều rộng mặt đường:       5,50m

– Chiều rộng nền đường:       7,50m

– Chiều dài đường        : 1.927,00m

– Kết cấu đường: nền đường đá dăm (4×6) dày 15cm, mặt đường đá dăm dày 10cm láng nhựa tiêu chuẩn 6kg/m2

DSC03014.jpg picture by viethungsokute

DSC03016.jpg picture by viethungsokute

ỦY BAN NHÂN DÂN  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TỈNH GIA LAI                              Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số : 90/2006/QĐ-UBND     Pleiku, ngày 01 tháng 11 năm 2006

QUYẾT ĐỊNH

V/v Phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu Lâm viên Biển Hồ,

thành phố Pleiku.

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003;

Căn cứ Luật Xây dựng năm 2003;

Căn cứ Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về Quy hoạch Xây dựng;

Theo đề nghị của UBND thành phố Pleiku tại Tờ trình số 182/TT-BQL ngày 19/10/2006 kèm theo Báo cáo thẩm định số 50/BCTĐ-SXD ngày 20/10/2006 của Sở Xây dựng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu Lâm viên Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo các nội dung sau:

1/ Địa điểm và ranh giới quy hoạch:

– Địa điểm: Xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

– Giới cận:

+ Phía Đông: Giáp đất trồng cây công nghiệp và khu dân cư thôn 3.

+ Phía Tây  : Giáp đất trồng cây công nghiệp.

+ Phía Nam: Giáp đường Tôn Đức Thắng.

+ Phía Bắc  : Giáp đường giao thông và đất trồng cây công nghiệp.

2/ Quy mô quy hoạch:

– Quy mô quy hoạch: 440,42 ha.

Trong đó:   + Diện tích mặt nước : 220,7 ha.

                   + Diện tích trên cạn  : 219,72 ha.

3/ Quy hoạch sử dụng đất:

– Diện tích mặt nước                              : 220,7 ha; chiếm tỷ lệ: 50,11%.

– Đất khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng: 20,6 ha; chiếm tỷ lệ: 4,67%.

– Đất giao thông, bãi đỗ xe                          : 51,3 ha; chiếm tỷ lệ: 4,67%.

– Đất nhà ở hiện trạng                                  : 4,48 ha; chiếm tỷ lệ: 1,01%.

– Đất khu nhà vườn                                      : 1,6 ha; chiếm tỷ lệ: 0,37%.

– Đất khu thưởng ngoạn ngắm cảnh, dạo bộ, vườn cây cảnh: 10,7 ha; chiếm tỷ lệ: 2,43%.

– Đất trồng cây xanh lâm viên, hoa viên, khu thưởng ngoạn ngắm cảnh: 131,04 ha; chiếm tỷ lệ 29,76%.

Tổng cộng : 440,42 ha; chiếm tỷ lệ: 100%.

4/ Quy hoạch kiến trúc cảnh quan:

Do cấu trúc địa hình của Biển Hồ hình thành từ miệng núi lửa âm nên độ dốc lớn và thoải đều bốn phía về lòng hồ. Giải pháp hình thành các đường vành đai, đường kỹ thuật, đường dạo bộ song song với đường đồng mức nhằm chống xói lở, chống ô nhiễm. Trên cơ sở đó hình thành 3 lớp cảnh quan chính cho Lâm viên gồm:

– Lớp cảnh quan vành đai (vành đai ngoài):

+ Hành lang bảo vệ tiếp giáp các khu dân cư, đường giao thông chính, đất sản xuất nông nghiệp, quốc phòng…

+ Hình thành đường vành đai cho Lâm viên, tạo hành lang cứng có hàng rào bảo vệ nghiệm ngặt hệ sinh thái của Biển Hồ. Trên cơ sở đó bố trí hệ thống thu và xử lý nước mưa tập trung nhằm tránh ô nhiễm và sạt lở cho thành hồ. Bố trí các vị trí giao tiếp với đường giao thông chính thông qua các lối vào Lâm viên theo 4 vị trí (Cổng vào chính đường Tôn Đức Thắng, cổng vào lâm viên và khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng phía Tây và cổng vào phía Đông khu sinh vật cảnh, vườn tượng, lâm viên trồng cây bản địa…).

+ Cảnh quan vành đai ngoài chủ yếu là cảnh quan dọc hai bên đường Tôn Đức Thắng đường Đ1, Đ2, Đ3, Đ4. Bố trí trồng cây xanh, đèn chiếu sáng, trang trí, hình thành vỉa hè đi bộ, cổng chào, bãi đậu xe, các công trình dịch vụ, hàng rào bảo vệ…

­- Lớp cảnh quan cây xanh, kỹ thuật:

+ Vành đai chuyển tiếp giữa vành đai và vành đai bảo vệ lòng hồ. Vành đai này có diện tích lớn 161,58 ha chiếm 68% so với diện tích trên cạn. Trong đó diện tích Lâm viên, thưởng ngoại là 107,68 ha. Diện tích trồng cây xanh chiếm tỷ lệ 80% còn lại là đường giao thông nội bộ và khu thưởng ngoại.

+ Tạo lớp cây xanh Lâm viên dày, trồng bổ sung thêm cây lớn, có tuổi thọ lâu năm, đây là lớp nền cho Lâm viên có ranh giới từ vành đai ngoài đến đường giao thông nội bộ.

+ Quy hoạch tuyến giao thông nội bộ ở cốt 745 m dọc theo đường đồng mức cùng cốt. Đường giao thông này có nhiệm vụ thu nước mưa, chống sạt lở và bố trí trồng cây xanh, đèn trang trí, lan can, kè đá bảo vệ…

+ Các điểm giao tiếp của đường nội bộ với các trục cảnh quan xương cá (các trục đầu nối từ cổng vào xuống lòng hồ) bố trí các hoa viên nhỏ, chòi nghỉ, ngắm cảnh…

– Lớp cảnh quan ven hồ:

+ Khu vực có nền đất yếu phủ trên bề mặt là phù sa do thủy triều lên xuống của dòng nước. Giải pháp trồng cây trang trí ven hồ và một số cây có chiều cao thấp, có khả năng chống xói lở.

+ Khu vực có khả năng bị xâm thực lớn cần gia cố kè đá, trồng cỏ chống sạt lở…

5/ Quy hoạch xây dựng hạ tầng kỹ thuật:

a. Giao thông:

– Hình thành đường giao thông vành đai ngoài, gồm các đường Tôn Đức Thắng, Đ2, Đ3, Đ4. Các đường có chỉ giới như sau:

+ Đường Tôn Đức Thắng (đoạn qua khu quy hoạch): Mặt cắt đường là: 30m; lòng đường 21m, vỉa hè mỗi bên 4,5m.

+ Đường Đ2: Lòng đường: 7m, vỉa hè mỗi bên từ 3m – 5m.

+ Đường Đ3: Mặt cắt đường là: 30,5m; lòng đường: 10,5m, vỉa hè mỗi bên 1,5m, ta ly đường mỗi bên 8,5m.

+ Đường giao thông nội bộ Đ4: Lòng đường 6m – 7m, vỉa hè + mương thu nước: 3m – 5m.

+ Đường giao thông dạo bộ Đ5: Lòng đường 3m, vỉa hè + mương thu nước: 2m.

+ Đường Đ6: Mặt cắt đường là: 26m; lòng đường: 14m, vỉa hè mỗi bên 5m, dãy cây xanh cách ly: 2m.

+ Đường Đ7: Mặt cắt đường là: 50m; lòng đường: 28m, vỉa hè mỗi bên 10m, dãy cây xanh cách ly: 2m.

b. Cấp nước:

– Nước cấp sinh hoạt cho các công trình sử dụng nguồn cấp nước chung Thành phố.

– Nước tưới cây xanh lâm viên, nước tạo cảnh quan sử dụng hệ thống bơm nước cục bộ lấy nước từ Biển Hồ.

– Kết cấu:

+ Đường ống chính cấp nước sạch cho sinh hoạt trong phạm vi Lâm viên dùng ống thép tráng kẽm D100 chôn dưới mặt đất dọc theo vỉa hè sâu 0,7m. Dọc theo trục đường ống khoảng trung bình 50m bố trí một trụ cứu hỏa D100 để cấp nước cứu hỏa.

+ Đường ống cấp nước tưới cây dùng ống thép tráng kẽm D50 chôn dưới mặt đất sâu 0,7m.

+ Lắp đặt 4 trạm bơm nước có công suất mỗi trạm 0,7 lít/giây để bơm cấp nước tưới cây và tạo cảnh quan cho Lâm viên.

– Công suất cấp nước sinh hoạt:

+ Cấp nước cho cán bộ công nhân viên 100 lít/người/ngày đêm.

+ Cấp nước cho khách du lịch 10-70 lít/người/ngày đêm.

+ Cấp cho chữa cháy và rò rỉ lấy 30% cấp nước sinh hoạt.

Tổng lưu lượng nước sạch cấp cho sinh hoạt 16 m3/ngày đêm.

c. Cấp điện:

– Nguồn điện đầu nối từ hệ thống đường dây 22KV dọc đường Tôn Đức Thắng.

– Kết cấu:

+ Đường điện 22 KV dùng cột thép mạ kẽm nhúng nóng và bê tông ly tâm cao 12m, dây dẫn dùng cáp bọc 24KV 3*XLPE/PVC 95mm2.

+ Đường điện cáp ngầm 0,4KV cấp điện cho sinh hoạt và máy bơm nước, dùng cáp bọc hạ thế CVV3*95+1*70 luồn trong ống thép D60 mạ kẽm chôn sâu dưới mặt đất 0,8m.

+ Đường điện cáp ngầm 0,4KV cấp điện cho đèn chiếu sáng giao thông và đèn chùm trang trí hoa viên dùng cáp bọc hạ thế CVV4*35 luồn trong ống thép D60 mạ kẽm chôn sâu dưới mặt đất 0,8m. Cột đèn chiếu sáng dùng cột thép hình bát giác cao 9m, sử dụng bóng đơn hoặc bóng đôi 250W-220W ánh sáng vàng. Cột đèn chùm trang trí hoa viên dùng cột cao 2,5m một bóng đơn hoặc 4 bóng.

– Công suất cấp điện:

+ Chỉ tiêu cấp điện cho công viên cây xanh TDTT 30KW/ha: P = 948kW.

+ Chỉ tiêu cấp điện cho chiếu sáng giao thông 25 KW/ha: P = 744 KW.

Tổng công suất cấp điện P = 1692 KW.

Chọn 3 trạm biến áp có tổng dung lượng S = 2.115KVA.

d. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường:

­- Nước thải sinh hoạt và nước mưa bên ngoài khu Lâm viên được thu gom bằng hệ thống mương thoát chính xây đá hộc rộng 1m, sâu 1,2m có nắp đan BTCT, hố ga thu nước có kích thước 1,5m x 1,5m x 1,5m, khoảng cách trung bình 50m bố trí một hố ga. Thoát theo hai hướng Bắc và hướng Tây về 2 trạm xử lý nước thải để xử lý rồi xả vào suối Vối.

– Nước thải sinh hoạt các công trình thuộc Lâm viên quy hoạch được thu gom bằng hệ thống mương thoát xây đá hộc rộng 0,8m, sâu 1m có nắp đan BTCT, hố ga thu nước có kích thước 1,2m x 1,2m x 1,2m, khoảng cách trung bình 50m bố trí một hố ga. Nước thải phải được xử lý cục bộ bằng hầm vệ sinh tự hoại trước khi thoát ra hệ thống mương chính của toàn khu.

– Nước mưa, nước mặt trong lâm viên quy hoạch sẽ được hướng dẫn bằng các mương xây đá hộc rộng 0,6m, sâu 0,8m có nắp đan BTCT, hố ga thu nước có kích thước 1m x 1m x 1m, khoảng cách trung bình 50m bố trí một hố ga. Hệ thống mương được bố trí dọc theo các trục đường giao thông trong khu Lâm viên. Nước mưa, nước mặt được dẫn về các bể xử lý nước sinh học để xử lý lắng lọc đạt tiêu chuẩn loại A trước khi cho chảy xuống hồ.

– Nước thải sinh hoạt sau khi xử lý phải đạt loại A, TCVN 5945 – 1995 theo Tiêu chuẩn Việt Nam trước khi cho thải ra suối Vối.

– Lưu lượng nước thải sinh hoạt lấy bằng 80% lượng nước cấp cho sinh hoạt.

Điều 2. Giao cho UBND thành phố Pleiku:

1/ Tổ chức công bố quy hoạch để các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện.

2/ Lập phương án bồi thường và di dời các hộ dân, mồ mả, ruộng vườn nằm trong quy hoạch.

3/ Chỉ đạo thực hiện dự án theo quy hoạch được duyệt, phối hợp với các cơ quan có liên quan để triển khai thực hiện.

Điều 3. Các Ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường; Giao thông Vận tải, Công nghiệp, Nông nghiệp và PTNT, Bưu chính Viễn thông, Nội vụ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku; Thủ trưởng các Sở, ban ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

Phạm Thế Dũng

DU LỊCH TÌM HIỂU VĂN HOÁ-DI CHỈ KHẢO CỔ BIỂN HỒ

Biển Hồ là di chỉ khảo cổ học đầu tiên ở Tây Nguyên được khai quật, có hiện vật phong phú, là đại diện cho nhóm di chỉ ở khu vực cao nguyên Pleiku được các nhà khảo cổ minh định là: Văn hóa Biển Hồ.

Biển Hồ vốn là miệng một núi lửa đã ngừng hoạt động từ lâu, nay thuộc xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Theo các nhà khảo cổ học, trong số 36 địa điểm khảo cổ học tiền sử ở Gia Lai, trong đó có 31 địa điểm cư trú – mộ táng, 5 địa điểm di chỉ cư trú – công xưởng chế tác rìu từ đá Opal… Các địa điểm này bước đầu được xác nhận thuộc văn hóa Biển Hồ. Di chỉ khảo cổ học Biển Hồ lần đầu tiên được biết đến bởi công bố của P.B. Lafont (1956). Đến năm 1993, Viện Khảo cổ học Việt Nam tổ chức khai quật 50m2, cách trung tâm Tp. Pleiku 6km theo đường chim bay, cách QL 14 khoảng 3km về phía Đông, cách di chỉ Trà Dôm 15km về phía Tây Bắc. Hiện nay, Biển Hồ đang trở thành một địa điểm du lịch tìm hiểu văn hóa rất hấp dẫn. Theo PGS.TS Nguyễn Khắc Sử – chủ trì công trình khai quật di chỉ khảo cổ học Biển Hồ: Di chỉ Biển Hồ có một tầng văn hóa. Lớp mặt, tầng văn hóa và sinh thổ đều là đất basalte, song độ rắn chắc và màu sắc các lớp là khác nhau. Tầng văn hóa đất sẫn hơn, tơi hơn và mật độ tập trung vết tích hoạt động của con người cao hơn. Trong hố khai quật 50m2 thu được 187 hiện vật đá, 1.650 mảnh tước, 17 hiện vật bằng đất nung và 32.289 mảnh gốm.

Đồ gốm ở di chỉ Biển Hồ có mật độ 650 mảnh/m2. Gốm Biển Hồ có 3 loại chất liệu: Gốm đỏ, gốm xám, gốm đen. Gồm các loại gốm miệng loe cong, loe gãy, miệng thẳng, cụp kiểu cóng cá vàng, miệng có cổ… Đế gốm có loại thẳng, xiên ngắn chân cao bát bồng, đế hình trụ chân xòe… Hoa văn của bát, bình, vò, nồi có văn thừng, văn khắc vạch các đường thẳng song song, trong đó có các vạch ngắn hình dạng hình học, chấm dải, đắp chỉ nổi, ấn lỗ hình vuông hoặc hình thoi; trổ ống dạ hình tròn hoặc bán nguyệt; miết láng trên gốm thô đỏ; tô ánh chì trên gốm thô đen… Gốm Biển Hồ đa số được nặn bằng tay, một số ít bằng bàn xoay, độ nung khá cao, chín đều, xương cứng, hạt mịn. Một số được tô thổ hoàng hoặc ánh chì. Ở đây vắng kỹ thuật dải cuội và để khuôn… Qua đó cho thấy: Biển Hồ là di tích cư trú – xưởng – mộ táng, trong đó vết tích cư trú là đậm đặc nhất; Niên đại hậu kỳ đá mới và sơ kỳ đồng thau, khoảng 3.500 năm cách ngày nay. Cư dân cổ ở Biển Hồ là những người định cư làm nông nghiệp, có kỹ thuật chế tác đồ đá, đồ gốm tương đối cao, có thể đã được chuyên môn hóa nhất định. Họ có quan hệ chặt chẽ với các cư dân trên cao nguyên Pleiku như Trà Dôm, Bàu Cạn, Thôn Bảy; với cư dân văn hóa Lung Leng (Kon Tum), văn hóa Bàu Tró (Quảng Bình) và cư dân khác ở ven biển Bắc Bộ Việt Nam và các cư dân tiền sử Lào, Campuchia.

Đặc trưng cơ bản của văn hóa Biển Hồ là việc sử dụng phổ biến bôn hình răng trâu làm từ Phtanite, rìu bôn có vai ghè lại lưỡi là từ đá silex, đá opal, những viền đá ghè tròn có lỗ thủng giữa, cùng với đồ gồm đất sét pha cát, chế tạo nặn tay kết hợp với bàn xoay, độ nung tương đối cao tạo ra nồi, bát bồng, vò, âu, ấm có vòi trang trí hoa văn khắc vạch… Mang dấu ấn đặc trưng của văn hóa Biển Hồ có di chỉ Trà Dôm, ở thôn An Mỹ, xã An Phú, Tp. Pleiku. Nơi đây các nhà khảo cổ học đã thu được 241 công cụ lao động, trên 32.000 mảnh gốm các loại… Thể hiện Trà Dôm là nơi cư trú, nơi để mộ táng và gia công lại công cụ đá của người tiền sử, thuộc hậu kỳ đá mới, sơ kỳ thời đại đồng thau, cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Tương đồng với văn hóa Biển Hồ có di chỉ thôn Bảy, huyện Chư Prông nằm cách Tp. Pleiku 30km về phía Đông Bắc theo đường chim bay. Di chỉ thôn Bảy rộng khoảng 10 ngàn m2. Ở đây phát hiện tới 2134 đồ đá, gồm công cụ rìu tứ giác, rìu vai xuôi, rìu vai vuông, đốc rìu, bôn có vai, cuốc, đục, cưa, bàn mài, hòn ghè, hòn kê… và hàng chục ngàn mảnh gốm được làm bằng bàn xoay, thể hiện ở các tiêu chí tròn đều, mỏng đều không thấy dấu kê dập.

* Văn hóa Taiper:

Lần đầu tiên ở Tây Nguyên tìm thấy công cụ bằng gỗ hóa thạch. Đó là trường hợp cư dân cổ Taiper, xã Iako, huyện Chư Sê Gia Lai) đã sử dụng gỗ hóa thạch làm nguyên liệu để làm bàn đá mài. Gia công và sử dụng phổ biến tinh thể thạch anh với nhiều kích thước khác nhau để làm đồ trang sức. Chế tác, tu chỉnh và sử dụng một số công cụ mảnh tước dạng hình học từ đá lửa, đá Opal. Đặc biệt cư dân Taipêr chỉ đảm nhận một công đoạn trong qui trình chế tác rìu có vai bằng đá Opal, thể hiện một kiểu phân công lao động và mối giao lưu văn hóa giữa Bắc và Nam Tây Nguyên. Taipêr là di chỉ khảo cổ học có quy mô lớn, có tầng văn hóa tương đối dày và được bảo tồn khá nguyên vẹn. Đây là nơi cư trú, xưởng chế tác rìu có vai bằng đá Opal, đồng thời là nơi để mộ táng của cư dân cổ. Tất cả các phác vật bằng đá Opal có kích thước nhỏ, còn lưu lại lỗi kỹ thuật trong quá trình chế tác. Bàn mài đa dạng về chất liệu, ổn định về chức năng… cho thấy cư dân Taipêr ở vào trình độ hậu kỳ đá mới – sơ kỳ đồng thau, niên đại khoảng 3.000 năm cách ngày nay. Chỉ sau khi phát hiện di chỉ – xưởng chế tác công cụ đá lửa này, nguồn gốc bản địa của các nền văn hóa Tây Nguyên mới được khẳng định. Đây là một nhận thức mới về tiền sử Tây Nguyên.

Nhận thức lớn nhất trong chuyến đi du lịch tìm hiểu văn hóa Tây Nguyên của chúng tôi là: Các nền văn hóa tiền sử trong vùng không tách rời nhau, đồng thời có mối giao lưu với các cư dân cổ vùng Đông Nam Bộ, ven biển Trung bộ, Bắc Việt Nam, Lào và Campuchia. Nền văn hóa cổ xưa ở Tây Nguyên có những đặc thù riêng, phản ánh một đời sống tinh thần, đời sống tâm linh phong phú và đa dạng, độc đáo và huyền bí.

Nguồn: ĐINH THỊ NGA
Du lịch tìm hiểm văn hóa (KỲ II: Lung linh biển hồ)(29/07/08)