HỎA NGỤC-DAN BROWN

Tên Ebook: Hỏa Ngục

Tác Giả: Dan Brown

Thể Loại: Trinh ThámKinh DịPhiêu Lưu

Dịch Giả:

Công ty phát hành: Bách Việt

Nhà xuất bản: NXB Thời Đại

Ngày xuất bản: 03/2014

Chụp pic: Hamy

Type: Candy Lai, TMT

Nguồn: cungquanghang.com

 

Hỏa Ngục – Dan Brown

Chương Mở Đầu:

Lời Cám ơn

Xin gửi lời cảm ơn chân thành và khiêm nhường nhất của tôi tới:

Đầu tiên và trên hết là người bạn thân cũng là biên tập viên của tôi, Jason Kaufman, vì sự tận tâm và tài năng…nhưng chủ yểu là vì khiếu hài hước bất tận của anh ấy.

Người vợ tuyệt vời của tôi, Blythe, vì tình yêu và lòng kiên nhẫn của cô ấy với quá trình viết lách, và cũng vì những bản năng siêu đẳng và sự vô tư của cô ấy với tư cách là một biên tập viên ở vị trí “tiền tuyến”.

Đại diện không biết mệt mỏi và cũng là người bạn tin cậy của tôi, Heide Lange, vì đã dẫn dất thành thạo nhiều cuộc trò chuyện ở nhiều quốc gia và về nhiều chủ đề hơn cả những gì tôi biết. Tôi mãi mãi biết ơn những kỹ năng và nghị lực của cô ấy.

Xin cảm ơn toàn bộ đội ngũ nhân viên ở Doubleday vì lòng nhiệt thành; sự sáng tạo và nổ lực đối với các cuốn sách của tôi. Đặc biệt cảm ơn Suzanne Herz (vì phải đảm nhiệm quá nhiều vai trò…và đã đảm nhận rất thành công), Bill Thomas, Michael Windsor/ Judy Jacoby, Joe Gallagher, Rob Bloom, Nora Reichard, Beth Meister, Marta Carella, Lorraine Hyland. Và cũng cảm ơn sự ủng hộ không ngừng của Sonny Mehta, Tony Chirico, Kathy Trager, Anna Mesitte, và Markus Dofile. Cảm ơn những con người phi thường thuộc phòng kinh doanh của Nhà xuất bản Random…Các bạn quả là vô đối.

Cảm ơn luật Sư uyên bác của tôi, Michael Rudell, vì bản năng hoàn hảo tuyệt vời trong giải quyết tất cả các vấn đề, cả lớn và nhỏ, cũng như vì tình bạn của anh ấy.

Cảm ơn trợ lý không thể thay thế của tôi, Susan Morehouse, vì thái độ làm việc và sự bền bí của cô ấy. Thiếu cô ấy, mọi thứ sẽ rơi vào hỗn loạn.

Xin cảm ơn tất cả bạn bè của tôi ở Transworld đặc biệt là Bill Scott-Kerr vì sức sáng tạo, sự ủng hộ và khuyến khích của anh ấy, và cả Gall Rebuke vì vai trò lãnh đạo siêu việt của cô ấy.

Cảm ơn Nhà xuất bản của tôi ở Ý, Mondadori, đặc biệt là Ricky Cavallero, Piera Cusani, Giovanni Dutto, Antonio Franchini, và Claudia Scheu, và Nhà xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ Altin Kitaplar, đặc biệt là Oya Alpar, Erden Heper, và Batu Bozkurt, vì sự giúp đỡ đặc biệt liên quan tới các địa danh trong cuốn sách này.

Cảm ơn các nhà xuất bản tuyệt vời khác trên khắp thế giới vì sự tận tụy, chăm chĩ và cam kết của họ.

Xin cảm ơn Leon Romero, Montalvo và Luciano Guglielmi vì vai trò quản lý rất ấn tương của họ đối với công việc dịch thuật ở London và Milan.

Xin gửi lời cảm ơn của tôi tới Tiến sĩ Marta Alvarez Gonzalez vì đã dành rất nhiều thời gian với chúng tôi ở Florence, và đã mang sức sống tới cho nghệ thuật và kiến trúc c ủa thành phố.

Cảm ơn Maurizio Pimponi, con người có một không hai, vì tất cả những gì anh ấy đã  làm đế trợ giúp chuyến đi của chúng tôi tới nước Ý. Dành nhiều thời gian với tôi ở Florence và Venice, chia sẻ kiến thức của họ: Giovanna Rao và Eugenia Antonucci ở Thư viện Medicea Laurenzianna, Serena Pini và đội ngũ nhân viên ở Cung điện Vecchio, Giovanna Giusti ở Phòng trưng bày Uffizi, Barbara Fedeli ở Nhà rửa tội và II Duôm, Ettore Vito và Massimo Bisson ở Thánh đường St.Mark, Giorgio Tagliaferro ở Cung Doge, Issabella di Lenardo, Elizabeth Carroll Consavari, và Elena Svalduz ở Venice, Annalisa Bruni; và đội ngũ nhân viên ở Thư viện Quốc gia Marcianna, và tới nhiều người mà tôi không thế nhắc đến trong bản danh sách ngắn gọn này.

Cảm ơn Richael Dillon Fried và Stephanie Delman ở cơ quan Đại diện Sanford J.Greenburger vì tất cả những gì họ đã làm cả ở Mỹ và ở nước ngoài.

Xin được cảm ơn những bộ óc phi thường của Tiến sĩ George Abraham, Tiến sĩ John Treanor, và Tiến sĩ Bob Helm vì khoa học chuyên môn của họ.

Chân thành cảm ơn các độc giả đầu tiên của tôi, những người đã đưa ra quan điếm của mình: Greg Brown, Dick và Connie Brown, Rebecca Kaufman, Jerry và Olivia Kaufman, John Chaffee.

Cảm ơn chuyên gia web Alex Cannon, người đã cùng với nhóm cộng sự ở xưởng Truyền thông Sanborn giữ cho mọi thứ hoạt động suôn sẻ trong thế giới trực tuyến.

Cảm ơn Judd và Kathy Gregg đã dành cho tôi không gian yên tình trong khuôn viên Green Gables đế tôi viết những chương cuối của cuốn sách này.

Cám ơn những nguồn trực tuyến tuyệt vời của Dự án Princeton Dante, Digital Dante tại Đai học Columnia, vả The World of Dante.

NHỮNG NƠI TÂM TỐI NHẤT CỦA ĐỊA NGỤC DÀNH RIÊNG CHO NHỮNG KẺ GIỮ THÁI ĐỘ TRUNG DUNG TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG ĐẠO ĐỨC.

Cơ sở thực tế

Mọi thông tin tham khảo bằng hình ảnh, minh họa, văn học, khoa học, và lịch sử trong cuốn tiếu thuyết này đều có thật.

“Consortium” là một tổ chức tư nhân có văn phòng đặt tại bảy quốc gia. Tên của tổ chức đã được thay đổi vì những lý do an ninh và quyền riêng tư.

Hỏa ngục (Inferno) là thế giới địa ngục được mô tả trong trường ca Thần Khúc (The Divine Comedy) của Dante Alighieri. Bản trường ca này khắc họa địa ngục như một V ương quốc có cấu trúc phức tạp, là nơi cư ngụ của những thực thế được cho là “vong linh” – những linh hồn vô hình bị mắc kẹt giữa chốn dương gian và cõi chết.

Khúc dạo đầu

Ta là Vong linh

Qua thành phố buồn đau, ta lẩn tránh.

Qua nỗi thống khố vĩnh hằng, ta trốn chạy.

Ta lê bước dọc bờ song Arno, thở không ra hơi…rẽ trái vào Via dei Castellani, lần lên phía bắc, lấn vào những bóng râm của tòa nhà Uffizi (1).

Và chúng vẫn truy lùng ta.

Giờ thì đã nghe rõ bước chân của chúng hơn khi mà chúng quyết tâm săn đuổi đến cùng.

Chúng săn lùng ta đã nhiều năm ròng. Sự đeo bám dai dẳng của chúng khiến ta phải ở dưới hầm…buộc ta phải sống trong cõi luyện hồn…quằn quại bên dưới mặt đất như một con quái vật âm phủ.

Ta là Vong linh.

ở trên mặt đất lúc này, ta nhướng mắt nhìn về phương bắc, nhưng không thế tìm thấy con đường thẳng tới sự cứu rỗi…vì dãy núi Apennine che lấp tia sáng đầu tiên của buổi bình minh.

Ta đi qua phía sau tòa nhà có ngọn tháp và những lỗ châu mai và đồng hồ chỉ có một kim…lách qua những người bán hàng rong buổi sớm ở Quảng trường San Firenze, tiếng rao khàn khàn của họ còn nồng nặc mùi lampredotto và ô liu nướng. Băng qua trước bảo tàng Bargello (2), ta cắt sang mé tây vè phía cầu thang xoắn ốc của Tu viện Badia (3) và đến ngay trước cổng sắt ở dưới chân cầu thang. Đến đây, phải gạt bỏ sau lưng mọi sự do dự. Ta vặn tay nắm và bước vào lối đi ta biết rõ sẽ không có đường trở lại. Ta hối thúc đôi chân nặng như chì bước lên dãy cầu thang hẹp…leo lên theo chiều xoắn ốc trên những bậc thang bằng đá cấm thạch mềm, lỗ chỗ và sứt mẻ.

Từ phía dưới vang lên những giọng nói. Đang van nài.

Chúng đang ở phía sau ta, không nhượng bộ, xáp lại gần.

Chúng không hiếu chuyện gì sắp đến…cũng như những gì ta đã làm cho chúng!

Đúng là mảnh đất bạc bẽo!

Khi ta leo lên, tầm nhìn trở nên khó khăn… Những thân hình đầy dục vọng quằn quại trong làn mưa dữ dội, các linh hồn tham lam ngoi ngóp trong phân thối, những kẻ xấu xa xảo trá đông cứng trong vòng tay băng giá của quỷ Satan.

Ta trèo lên mấy bậc thang cuối cùng và lên đến đính, loạng choạng ngã vào bầu không khí ấm ướt buổi sớm. Ta lao tới bức tường cao hơn đầu người, nhìn qua những kẻ hở. Xa phía dưới là thành phố thiêng liêng, nơi ta đã phải tìm cách trốn tránh những kẻ đày ải ta.

Những giọng nói vang lên, xáp lại gần phía sau lưng ta.”Những điều ông vừa làm thật điên rồ!”

Điên rồ dung dưỡng điên rồ.

“Vì tình yêu của Chúa!”, chúng gào lên, “Hãy nói cho chúng, tôi biết ông giấu nó ở đâu!”.

Nhưng chính vì tình yêu của Chúa, ta sẽ không nói.

Giờ ta đúng,bị dồn vào chân tường, lưng tựa vào lớp đá lạnh. Chúng nhìn xoáy vào đôi mắt xanh trong veo của ta, và nét mặt chúng sầm lại, không còn vẻ phĩnh phờ, mà là hăm dọa. “ông biết chúng tôi có phương pháp của mình mà. Chúng tôi có thế buộc ông nói nó ở đâu.”

Vì lý do đó, ta đã qua nửa chặng đường lên thiên đàng.

Chẳng cần báo trước, ta xoay người và rướn lên, bấu những ngón tay vào gờ tường cao, đu mình lên, bò trên hai gối, rồi đứíig dậy…chênh vênh trên vách tường. Xin hãy dẫn dắt ta, Virgil yêu quý, vượt qua khoảng không trống rỗng.

Chúng ngạc nhiên, nhào tới trước như muốn tóm lấy chân ta, nhưng lại sỢ rằng chúng sẽ làm ta mất thăng bằng và ngã nhào xuống. Giờ thì chúng van xin, trong nỗi tuyệt vọng lặng câm, nhưng ta xoay lung lại phía chúng. Ta biết mình phải làm gì.

Phía dưới ta, xa tít đến chóng mặt, những mái ngói đò chạy dài như một biến lửa chốn thôn quê, chiếu sáng mảnh đất thanh sạch nơi những người khổng lồ từhg dạo bước… Giotto, Donatello, Brunelleschi, Michelangelo, Botticelli.

Ta nhích từhg ngón chân đến mép tường.

“Xuống đây đi!”, chúng gào lên. “vẫn còn chưa quá muộn mà!”

Ôi, những kẻ ngu dốt nganh ngạnh! Các ngươi không nhìn thấy tương lai ư? Các ngươi không hiếu thấu vẻ huy hoàng ở các tác phấm sáng tạo của ta ư? Sự thiết yếu

Ta sẽ vui vẻ thực hiện sự hy sinh tối thượng này…và bằng việc đó, ta sẽ dập tắt hy vọng cuối cùng của các ngươi hòng tìm ra những gì các ngươi đang lùng kiếm.

Các ngươi sẽ chẳng bao giờ kip tìm thấy nó đâu.

Sâu dưới kia hằng trăm mét, quảng trường rải đá cuội như một ốc đảo yên bình mời gọi. Ta làm sao đợi thêm được nữa…trong khi thời gian chính là thứ hàng hóa cho dù có bộn tiền ta cũng không thế mua được.

Trong vài giây cuối cùng, ta phóng tầm mắt xuống quảng trường, và nhìn thấy một cảnh tượng khiển ta giật mình.

Ta nhìn thấy gương mặt nàng.

Từ trong bóng râm, nàng đang ngước lên nhìn ta.Đôi mắt nàng u sầu, nhưng trong đôi mắt ấy, ta cảm nhận được sự tôn kính dành cho những gì ta đã hoàn thành.Nàng hiếu ta không còn lựa chọn nào khác.Vì tinh yêu với Nhân loại, ta phải bảo vệ kiệt tác của mình.

Ngay lúc này nó vẫn phát triển… chờ đợi… âm ĩ bên dưới làn nước màu đỏ máu của cái đầm chẳng bao giờ phản chiếunhững ánh sao.

Ta rời mắt khỏi nàng và nhìn về phía chân trời. Phía trên thế giới đau khổ này, ta nói lời khấn cầu cuối cùng.

Hỡi Chúa kính yêu, con cầu xin thế giới ghi nhớ tên con không phải như một kẻ tội đồ đáng ghê tởm, mà như một vị cứu tinh vẻ vang, người biết thật sự là như vậy. Con cầu xin Nhân loại sẽ hiếu món quà con đếlại phía sau.

Món quà của con là tương lai.

Món quà của con là sự cứu rỗi.

Món quà của con là Hỏa ngục.

Nói xong, ta thầm khấn amen… và gieo bước chân cuối cùng vào khoảng không thăm thẳm.

(1)  Uffizi Gallery là bảo tàng ở Florence, một trong những bảo tàng nghệ thuật lâu đời và nổi tiếng nhất. Tòa nhà được Giorgio Vasari xây dựng năm 1560 làm văn phòng cho các quan tòa – vì thế mà thành tên gọi “Uffizi” (tức “office” hay “văn phòng”), (chú thích trong sách này là của dịch giả)

(2) Cung điện Bargello, còn gọi là Cung điện Nhân dân (Palazzo del Popolo) vốn là trại lính và nhà tù, nay là bảo tàng nghệ thuật ở Florence, Ý. Đây là công trình công cộng cổ nhất Florence, được xây dựíig năm 1255. Năm 1574, gia tộc Medici cho cảnh sát trưởng (bargello) của Florence đóng trụ sở tại tòa nhà này, vì thế thành tên gọi. Từ năm 1865, Bargello trở thành bảo tàng Quốc gia (Museo Nazionale del Bargello) trưng bày bộ sưu tập lớn nhất về điêu khắc Gothic và Phục hưng ở Ý (thế kỷ XVI – XVII)

(3)  Badia Fiorentina là tu viện kiêm nhà thờ trên phố Via del Proconsolo ở trung tâm Florence. Người ta cho rằng thi hào Dante, tác giả Thần Khúc, lớn lên ngay bên kia phố trong ngôi nhà được xây lại năm 1910 làm Bảo tàng Dante. Hiện nay, Badia là giáo đoàn của các tu sĩ và nữ tu dòng Tín hữu Gerusalemme, với các buổi cầu kinh hằng chiều lúc 6 giờ.

Chương 1:

Ký ức chầm chậm phục hồi… như bong bóng sủi lên từ thẳm sâu của một cái giếng không đáy.

Một phụ nữ che mạng.

Robert Langdon đăm đăm nhìn người phụ nữ phía bên kia con sông nước đỏ sánh như máu.ở bờ bên đó, người phụ nữ đứng đối diện anh, bất động, trang nghiêm, gương mặt ấn dưới tấm mạng che. Tay cô giữ chặt một mảnh vải taỉnỉa màu lam, đang được cô giơ cao lên để tỏ lòng tôn kính với biển xác chết dưới chân mình. Mùi tử khí nồng nặc khắp nơi.

Hãy tìm kiểm, người phụ nữ thì thào. Và anh sẽ thấy.

Langdon nghe thấy những từ ấy như thể người phụ nữ nói ngay trong đầu anh. “Cô là ai?”, anh gọi to, nhưng giọng anh không hề phát thành tiếng.

Thời gian đang cạn dần, người ấy thì thào. Hãy tìm kiểm và sẽ thấy.

Langdon nhích một bước về phía sông, nhưng anh nhìn thấy rõ nước đỏ như máu và quá sâu, không thể lội qua. Khi Langdon ngước mắt nhìn lại người phụ nữ che mạng thì những xác người dưới chân cô đã nhân lên vô khối. Giờ có đến cả trăm, có khi hàng nghìn, một số vẫn còn sống, đang quằn quại trong đau đớn, chị

đựng những cái chểt không dễ gì nghĩ ra được… bị lừa thiêu đốt, bị vùi lấp trông phân thối, xâu xé lẫn nhau. Anh có thể nghe rõ những tiếng kêu thảm thỉểt của con người vang vọng trên mặt nước.

Người phụ nữ tiến về phía anh, chìa hai cánh tay mảnh mai như thể đang cầu xỉn sự giúp đỡ.

“Cô là ai?”, Langdon lại gọi to

Đáp lại, người phụ nữ giơ tay và từ từ gỡ tấm mạng khỏi mặt mình. Bà ấy đẹp mê hồn, nhưng già hơn Langdon hình dung – có lẽ đã ngoài sáu mươi, oai nghiêm và rắn rỏi, giống nnư một bức tượng không nhuốm màu thời gian. Bà ấy có cái cằm cương nghị, đôi mắt sâu thẳm có hồn, và mái tóc bạc dài với những lọn quăn buông xõa xuống bờ vai. Cổ bà ấy đeo một miếng bùa bằng lam ngọc hình một con rắn quấn quanh cây quyền trượng.

Langdon có cảm giác mình đã biểt bà ấy… tin tưởng bà. Nhưng bằng cách nào? Tại sao lại như vậy?

Lúc này bà ấy chỉ tay vào một đôi chân đang giãy giụa, thò ngược lên từ dưới đất, rõ ràng là chân của một sinh lỉnh bất hạnh nào đó bị chôn ngược đầu tới tận thắt lưng. Phần đùi tái nhợt của người đó có một con chữ duy nhất – vỉểt bằng bùn –

R ư? Langdon ngẫm nghĩ, đầy phân vân. Giống như trong… Robert ư? “Không lẽ đó là… mình?”

Gương mặt người phụ nữ không hé lộ gì cả. Hãy tìm và sẽ thấy, bà ấy nhắc lại.

Không hề báo trước, người bà ấy bắt đầu tỏa ra một thứ ánh sáng màu trắng… càng lúc càng sáng hơn. cả cơ thể bà bắt đầu rung lên dữ dội, và sau đó, kèm theo một tiếng nổ lớn, bà vỡ tan thành cả nghìn mảnh ánh sáng.

Langdon hét lên, choàng tỉnh.

Căn phòng sáng trưng. Chỉ có mình anh. Mùi cồn y tể nồng gắt trong không khí và đâu đó có tiếng máy phát ra những âm thanh trùng khớp với nhịp tỉm của anh. Langdon cố gắng nhúc nhích cánh tay phải, nhưng một cơn đau nhói khiển anh đành thúc thủ. Anh nhìn xuống phía dưới và thấy một ống truyền dính chặt lấy lớp da cánh tay mình.

Mạch anh đập rộn, và cỗ máy cũng giữ đúng nhịp, phát ra những tiếng kêu nhanh hơn.

Mình đang ở đâu thể nhỉ? Có chuyện gì không biết?

Gáy Langdon nhói lên một con đau buốt. Rất cấn thận, anh đưa cánh tay còn lại chạm vào mặt mình, cố gắng định vị nguồn gốc cơn đau đầu. Bên dưới mái tóc rối bù, anh sờ thấy những nốt u cứng ngắt của hàng chục mũi khâu đã đóng vảy vì máu khô.

Anh nhắm mắt, cố gắng nhớ lại vụ tai nạn.

Không nhớ được gì cả. Trống rỗng hoàn toàn.

Nghĩ đi.

Chỉ có bóng tối mịt mùng.

Một người đàn ông mặc đồ thanh trùng bước vội vào, chắc chắn vì thấy màn hình cảnh báo nhịp tỉm đập nhanh của Langdon. ông ấy có bộ râu dày, ria cũng rậm, và đôi mắt dịu dàng toát ra vẻ điềm tĩnh ân cần bên dưới đôi lông mày rậm.

“Đã có chuyện., gì vậy?”, Langdon gắng gượng. “Tôi bị tai nạn à?”

Người đàn ông râu rặm đưa một ngón tay lên môi và sau đó chạy vội ra ngoài, gọi một ai đó dưới sảnh.

Langdon xoay đầu, cử động đó gây ra một cơn đau nhói lan khắp người anh. Anh hít mấy hơi thật sâu để cơn đau dịu đi. Sau đó, rất nhẹ nhàng và cấn thận, anh quan sát không gian vô trùng xung quanh mình.

Căn phòng bệnh viện này có một giường đơn. Không hoa hòe gì cả. Không bảng hiệu, Langdon nhìn thấy quần áo mình trên chiếc bàn quầy gần đó, gấp gọn trong một túi nhựa trong. Tất cả đều dính máu.

Chúa ơi. Chắc chắn là rất tệ.

Giờ Langdon chậm rãi xoay đầu về phía ô cửa sổ cạnh giường. Bên ngoài trời tối om. Đang đêm. Tất cả những gì Langdon có thể nhìn thấy trên kính là hình phản

chiểu của anh – một kẻ xa lạ nhợt nhạt, xanh xao và mệt mỏi, người đầy ống và dây nhợ, xung quanh là các thiết bị y tể.

Có tiếng nói tiến lại gần trong hành lang, và Langdon đưa mắt trở lại căn phòng. VỊ bác sĩ đã quay lại, đi cùng với một người phụ nữ.

Cô ấy có vẻ như mới ngoài ba mươi một chút. Cô mặc bộ đồ thanh trùng màu xanh da trời và buộc gọn mái tóc vàng thành một túm đuôi ngựa đung đưa sau gáy theo nhịp chân của cô.

“Tôi là bác sĩ Sỉenna Brooks”, cô nói, nhìn Langdon mỉm cười ngay khi vừa bước vào. “Tôi sẽ làm việc cùng bác sĩ Marconi tối nay.”

Langdon yểu ớt gật đầu.

Cao ráo và uyển chuyển, bác sĩ Brooks di chuyển với dáng vẻ dứt khoát của một vận động viên. Ngay cả khi trong bộ đồ thanh trùng kì cục, ở cô vẫn toát lên vẻ thanh thoát, thướt tha. Mặc dù Langdom có thể thấy rõ là cô không hề trang điểm nhưng nước da của cô vẫn có vẻ mịn màng lạ thường, với khỉểm khuyết duy nhất là một nốt ruồi duyên nhỏ xíu ngay phía trên môi. Đôi mắt cô, dù có màu hạt dẻ dịu dàng, dường như sắc sảo đến kỳ lạ, như thể chúng từng chứng kiến nhiều trải nghiệm mà một người trạc tuổi cô hiểm có dịp được tao ngộ.

“Bác sĩ Marconi không nói được nhiều tiếng Anh”, cô lên tiếng và ngồi xuống cạnh anh. “Và ông ấy đề nghị tôi giúp điền mẫu đơn nhập viện cho anh.” Cô lại mỉm cười.

“Cảm ơn cô”, Langdon rên ri.

“Được rồi”, cô lên tiếng, giọng toát lên sự tháo vát ân cần. “Tên anh là gì nhỉ?” Anh phải mất một lúc mới trả lời được: “Robert… Langdon”.

Co rọi đèn soi vào mắt anh. “Nghề nghiệp?”

Thông tin này được đưa ra còn chậm hơn nữa. “Giáo sư. Lịch sử nghệ thuật… và biểu tượng học. Đại học Harvard.”

Bác sỉ Brooks hạ đèn xuống, vẻ ngạc nhiên. Vị bác sĩ với đôi mày rậm trông cũng bất ngờ không kém.

“Anh là… người Mỹ à?”

Langdon ngơ ngác nhìn cô.

“Chỉ là…”, cô ngập ngừng. “Tối qua lúc anh đến đây, anh không hề có giấy tờ tùy thân. Lúc ấy anh mặc đồng phục Harris Tvveed và đi giày lười hiệu Someset, cho nên chúng tôi đoán anh là người Anh.”

“Tôi là người Mỹ”, Langdon quả quyết với cô, nhưng anh quá mệt không thể giải thích được rằng anh rất chuộng quần áo may đo riêng.

“Anh có thấy đau chỗ nào không?”

“Ở đầu tôi”, Langdon đáp, cái đầu vẫn đang nhoi nhói của anh gặp ánh đèn rọi

sáng quắc càng thêm khó chịu. May thay, bác sĩ Brooks bỏ đèn vào túi, cầm lấy cổ tay Langdon và kiểm tra mạch đập.

“Lúc tỉnh lại, anh la hét dữ dội”, cô nói. “Anh có nhớ tại sao không?”

Langdon vụt nhớ lại hình ảnh kỳ quái về người phụ nữ đeo mạng với những xác người quằn quại xung quanh. Hãy tìm và sẽ thấy. “Tôi gặp một cơn ác mộng.”

“Như thế nào?”

Langdon kể lại cho cô nghe.

Nét mặt của bác sĩ Brooks vẫn thản nhiên khi cô ghi chép trên kẹp hồ sơ. “Anh có nghĩ được điều gì gợi ra một hình ảnh khinh khủng như vậy không?”

Langdon lục lại ký ức rồi lắc đầu, động tác ấy khiển anh đau nhói như bị búa nện.

“Được rồi, anh Langdon”, cô nói, vẫn hý hoáy viết, “Có vài câu hỏi thông thường dành cho anh. Hôm nay là thứ mấy trong tuần rồi?”.

Langdon nghĩ một lúc. “Thứ bảy. Tôi nhớ lúc sớm hôm nay mình đang đi bộ qua khuôn viên,chuấn bị có một loạt tiết giảng buổi chiều… đó là điều cuối cùng tôi nhớ được. Tôi bị ngã phải không?”

“Chúng ta sẽ nói sau. Anh có biết mình đang ở đâu không?”

Langdon cố phán đoán. “Bệnh viện Đa khoa Massachusetts phải không?”

Bác sỉ Brooks lại ghi chép: “Và chúng tôi có cần gọi ai đó cho anh không? vợ? Hoặc con cái?”

“Không có ai cả”, Langdon đáp lại theo bản năng. Anh luôn thích sự tĩnh mịch và độc lập mà mình có nhờ lựa chọn cuộc sống độc thân, mặc dù anh phải thừa nhận rằng, trong tình huống hiện tại, anh thèm có được một gương mặt quen thuộc ở bên cạnh. “Tôi có thể gọi cho một vài đồng nghiệp, nhưng tôi ổn mà.”

Bác sỉ Brooks ngừng ghi chép, và vị bác sĩ lớn tuổi hơn tiến lại gần. ông ấy vuốt vuốt đôi mày rầm về phía sau, móc từ trong túi một chiếc máy ghi âm nhỏ và đưa cho bác sĩ Brooks. Cô gật đầu hiểu ý và xoay lại phía bệnh nhân của mình.

“Anh Langdon, tối nay khi anh đến đây, anh cứ lấm bẩm nhắc đi nhắc lại một điều gì đó.” Cô liếc nhìn bác sỉ Marconi đang giơ chiếc máy ghi âm kỹ thuật số ra và bấm nút.

Một đoạn ghi âm bắt đầu chạy, và Langdon nghe thấy giọng nói nhát gừng của minh, lặp đi lặp lại cùm từ: “Rất… xỉn lỗi. Rất… xỉn lỗi.”

“Theo tôi nghe”, người phụ nữ nói, “giống như anh đang nói “Rất xỉn lỗi. Rất xỉn Langdon tán thành, nhưng anh lại không hề nhớ gì về chuyện đó.

Bác sỉ Brooks đăm đăm nhìn anh với ánh mắt cực kỳ đáng ngại. “Anh có ý tưởng gì về lý do tại sao anh lại nói câu này không? Anh xỉn lỗi vì điều gì đó chăng?”

Khi Langdon lục lại những chỗ tối nhất trong ký ức của mình, anh lại nhìn thấy người phụ nữ che mạng. Bà ấy đang đứng trên bờ một con sông đỏ máu với những xác người xung quanh. Mùi tử khí quay trở lại.

Bỗng nhiên Langdon thấy ngập trong một cảm giác rất bản năng về sự nguy hiểm… không chỉ cho chính anh… mà cho tất cả mọi người. Tiếng máy theo dõi nhịp tỉm của anh tăng vọt. Các cơ trong người anh cứng lại, và anh gắng ngồi dậy.

Bác sỉ Brooks vội ấn mạnh tay lên ức Langdon, ép anh nằm xuống. Cô liếc nhanh về phía vị bác sĩ râu rặm lúc này đang bước về phía cái bàn quầy kể bên và bắt đầu chuẩn bị thứ gì đó.

Bác sỉ Brooks ghé sát người xuống Langdon, thì thào. “Anh Langdon, tâm lý lo lắng là chuyện rất bình thường với những ca chấn thương não, nhưng anh cần giữ cho mạch đập giảm xuống. Đừng cử động. Đừng kích động. Hãy nằm yên và nghĩ ngơi. Anh sẽ ổn thôi. Trí nhớ của anh sẽ dần dần hồi phục.”

Giờ vị bác sĩ kia quay lại cùng một ống tiêm và trao cho bác sĩ Brooks. Cô bơm toàn bộ số thuốc bên trong vào ống truyền của Langdon.

“Chỉ là một liều an thần nhẹ để anh bình tĩnh lại”, cô giải thích, “Và cũng để giảm đâu nữa”. Cô đứng lên. “Anh sẽ ổn thôi, anh Langdon. Hãy ngủ đi. Nểu anh cần gì, hãy bấm cái nút bên cạnh giường.”

Cô tắt đèn và rời đi cùng với bác sĩ râu rậm.

Trong bóng tối, Langdon cảm nhận rõ chất thuốc đang ngấm qua cơ thể anh gần như ngay tức thì, kéo thân xác anh chìm trở lại cái giếng sâu mà anh vừa ngoi lên. Anh cố chống lại cảm giác đó, cố mở to mắt trong bóng tối của căn phòng. Anh gắng ngồi dậy, nhưng có cảm giác cơ thể mình giống như cả khối xỉ măng.

Khỉ nhúc nhích, Langdon lại thấy mình nhìn ra ô cửa sổ. Đèn đóm đã tắt cả, và trong ô kính tối đen, hình ảnh phản chiểu của anh đã biển mất, thay vào đó là đường chân trời sáng lên phía xa.

Xen giữa những chóp nhọn và mái vòm nhấp nhô, nối bật trong tầm nhìn của Langdon là một mặt nền tráng lệ. Tòa nhà là một pháo đài đá rất uy nghi với lan can hình chữ V và ngọn tháp cao đến gần trăm mét phình ra ở gần đỉnh, tạo thành một khối đồ sộ có lỗ châu mai.

Langdon ngồi thẳng dậy trên giường, cơn đau như nổ tung trong đầu anh. Anh gắng nén cơn đau giần giật dữ dội và đăm đăm nhìn ngọn tháp.

Langdon biết rất rõ công trình trung cổ này.

Nó là thứ độc nhất vô nhị trên thể giới.

Tiếc thay, nó còn nằm cách xa Massachusetts tới bốn nghìn dặm.

Bên ngoài, cửa sổ phòng anh, ấn kín trong bóng tối của tòa nhà Via Torregalli(4), một phụ nữ có vóc dáng khỏe mạnh thong dong đấy chiếc mô tô BMW tiến tới với sự tập trung cao độ của một con beo đang rình mồi. Ánh mắt của ả sắc lạnh. Mái tóc cắt ngắn kiểu đầu đinh của ả nối bật trên phần cổ áo dựng ngược của bộ đồ lái xe bằng da đen. Ả kiểm tra lại vũ khí giảm thanh của mình, và chăm chú nhìn lên ô cửa sổ nơi ánh đèn Robert Langdon vừa tắt.

Chập tối nay, nhiệm vụ ban đầu của ả đã thất bại thảm hại.

Tiếng gù của một con bồ câu lẻ đàn đã làm thay đối mọi việc.

Giờ ả đến để giải quyết mọi thứ cho êm đẹp.

(4)Biệt thự Torregalli (hay lâu đài Torre Galli) là một phần của hệ thống pháo đài ở vùng Soffiano, thuộc gia tộc Nerli. Đến thế kỷ 17, quyền sở hữu thuộc về gia tộc Galli và đến năm 1868, nơi này trở thành tài sản của Paolo Gentile Farinola, người cho xây lại các phần tường có lỗ châu mai theo phong cách Trung cổ. Năm 1991, nó được công nhận là di tích lịch sử nghệ thuật và hiện nằm trong chế độ công quản.

Chương 2:

Mình đang ở Florence ư!?

Đầu Robert Langdon đau như búa bổ. Lúc này anh đang ngồi thẳng trên chiếc giường bệnh, liên tục nhấn nút gọi bác sĩ. Bất chấp số thuốc an thần trong cơ thể, tim anh vẫn đập rộn.

Bác sĩ Brooks vội vã chạy vào, túm tóc đuôi ngựa của cô đung đưa “Anh ổn chứ?”

Langdon lắc đầu đầy hoang mang. “Tôi đang ở…Ý à?”

“Tốt rồi”, cô nói. “Anh đang dần nhớ lại.”

“Không!” Langdon chỉ tay ra ngoài cửa sổ về phía tòa lâu đài uy nghi phía xa. “Tôi nhận ra cung điện Vecchio.”

Bác sĩ Brooks bật đèn sáng trở lại, và đường chân trời của Florence biến mất. Cô đến bên giường anh, dịu dàng nói khẽ. “Anh Langdon, không cần phải lo lắng như vậy. Anh đang tạm thời bị mất trí nhớ, nhưng bác sĩ Marconi khẳng định chức năng não bộ của anh vẫn ổn.”

Vị bác sĩ rậm râu cũng chạy xộc vào, rõ ràng ông cũng nghe thấy tiếng nút gọi. Ông kiểm tra máy theo dõi nhịp tim của Langdon trong khi đó nữ bác sĩ trẻ nói liến thoắng với ông bằng thứ tiếng Ý rất trôi chảy, hình như về việc Langdon đã “ kích động “ như thế nào khi biết mình ở Ý …

Kích động ư? Langdon giận dữ nghĩ thầm. Chết sững thì đúng hơn! Andrenalin trào dâng trong cơ thể anh lúc này đang đối chọi với thuốc an thần. “Có chuyện gì xảy ra với tôi?”, anh gặng hỏi. “Hôm nay là thứ mấy?”

“Mọi thứ đều ổn”, cô đáp. “Mới rạng sáng. Thứ Hai, ngày Mười tám tháng Ba.”

Thứ hai.

Langdong cố ép bộ óc đang đau nhói tua lại hình ảnh cuối cùng anh có thể nhớ ra – lạnh lẽo và tăm tối bước đi một mình qua khuôn viên Harvard để tới buổi giảng bài tối thứ Bảy. Tức là đã hai ngày trước ư?! Một cơn đau nhức buốt hơn níu chặt lấy Lanqdon khi anh cố nhớ lại bất kỳ chi tiết nào kể từ buổi lên lớp hoặc sau đó. Chẳng nhớ được gì. Tiếng máy theo dõi nhi.p tim của anh tăng nhanh.

Vị bác sĩ lớn tuổi gãi gãi chòm râu và tiếp tục điều chỉnh thiết bị trong khi bác sĩ Brooks ngồi xuống bên cạnh Langdon.

“Anh sẽ ổn thôi”, cô trấn an anh, giọng rất dịu dàng. “Chúng tôi chấn đoán anh bị suy yếu ký ức cũ, một chứng rất phố biến khi bị chấn thương vùng đầu. Ký ức về vài ngày qua của anh có thể lộn xộn hoặc biến mất, nhưng anh không hề bị tổn thương nào vĩnh viễn.” cô ngừng lại. “Anh có nhớ được tên tôi không? Tôi đã nói với anh lúc tôi mới vào đây.”

Langdon nghĩ một lúc, “Sỉenna”. Bác sĩ Sỉenna Brooks.

Cô mìm cười. “Thấy không? Anh đã hình thành trí nhớ mới.” cơn đau đầu khiến Langdon gần như không chịu nổi, và tầm nhìn rất gần của anh vẫn mờ nhòa. “Có chuyện gì…vậy? Làm thế nào tôi đến được đây?”

“Tôi nghĩ anh nên nghỉ ngơi, và có lẽ…”

“Làm sao tôi đến được đây?”, anh gặng hỏi, máy theo dõi nhịp tim càng nhanh thêm.

“Được rồi, hãy thở đều nào”, bác sĩ Brooks nói, trao đối với đồng nghiệp cái nhìn lo lắng. “Tôi sẽ nói với anh.” Giọng cô trở nên nghiêm túc thấy rõ. “Anh Langdon, ba giờ trước, anh lảo đảo bước vào phòng cấp cứu, trên đầu có một vết thương đang chảy máu, và anh ngã gục ngay lập tức. Không có người nào biết anh là ai hay làm cách nào anh tới được đây. Anh cứ lầm bầm bằng tiếng Anh cho nên bác sĩ Marconi đề nghị tôi hỗ trợ. Tôi từ Anh tới đây nghỉ phép.”

Langdon cảm thấy như thể mình vừa tỉnh lại trong một bức tranh của Max Emst*. Mình làm quái gì ờ Ý chứ? Thông thường Langdon vẫn tới đây vào mỗi dịp tháng Sáu để dự một hội thảo về nghệ thuật, nhưng giờ mới là tháng Ba.

(* Max Emst: ( 1891-1976 ) là họa sĩ, nhà điêu khắc và là nhà thơ người Đức. ỏng được coi làmột trong những nhà tiên phong của phong trào Dada vàchủ n ghĩa siêu thực.)

Thuốc an thần giờ có tác dụng mạnh hơn, và anh cảm thấy như thế lực hút trái đất đang tăng dần lên theo từng giây, ghìm chặt anh xuống tấm đệm. Langdon cố cưỡng lại, ngấng cao đầu, gắng giữ tỉnh táo.

Bác sĩ Brooks nghiêng người về phía anh, như một thiên thần che chắn. “Nào, anh Langdon”, cô thì thầm. ” Chấn thương đầu rất nhạy cảm trong vòng hai mươi tư giờ đầu tiên. Anh cần nghỉ ngơi, hoặc anh sẽ bị chấn thương nghiêm trọng đấy.”

Đột ngột có tiếng nói lại xạo vang lên trong hệ thống liên lạc của căn phòng. “Bác sĩ Marconi?”

Vị bác sĩ có râu nhấn một chiếc nút trên tường và trả lời, “vâng?”.

Giọng trong hệ thống liên lạc nói bằng tiếng Ý rất nhanh. Langdon không thể nghe được họ nói gì, nhưng anh nhìn thấy hai vị bác sĩ trao đổi một cái nhìn đầy ngạc nhiên. Hay báo nguy chăng?

“Chờ chút”, Marconi đáp, kết thúc cuộc trò chuyện.

“Có chuyện gì vậy?”, Langdon hỏi.

Đôi mắt của bác sĩ Brooks dường như hơi nheo lại một chút. “Nhân viên lễ tân bộ

phận chăm sóc đặc biệt ấy mà. Có người tới thăm anh.”

Một tia hi vọng rọi qua trạng thái chếnh chóng của Langdon. “Tin vui đấy! Có lẽ người này biết chuyện gì đã xảy ra với tôi.”

Trông Brooks không chắc chắn lắm. “Hơi lạ là lại có ai đến đây. Chính chúng tôi còn không thể biết tên anh, và thậm chí anh còn chưa được đăng kí vào hệ thống.”

Langdon cố chống chọi lại tác dụng của các loại thuốc giảm đau và loay hoay tìm cách ngồi thắng lại trên giường. “Nếu có ai đó biết tôi ờ đây, nhất dịnh người đó phải biết đã có chuyện gì xảy ra!”

Bác sĩ Brooks liếc nhìn bác sĩ Marconi, ông lập tức lắc đầu và liếc đồng hồ đeo tay. Cô quay lại phía Langdon.

“Đây là khoa chăm sóc đặc biệt”, cô giải thích. “Không ai được phép vào, sớm nhất cũng phải tới 9 giờ sáng. Một lát nữa bác sĩ Marconi sẽ ra xem vị khách kia là ai và người đó muốn gì.”

“Thế còn điều tôi muốn thì sao?”, Langdon vặn hỏi.

Bác sĩ Brooks kiên nhẫn mìm cười và hạ giọng, cúi xuống sát hơn. “Anh Langdon, có vài việc trong tối nay mà anh chưa biết…liên quan đến chuyện xảy ra với anh. Và trước khi anh trò chuyện với bất kỳ ai, tôi nghĩ tốt hơn cả là anh nên có đầy đủ mọi dữ kiện. Rất tiếc tôi không nghĩ là anh đã đủ khỏe mạnh để…”

“Dữ kiện gì cơ?”, Langdon thắc mắc, cố nhòm dậy thêm. Đường ống truyền dịch trên cánh tay anh nhói lên, và cơ thể anh ngã vật xuống như thể nặng đến vài trăm cân. “Tất cả những gì tôi biết là tôi đang nằm trong một bệnh viện ờ Florence và xuất hiện trong khi lặp đi lặp lại mấy chữ “rất xin lỗi…””

Một ý nghĩ đáng sợ vụt hiện ra trong tâm trí anh.

“Hay là tôi phải chịu trách nhiệm trong một vụ tai nạn xe hơi?”, Langdon hỏi. “Tôi làm ai đó bị thương à?!”

“Không, không”, bác sĩ Brooks đáp, “Tôi không nghĩ vậy!”

“Vậy thì chuyện gì đây?”, Langdon cố nài, nhìn cả hai vị bác sĩ đầy giận dữ. “Tôi có quyền được biết chuyện gì đang xảy ra!”

Im lặng kéo dài, và cuối cùng bác sĩ Marconi miễn cưỡng gật đầu với cô đồng nghiệp trẻ trung quyến rũ. Bác sĩ Brooks thở hắt ra và tiến lại sát bên giường của anh hơn. “Được rồi, đế tôi kể lại cho anh những gì tôi biết…, và anh cần lắng nghe một cách bình tĩnh, được chứ?”

Langdon gật mạnh khiến một cơn đau buốt lan khắp đầu anh. Anh không quan tâm lắm mà chăm chú chờ nghe câu trả lời.

“Vấn đề đầu tiên là thế này…vết thương ờ đầu anh không phải do một vụ tai nạn gây ra.”

“Tốt quá, nhẹ cả người.”

“Không đơn giản thế đâu. Thực tế, vết thương của anh là do một phát đạn.”

Màn hình theo dõi nhi.p tim của Langdon nhảy nhanh hơn, “Xỉn lỗi tôi nghe không rõ!”

Bác sĩ Brooks nói điềm tĩnh nhưng nhanh gọn. “Một viên đạn sượt qua đình đầu anh và chắc chắn khiến anh bị chấn động. Rất may mắn là anh còn sống. Chì thấp xuống một phân nữa thì…” Cô lắc đầu.

Langdon đăm đăm nhìn cô vẻ không tin. Có ai đó bắn mình ư?

Phòng đợi vang lên những tiếng đôi co đầy giận dữ. Có vẻ như ai đó thăm Langdon không muốn phải chờ đợi. Gần như ngay lập tức, Langdon nghe thấy ờ đầu kia hành lang có tiếng cánh cửa nặng nề bật tung. Anh cố nhìn cho tới khi thấy một bóng người đang tiến dần tới trong hành lang.

Người phụ nữ đó mặc toàn đồ da đen. Dáng cô ta rắn chắc và khỏe khoắn với kiểu đầu đinh. Cô ta di chuyển rất thư thái, cứ như thể đôi chân không hề chạm đất, và cô ta nhắm thắng về phía phòng của Langdon.

Không chút do dự, bác sĩ Marconi bước qua cừa hành lang để chắn lối đi của vị k hách. “Dừng lại!”, người đàn ông ra lệnh, bàn tay vươn ra như một viên cảnh sát.

Kẻ lạ mặt vẫn không hề chùn bước, rút ra một khấu sung giảm thanh. Ả nhắm thắng vào ngực bác sĩ Marconi và nã đạn.

Có tiếng gió rít.

Langdon kinh hãi chứng kiến khi bác sĩ Marconi lảo đảo bước lùi vào phòng, ngã vật xuống sàn, tay ôm chặt lấy ngực, chiếc áo choàng trắng của ông đẫm máu.

Chương 3:

Năm dặm ngoài khơi nước Ý, chiếc du thuyền sang trọng dài hơn bảy mươi mốt mét* mang tên The Mendacium chạy băng băng qua màn sương trước lúc rạng đông xuất hiện trên những lớp sóng dập dềnh của biền Adriatic. Phần thân thon của con tàu được sơn màu xám chì, khiến nó có khí sắc không mãy thân thiện rãt đặc trưng của một con tàu quân

thõng đo lường Anh-Mỹ. Để tiện cho độc giả theo dõi, người dịch đã chuyển sang hệ đo lường tương ứng thông dụng ớ Việt Nam. VD, ở đây là 237 foot tương đương 71.1m ( 1 foot ~0.3m)

Với giá hơn 300 triệu đô la Mỹ, con tàu tự hào với đầy đủ tiện nghi thông dụng – phòng tắm hơi, bể bơi, rạp chiếu phim, tàu ngầm cá nhân, và cả sân trực thăng. Tuy nhiên, những thứ lặt vặt cần dung hằng ngày của con tàu lại ít được chủ nhân quan tâm. Vị chủ nhân này nhận con tàu năm năm về trước, sau đó lập tức phá bỏ hầu hết tiện nghi này để lâp đặt một trung tâm chỉ huy điện tử cấp quân sự bậc nhất.

Được kết nối với ba đường truyền vệ tinh chuyên dụng và một loạt trạm tiếp sóng mặt đãt, phòng điêu khiển trên tàu The Mendacium có đội ngũ nhân viên hơn hai mươi người – gồm kỹ thuật viên, chuyên gia phân tích, chuyên gia điêu phôi tác chiến họ sống luôn trên tàu và giữ liên lạc thường xuyên với nhiều trung tâm tác chiến trên bộ của tổ chức.

Bộ phận an ninh thường trực trên tàu gồm một đơn vị binh sĩ tinh anh được huấn luyên bài bản về quân sự, hai hệ thống dò tìm tên lửa, và một kho vũ khí tối tân và bộ phận nhân viên hỗ trợ khác – đầu bếp, tạp vụ, và phục vụ – nâng tổng số người trên tàu lên hơn bốn mươi. Thực tế, tàu The Mendacium chính là tòa văn phòng di động giúp chủ nhân của nó điều hành cả để chế của mình.

Được các nhân viên xem như “Thị Trưởng”, chủ nhân con tàu là một người đàn ông nhỏ thó với làn da sạm nắng và cặp mắt sâu hoắm, vẻ ngoài không lấy gì đánh thuê vô cảm, kẻ tiếp tay cho tội ác, tên tay sai của quỳ dữ – nhưng ông ta không phải là hạng nào trong số này. Đơn giản là Thị trưởng cung cấp cho khách hàng cơ hội để theo đuổi tham vọng và dục vọng của họ bất chấp hậu quá, còn việc vốn dĩ con người ai cũng mâc sai lầm thì không phải vãn đề làm ông ta bận tâm.

Mặc kệ việc bị người ta chi trích và phản đối, kim chỉ nam đạo đức của Thị trưởng là một ngôi sao cố định.

– Ông ta tạo dựng danh tiếng và đế chế của mình dựaa— trên hai nguyên tắc vàng.

Không bao giở đưa ra lời hứa nếu không thể giữ lời.

Và không bao giờ nói dối khách hàng.

Chưa từng.

Trong sự nghiệp của mình, Thị trưởng chưa bao giờ thất hứa hay vi phạm thỏa thuận làm ăn. Lời nói của ông ta có thế đem thế chấp Ngân hàng được – một Trong sự nghiệp của mình, Thị trưởng chưa bao giờ thãt hứa hay vi phạm thỏa thuận làm ăn. Lời nói của ông ta có thế đem thế chấp Ngân hàng được – một vật bảo đảm tuyệt đối – và mặc dù chắc chắn có những hợp đồng ông ta lây làm tiếc vì đã thực hiện nhưng nuõt lời trước những hợp đồng đó chưa bao giờ là lựa chọn của ông ta cả.

Sáng hôm nay, khi bước ra ban công phòng ngủ trên du thuyên của mình, Thị trưởng phóng tầm mắt vê —Phía măt hiển đang nổi sóng và cố gắng xua đi mối băn khoăn đang cuộn lên trong long.

 Những quyết định trong quá khứ chính là các kiến trúc sư cho hiện tại của chúng ta.

Những quyết định trong quá khứ của Thị trưởng đã giúp ông ta luôn giành thế chủ động trong bãt kì hoàn cảnh khó khăn nào và thoát ra ở thê thượng phong. Tuy nhiên, ngày hôm nay, lúc nhìn qua cửa sổ vê phía những ánh đèn của lục địa phía xa, ông ta lại cảm thây bức bôi lạ thường.

—Một năm trước cũng trên chính con tàu này ông ta đã có một quyết định mà những dây mơ rễ má lằng nhằng của nó giờ đây đang đe dọa lật tung mọi thứ ông ta từng xây dựng. Ta đã đồng ý cung cấp dịch vụ cho nhầm người mãt rồi. Thời điểm đó, Thị trưởng không có cách nào biết được đều ấy, và lúc này việc tính toán sai lần đó kéo theo cả chuỗi thách thức chưa từng có, buộc ông ta phải phái một số đặc  vụ ngoại tuyến giỏi nhất của mình “vào trận”, với mệnh lệnh “làm bãt cứ việc gì cần thiết” để giữ con thuyền đang chao đảo của ông ta không bị lật úp.

Lúc này, Thị trưởng đang đợi nghe tin từ một đặc vụ rất đặc biệt.

Vayentha, ông ta nghĩ thầm, nhớ tới hình ánh một chuyên gia đầu đinh rắn rỏi. Vayentha, người luôn phục vụ ông ta đâu ra đấy cho tới sứ mệnh lần này tôi qua cô ta đã phạm một sai lầm với những hậu quả kinh khủng. Sáu tiếng qua quả là một cuộc ganh đua quyết liệt, một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tái kiểm soát tình hình.

Vayentha nói cô ta phạm lỗi chỉ đơn giản là do không may mán – con chim cất tiếng kêu không đúng lúc.

Tuy nhiên, Thị trưởng không tin vào may rủi. Mọi việc ông ta làm đều được sắp xếp để loại bỏ yếu tố ngẫu nhiên và may rủi. Quyền kiểm soát là chuyên môn cùa Thị trưởng – tiên liệu mọi khả năng dự đoán mọi phản ứng, và nhào nặn thực tiễn theo đúng kết quả mong muốn, ông ta có hồ sơ không tì vết về những phi vụ thành công và kín tiếng, cùng một danh sách khách hàng quen thân đáng nể – những tủ phú, chính trị gia, tộc trưởng Hồi giáo, và thậm chí các nhân viên Chính phủ.

Phía đông, quầng sáng nhờ nhờ đầu tiên của buổi sớm bắt đầu nuốt chửng những vì sao thấp nhất ở đường chân trời. Thị trưởng đứng trên sàn tàu và kiên nhẫn đợi Vayentha thông báo rằng sứ mệnh của cô ta đã tiên triển đúng như kẽ hoạch.

Chương 4:

Trong khoảnh khắc, Langdon cảm thấy như thể thời gian ngừng lại.

Bác sĩ Marconi nằm bất động trên sàn, máu tuôn ra từ ngực ông. Langdon cố cưỡng lại tác dụng của thuốc an thần trong cơ thể, ngước mắt nhìn lên kẻ ám sát đầu đinh lúc này vẫn đang sải bước ngoài hành lang, băng qua nốt mấy thước cuối cùng để tiếp cận khuôn cửa bỏ ngỏ vào phòng anh, Khi gần đến ngưỡng cửa, ả nhìn về phía Langdon và lập tức chĩa vũ khí về hướng anh…nhắm thẳng vào đầu.

Mình sắp chết, Langdon nhận ra như vậy. ở đây và ngay lúc này.

Một tiếng đập chát chúa vang lên trong phòng bệnh chật hẹp.

Langdon giật nảy, chắc chắn anh đã bị va đập, nhưng tiếng ồn đó không phải là tiếng súng của kẻ tấn công. Thay vào đó, tiếng đập ấy là tiếng đóng cảnh của thép nặng nề của phòng bệnh khi bác sĩ Brooks lao người vào cửa và xoay ổ khóa.

Đôi mắt dại đi vì sợ hãi, bác sĩ Brooks lập tức thụp xuống bên cạnh người đồng nghiệp đẫm máu của mình, cố gắng bắt mạch. Bác sĩ Marconi thổ ra một búng

máu, tràn dọc từ má xuống bộ râu dày. Rồi ông lả đi.

“Enrico, đừng! Xin anh!”, cô kêu lên.

Bên ngoài, cả loạt đạn nổ chát chúa nhằm vào lớp vỏ kim loại phía ngoài ô cửa. Tiếng chuông báo động vang lên khắp hành lang.

Bằng cách nào đó, cơ thể Langdon hoạt động trở lại, hoảng hốt và đầy bản năng, lấn át tác dụng của thuốc an thần. Trong lúc lóng ngóng leo ra khỏi giường, một cảm giác đau như phải bỏng xé qua cánh tay phải của anh. Trong khoảnh khắc, Langdon nghĩ một viên đạn đã xuyên qua cửa và trúng anh, nhưng khi nhìn xuống, anh nhận ra cây kim truyền vừa bung khỏi mình. Đường ống nhựa thòi ra từ một cái lỗ trên cánh tay, và dòng máiu nóng hổi đang chảy ngược ra khỏi ống.

Giờ thì Langdon hoàn toàn tỉnh táo.

Bác sĩ Brooks vẫn quỳ sụp bên cạnh xác Marconi, cố bắt mạch cho ông, nước mắt không ngừng trào ra. Sau đó, như thế có một công tắc vừa nhảy bên trong, cô đứng lên và quay lại phía Langdon. Vẻ mặt cô biến đổi ngay trước mắt anh, những nét trẻ trung như đanh lại với tất cả vẻ điềm tĩnh của một bác sĩ cấp cứu dày dạn đang phải xử lý một tình huống khủng hoảng.

“Theo tôi”, cô ra lệnh.

Bác sĩ Brooks nắm lấy tay Langdon và kéo anh băng qua phòng. Tiếng súng và tình trạng hỗn loạn vẫn tiếp tục trong hành lang khi Langdon lảo đảo bước đi trên đôi chân còn chưa vững. Đầu óc rất tỉnh táo nhưng cơ thế nặng như đeo đá c ủa anh lại phản ứng rất chậm. Đi nào! Sàn nhà lát đá hoa lạnh ngắt dưới gan bàn chân, và bộ quần áo bệnh viện mỏng manh không đủ dài để che kín thân hình hổn 1m80. Anh có thế cảm nhận được máu đang trào ra từ cánh tay và chảy xuống bàn tay mình.

Đạn vẫn tiếp tục bay tới ổ khóa nặng nề, bác sĩ Brooks đẩy vội Langdon vào một phòng tắm nhỏ. Cô định vào theo thì chợt dừng lại, nhìn xung quanh rồi chạy trớ lại phía quầy nhặt lấy chiếc áo hiệu Harris Tweed đẫm máu của anh.

cứ mặc xác cái áo khoác chết tiệt của tôi đi!

Cô quay lại, tay khư khư chiếc áo khoác và nhanh nhẹn khóa cửa phòng tắm.

Vừa lúc, cánh cửa phòng ngoài bật tung.

Cô bác sĩ trẻ đã nắm quyền kiếm soát. Cô bước vội qua gian phòng tắm nhỏ tới ô cửa thứ hai, giật tung ra và dẫn Langdon vào phòng hồi sức liền kề. Tiếng súng vang lên phía sau họ khi bác sĩ Brooks ghé đầu ra ngoài hành lang, nhanh chóng kéo tay Langdon và lôi anh băng ngang hành lang lọt vào khu vực cầu thang. Cử động đột ngột làm Langdon chóng mặt, anh cảm thấy có thế bất tỉnh bất kỳ lúc nào.

Mười lăm giây tiếp theo là tình trạng mờ nhòe…đi xuống cầu thang…trượt chân… ngầ. Cơn giật giật trong đầu Langdon gần như không thế chịu nổi. Thị lực của anh lúc này dường như còn mờ nhòe hơn, các cơ bắp rã rời, mỗi cử động đều có cảm giác như một phản ứng rất chậm trễ.

Và lúc này khi trời lạnh hẳn lên.

Mình đã ra ngoài.

Khi bác sĩ Brooks đẩy anh rời xa khỏi tòa nhà dọc theo một con hẻm tối om, Langdon giẫm phải thứ gì đó sắc cạnh và ngã chúi xuống, đập mạnh vào vỉa hè. Cô cố gắng giúp anh đứng dậy, miệng rủa thành tiếng chuyện anh vẫn chịu tác động của thuốc an thần.

Khi họ tới gần cuối hẻm, Langdon lại vấp lần nữa. Lần này cô để mặc anh nằm trên đất, chạy băng ra phố và thét gọi ai đó ớ phía xa. Langdon có thế nhận ra ngọn đèn màu xanh lục nhòe nhòe của một chiếc taxi đỗ ngay phía trước bệnh viện. Chiếc xe không hề di chuyến, rõ ràng người lái xe đang say ngủ. Bác sĩ Brooks hét to và khua khoắng tay. Cuối cùng, đèn pha taxi bật lên và xe chầm chậm lăn bánh về phía họ.

Trong hẻm phía sau Langdon, có tiếng cánh cửa bật tung, tiếp theo là tiếng những bước chân đang tiến đến rất gấp gáp. Anh ngoảnh lại và nhìn thấy cái bóng đem thẫm đang lao vọt về phía mình. Langdon cố gắng đứng dậy, nhưng cô bác sĩ đầ ôm lấy anh, đẩy anh vào ghế sau của chiếc taxi hiệu Fiat. Anh buông nửa người trên ghế, nửa trên sàn xe trong khi bác sĩ Brooks chồm lên, dùng tay giật cho cửa đóng lại.

Người tài xế ngái ngủ ngoái lại và trợn mắt nhìn cặp đôi kỳ quặc vừa chen lên xe

mình – một phụ nữ tóc đuôi ngựa trẻ trung mặc quần áo bác sĩ và một người đàn ông mặc đồ bệnh nhân với cánh tay chảy máu. Anh ta sắp lên tiếng yêu cầu họ cuốn xéo ra khỏi xe thì gương bên sườn xe vồ tan. Người phụ nữa mặc đồ da đen chạy phăm phăm ra khỏi hẻm, tay chĩa súng. Khẩu súng ngắn của ả lại nhả đạn lần nữa vừa lúc bác sĩ Brooks nhấn đầu Langdon xuống. Cửa sổ sau vỡ tan, mảnh kính rơi xuống người họ rào rào.

Người lái xe không cần ai thúc giục thêm. Anh ta đạp mạnh chân ga, chiếc taxi phóng vọt đi.

Langdon vẫn trong trạng thái lơ mơ. Ai đó đang tìm cách giết mình ư?

Khi họ đã ngoặt qua góc đường, bác sĩ Brooks ngồi dậy và nắm lấy cánh tay chảy máu của Langdon. Đường ống nhựa thò ra từ cái lỗ trên da thịt anh.

“Nhìn ra ngoài cửa đi”, cô ra lệnh.

Langdon tuân theo. Bên ngoài, những tấm bia mộ ma quái vùn vụt trôi qua trong bóng tối. Dường như họ đang băng qua một nghĩa địa. Langdon cảm thấy những ngón tay của cô bác sĩ nhẹ nhàng nắm lấy ống nhựa và sau đó, không hề báo trước, cô giật mạnh ra.

Một cơn đau buốt chạy thẳng lên đầu Langdon. Anh cảm thấy mắt mình mờ đi, và sau đó mọi thứ tối đen.

Chương 5:

Tiếng chuông điện thoại vang lên khiến Thị trưởng rời mắt khỏi màn sương êm đềm trên biển Adriatic, ông ta nhanh nhẹn bước vào văn phòng riêng.

Rất đúng lúc, ông ta nghĩ, vẻ háo hức chờ đợi tin báo.

Màn hình máy tính trên bàn làm việc của ông ta chớp chớp bật lên, thông báo rằng cuộc gọi đến từ một điện thoại mã hóa giọng nói cá nhân hiệu Sectra Tiger XS của Thụy Điển, đã được gửi lại qua bốn thiết bị tiếp sóng không thể truy ra dấu vết trước khi kết nối vào tàu của ông ta.

Ông ta nhấc ống nghe. “Thị trưởng đây”, ông ta trả lời, chậm rãi và cấn trọng. “Nói đi!”

“Tôi Vayentha đây”, giọng bên kia đáp lại.

Thị trưởng cảm nhận rõ sắc thái bồn chồn khác thường trong ngữ điệu của ả.

Các đặc vụ hiếm khi trực tiếp nói chuyện với Thị trưởng, và hiếm khi vẫn được làm việc cho ông ta sau một thất bại giống như tối qua. Tuy nhiên, Thị trưởng đã yêu cầu một đặc vụ tại đó giúp khắc phục biến cố, và Vayentha là người thích

hợp nhất cho công việc này.

“Tôi có tin mới”, Vayentha nói.

Thị trưởng im lặng, cảm nhận của ông ta về ả vẫn nguyên vẹn.

Khi ả nói, ngữ điệu hoàn toàn vô cảm, thể hiện rõ một cố gắng ở tầm cổ chuyên gia. “Langdon đã trốn thoát”, cô ta nói. “Anh ta có người.”

Thị trưởng ngồi xuống mặt bàn và im lặng một lúc khá lâu. “Hiểu”, cuối cùng ông ta nói. “Tôi cho rằng anh ta sẽ tìm tới cơ quan chức năng sớm nhất có thể.”

Phía dưới Thị trưởng hai tầng, ở trung tâm kiếm soát an ninh của con tàu chuyên gia điều phối cao cấp Laurence Knowlton ngồi trong buồng      nhận  ra cuộc gọi mã hóa của Thị trưởng đã

chấm dứt. Anh ta hy vọng tin tốt lành, vẻ căng thăng của Thị trưởng thấy rất rõ suốt hai ngày qua, và mọi nhân viên điều hành trên tàu đều cảm thấy chắc chắn có một tác vụ rất quan trọng nào đó đang diễn ra.

Nguy cơ đang quá cao, và tốt hơn cả là lúc này Vayentha thu xếp ổn thỏa.

Knowlton đã quen với việc hỗ trợ những kế hoạch được xây dựng kỹ lưỡng, nhưng riêng kịch bản này lại chẳng đi đến đâu, và Thị trưởng phải đích thân tham chiến.

Chúng ta đã tiến vào một lãnh thổ chưa có tên trên bản đồ.

Mặc dù có đến nửa tá nhiệm vụ khác đang được tiến hành trên khắp thế giới, n hưng tất cả đều do những văn phòng ngoại tuyến khác nhau của Consortium thực hiện, giúp Thị trưởng và bộ sậu của ông ta trên con tàu The Mendacium rảnh rang tập trung vào sứ mệnh này.

Khách hàng của họ đã nhảy lầu tự sát vài ngày trước tại Florence, nhưng Consortium vẫn còn nợ người đó vô số công việc – những nhiệm vụ cụ thế người ấy đã giao phó cho tổ chức này bất kế tình hình thế nào – và Consortium lúc nào cũng vậy, phải tuân thủ mà không được nghi vấn gì cả.

Mình cũng nhận được mệnh lệnh, Knowlton nghĩ thầm, và hoàn toàn chấp hành. Anh ta ra khỏi gian buồng lắp kính chống đạn của mình, đi bộ qua mấy buồng nữa – một số nhìn xuyên qua được, một số lắp kính mờ – nơi các nhân viên tác vụ đang xử lý các mảng khác nhau của cùng nhiệm vụ này.

Knowlton bước qua lớp không khí điều hòa của phòng điều khiến chính, gật đầu với tốp kỹ thuật, và bước vào một khoang nhỏ có lối đi riêng cất giữ hổn chục cái két. Anh ta mở một cái két và lấy những thứ bên trong ra – lần này, chỉ là một thẻ nhớ màu đỏ thẫm. Theo miếng giấy ghi nhiệm vụ đính kèm, thẻ nhớ này chứa một tệp video lớn, vị khách hàng đã chỉ đạo họ chuyến cho các cơ quan truyền thông lớn vào một thời điếm cụ thế lúc sáng mai.

Việc gửi tệp ẩn danh vào sáng mai rất đơn giản, nhưng theo quy trình chung cho tất cả các tệp số hóa, lưu đồ đã đánh dấu tệp này cho mục duyệt lại ngày hôm nay – hai mươi tư tiếng trước khi gửi – để đảm bảo Consortium có đủ thời gian thực hiện bất kỳ quy trình giải mã, biên soạn cần thiết nào, hoặc những bước chuẩn bị quan trọng khác trước khi chuyến tệp vào đúng thời điếm.

Loại trừ hết mọi may rủi.

Knowlton quay lại gian buồng trong suốt của mình và đóng cánh cửa kính nặng nề lại, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài.

Anh ta bật công tắc trên tường, gian buồng lập tức trở nên mờ đục. Đế đảm bảo tính bảo mật, tất cả các buồng vách kính trên tàu The Mendacium đều được tạo bằng loại kính SPD thông minh. Độ trong suốt cửa kính được kiếm soát dễ dàng bằng cách vận hành hoặc loại bỏ một dòng điện, giúp điều chỉnh thẳng hàng hoặc làm lộn xộn hàng triệu phân tử hình que nhỏ xíu lơ lửng trong tấm kính.

Chia thành từng ngăn là một nền tảng trong Consortium.

Chỉ biết nhiệm vụ của mình. Không chia sẻ gì hết.

Lúc này, Knowlton ngồi gọn trong không gian riêng, cắm thẻ nhớ vào máy tính và chọn tệp để bắt đầu công việc thẩm định.

Lập tức màn hình của anh ta chuyến sang màu đen…và loa bắt đầu phát ra những âm thanh khe khẽ của nước chảy. Một hình ảnh từ từ xuất hiện trên màn hình…không có hình dạng xác định và lờ mờ. Từ trong nền tối dần định hình một khung cảnh…bên trong một hang đá…hay gian buồng rất lớn. Nền không gian đó là nước, giống như một cái hồ ngầm. Điều rất lạ là nước có vẻ được chiếu sáng…

Trong khi âm thanh nước chảy vẫn tiếp tục, máy quay bắt đầu lia xuống dưới hà hạ thấp dần theo chiều dọc, hướng thẳng tới mặt nước được chiếu sáng rồi lao xuyên qua. Tiếng nước róc rách biến mất, thay bằng tiếng óc ách rất lạ phía dưới. Giờ thì máy quay đã chìm nghỉm, tiếp tục tiến xuống, di chuyến vài thước trong nước rồi dừng lại, lấy nét vào phần nền hang phủ đầy bùn đất.

Trên nền có bắt vít một tấm biến hình chữ nhật bằng titan tỏa ánh sáng lờ mờ.

Tấm biến có dòng chữ khắc.

TẠI NƠI NÀY, VÀO NGÀY NÀY,

THẾ GIỚI THAY ĐỒI MÃI MÃI.

Phần dưới tấm biến có khắc một cái tên và ngày tháng.

Đó là tên vị khách hàng của họ.

Ngày tháng…chính là ngày mai.

Chương 6

Lúc này Langdon cảm thấy có bàn tay rắn chắc nâng anh dậy…lay anh tỉnh cơn mê rồi giúp anh ra khỏi taxi. Anh cảm thấy vỉa hè lạnh ngắt bên dưới hai bàn chân trần.

Được thân hình mảnh mai của bác sĩ Brooks dìu đd, Langdon bước lảo đảo dọc theo lối đi vắng vẻ giữa hai tòa nhà. Không khí buổi sớm mai làm chiếc áo bệnh nhân của anh căng phồng, và Langdon cảm thấy lạnh ở những chỗ anh biết lẽ ra không cảm nhận được.

Thuốc an thần anh uống khi còn ở bệnh viện khiến cho cả suy nghĩ và thị lực của anh đều nhạt nhòa, mờ mịt. Langdon cảm thấy như đang ở dưới nước, cố gắng quờ quạng tìm lối thoát trong một thế giới lờ mờ, nhớp nháp. Bác sĩ Brooks vẫn xốc anh đi tới, dìu anh bằng một sức mạnh kinh ngạc.

“Cầu thang”, cô nói, và Langdon nhận ra họ đã tới lối vào bên hông một tòa nhà.

Langdon bám lấy tay vịn và cố lê bước leo lên trong trạng thái chóng mặt, mỗi bước phải mất một lúc khá lâu. Cớ thể anh nặng trịch. Giờ thì bác sĩ Brooks phải đấy anh. Khi họ lên được chiếu nghỉ, cô bấm vài con số trên một phím khóa cũ rĩ

sét và cánh cửa xè xè mở ra.

Không khí bên trong không ấm hơn là bao, nhưng so với vỉa hè gồ ghề bên ngoài, nền gạch lát dưới lòng bàn chân anh lúc này giống như tấm thảm mềm. Bác sĩ Brooks dẫn Langdon tới một thang máy nhỏ và giật mạnh cửa sập, kéo anh vào trong buồng thang chỉ bằng cố một quầy điện thoại. Không khí bên trong có mùi thuốc lá MS – một mùi hương ngòn ngọt pha chút đắng thường gặp ở Ý, không khác gì mùi café esp     resso. Thứ mũi đó giúp đầu óc  Langdong tỉnh táo chút ít. Bác sĩ Brooks nhãn nút, và đâu đó phía trên đầu họ, bánh rầng rệu rạo bắt đầu uể oải vận hành.

Dịch chuyển lên trên

Buồng thang máy lắc lư và rung bần bệt khi kẽo kẹt chạy lên trên. Vì bốn vách chỉ toàn những tấm kim loại nên Langdon nhìn rõ không gian bên trong đường ống thang máy lướt đều đều trước mắt. Cho dù vẫn đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, cảm giác sợ hãi muôn thưở của Langdon đối với những không gian khép kín vẫn nguyên vẹn và rõ rệt.

Đừng nhìn!

Anh dựa vào vách, cố gắng lấy lại nhịp thở. Trán anh đau nhói, và khi nhìn xuống dưới, anh thấy ống tay áo Harris Tvveed của mình được buộc vội vàng quanh cánh tay giống như một dải băng. Phần còn lại của áo khoác kéo lê phía sau anh, ngay trên mặt đất, te tua và bẩn thỉu.

Anh nhắm mắt lại để cố chống chọi với cơn đau như búa bổ ở đầu, nhưng bong tối lại nhấn chìm anh lần nữa.

Một hình ảnh quen thuộc hiện ra – người phụ nữ che mạng đẹp như tượng với chiếc bùa và mái tóc bạch kim tết thành từng lọn quăn. Như lần trước, bà ấy đứng trên bờ dòng sông máu với những xác người quằn quại vây quanh. Bà nói với Langdon, giọng nài nỉ.

Hãy tìm kiếm và sẽ thấy!

Langdon cảm giác rất rõ ràng là phải phải cứu bà ấy…cứu tất cả bọn họ. Những đôi chân chống ngược lên trời, đã bị vùi lấp một nửa, cứ lần lượt theo nhau… mềm oặt xuống.

Bà là ai? Anh cố gắng gọi trong lặng câm. Bà muốn điều gì?!

Mái tóc bạch kim bắt đầu lòa xòa bay trong gió nóng rực. Thời gian của chúng ta

đang cạn dần, bà ấy thì thào, tay chạm vào chiếc vòng cổ có gắn bùa. Rồi đột ngột bà ấy nổ tung thành một cột lửa chói lòa, lan nhanh qua dòng sông, bao bọc lấy bọn họ.

Langdon hét lên, mở choàng mắt ra.

Bác sĩ Brooks nhìn anh lo lắng, “Sao vậy?”

“Tôi cứ bị ảo giác!”, Langdon kêu lên. “vẫn là cảnh tượng ấy.”

“Người phụ nữ tóc bạc ư? Và toàn những xác chết phải không?”

Langdon gật đầu, m@ hôi đọng thành giọt trên trán anh.

“Anh sẽ ổn thôi”, cô trấn an anh, mặc dù chính giọng cô cũng run run. “Những hình ảnh xuất hiện đi xuất hiện lại là điều thường thấy với chứng mất trí. Chức nầng não bộ giúp sắp xếp và phân loại ký ức của anh nhất thời bị chấn đổng, và vì thế nó biến mọi thứ thành một hình ảnh duy nhất.”

“Không phải là hình ảnh đẹp đẽ cho lắm”, anh nói.

“Tôi biết, nhưng cho tôi khi anh lành bệnh, trí nhớ của anh sẽ lộn xộn và không

được sắp xếp – quá khứ, hiện tại và khả năng tưởng tượng sẽ lẫn lộn với nhau. Tình trạng tương tự cũng xảy ra trong các giấc mơ.”

Buồng thang máy lắc lư rồi dừng lại, và bác sĩ Brooks kéo cánh cửa xếp ra. Họ I ại đi bộ, lần này dọc một hành lang hẹp, tốl om. Họ đi qua một ô cửa sổ, phía bên ngoài bong, các nóc nhà tối thẫm ở Florence bắt đầu hiện rõ trong ánh sáng lúc sắp rạng đông, ở đầu kia hành lang, bác sĩ Brooks quỳ rạp xuống, tìm chìa khóa bên dưới một chậu cây trồng có vẻ thiếu nước và mở một cánh cửa.

Căn hộ rất nhỏ, không khí bên trong rõ ràng có sự tương phản giữa mùi nến hương vanilla và mùi thảm cũ. Đồ đạc và các tác phẩm nghệ thuật trang trí đều giản tiện ở mức tối đa – cứ như thể được bài trí cho một buổi bán đồ cũ vậy. Bác sĩ Brooks điều chỉnh bộ ổn nhiệt, và các lò sưởi bắt đầu hoạt động.

Cô đứng im một lúc và nhắm mắt lại, thở mạnh ra, như để trấn tính. Sau đó cô quay lại và giúp Langdon vào gian bếp nhỏ giản dị, nđi có chiếc bàn bọc formica và hai ghế tựa mỏng manh.

Langdon cố nhích về phía chiếc ghế với hy vọng ngồi xuống đó, nhưng bác sĩ Brooks nắm lấy cánh tay anh và dung tay kia mở một ngăn kéo tủ. Tủ gần như trống không…bánh quy giòn, vài gói mỳ ống, một lon Coke, và một chai Nodoz.

Cô lấy cái chai và đổ sáu viên thuốc vào lòng bàn tay Langdon. “Chất caffeine”, cô nói. “Dành cho những lúc tôi phải làm ca đêm giống như tối nay.”

Langdon bỏ thuốc vào miệng và liếc nhìn quanh để tìm nước uống.

“Cứ nhai cả đi”, cô nói. “Thuốc sẽ có tác dụng nhanh hơn và giúp khắc chế thuốc an thần.”

Langdon bắt đầu nhai và ngay lập tức phải nhăn mặt. Thuốc đắng nghét, rõ ràng là nên nuốt tất tần tật. Bác sĩ Brooks mở tủ lạnh và đưa cho Langdon chai San Pellegrino còn một nửa. Anh uống luôn một hơi dài đầy biết ơn.

Lúc này cô bác sĩ tóc đuôi ngựa mới nắm lấy cánh tay phải của Langdon và gd bỏ đoạn băng gạc buộc tạm bằng áo khoác rồi đặt lên bàn bếp. Sau đó cô cẩn thận kiểm tra vết thương. Lúc cô nắm lấy cánh tay trần của anh, Langdon cảm nhận rõ hai bàn tay mảnh mai của cô run run,

“Anh sẽ sống”, cô tuyên bố.

Langdon hy vọng cô không sao. Anh có thể hiểu được những gì cả hai người vừa phải chịu đựng. “Bác sĩ Brooks”, anh nói, “chúng ta cần gọi cho ai đó. Lãnh sự…

cảnh sát. Bất cứ ai”.

Cô gật đầu nhất trí. “Mà này, anh có thể thôi gọi tôi bằng bác sĩ Brooks được rồi – tên tôi là Sienna”.

Langdon gật đầu. “Tôi tên là Robert.” Dường như mối quan hệ họ vừa xây đắp được trong quá trình trốn chạy để giữ mạng sống đã giúp họ bảo đảm cho việc tiết lộ tên thật của nhau. “Cô nói cô là người Anh.”

“Xét về dòng máu thì đúng.”

“Tôi không hề nhận ra tí âm sắc nào.”

“Vâng”, cô đáp. “Tôi đã phải cố gắng làm mất giọng.”

Langdon định thắc mắc tại sao nhưng Sienna đã ra hiệu cho anh đi theo. Cô dẫn anh theo một hành lang hẹp tới buồng tắm nhỏ, tối lờ mờ. Nhờ tấm gương phía trên bồn rửa mặt, Langdon thoáng nhìn thấy được hình ảnh mình, lần đầu tiên kể từ lúc anh thấy nó trong ô cửa sổ phòng bệnh.

Tệ quá. Mái tóc đen rậm của Langdon bết lại, còn đôi mắt thì đỏ ngầu và mệt mỏi. Đám râu ria lởm chởm che kín cả cằm anh.

Sienna vặn vòi nước và hướng dẫn Langdon đưa cánh tay bị thương vào làn nước lạnh như đá. Đau buốt, nhưng anh nhăn mặt cố giữ nguyên tay ở đó.

Sienna lấy một cái khăn rửa mặt còn mới và thấm ít xà phòng sát khuẩn. “Có lẽ anh nên quay mặt đi.”

“Không sao đâu. Tôi không ngại chuyện…”

Sienna bắt đầu chà xát rất mạnh, và cơn đâu ghê gớm làm cánh tay Langdon tê dại. Anh nghiến chặt răng để cố không hét lên phản kháng.

“Anh không cần tiêm thuốc”, cô nói, chà xát mạnh tay hơn. “Thêm nữa, nếu anh định gọi cho chính quyền, anh sẽ cần cảnh giác hơn lúc này đấy. Không có gì sản sinh ra adrenalin nhiều bằng cđn đau đâu.”

Langdon cố gắng chịu đựng chà xát trong khoảng mười giây thì buộc phải giật mạnh tay ra. Đủrồi! Phải thừa nhận, anh cảm thấy khỏe khoắn và tỉnh táo hơn, cơn đau ở cánh tay anh lúc này hoàn toàn lấn át cơn đau đầu.

“Tốt rồi”, cô nói, tắt vòi nước và thấm khô cánh tay anh bằng một chiếc khăn sạch. Sau đó Sienna dán một miếng băng gạc lên tay anh, nhưng khi cô làm việc đó, Langdon phát hiện ra một chi tiết khiến anh bị sao nhãng – một điều khiến anh rất không vui.

Trong suốt gần bốn mươi năm, Langdon luôn đeo chiếc đồng hồ Chuột Mickey cổ lỗ sĩ chỉ dân sưu tầm đồ cổ mới mua, một món quà của ba mẹ anh. Gương mặt mỉm cười và đôi tay vẫy lia lịa của Mickey luôn là thứ hằng ngày nhắc nhở anh thường xuyên cười và đón nhận cuộc sống nhẹ nhàng hơn.

“Đồng hồ…của tôi”, Langdon lắp bắp, “Mất rồi!”. Không có nó, anh bỗng thấy thiếu vắng. “Lúc đến bện viện tôi có đeo nó không?”

Sienna ném về phía anh cái nhìn ngờ vực, rõ ràng thắc mắc tại sao anh lại có t hể lo lắng về một thứ tầm thường như vậy. “Tôi không nhớ anh có cái đồng hồ nào cả. Anh lau sạch người đi. Tôi sẽ quay lại sau mấy phút và chúng ta sẽ nghĩ cách tìm kiếm trợ giúp cho anh”. Cô quay đi, nhưng dừng lại ở ngưdng cửa, nhìn thẳng vào mắt anh trong gương. “Và trong lúc tôi đi, tôi khuyên anh nên suy n ghĩ xem tại sao lại có người muốn giết anh. Tôi đoán đó sẽ là câu hỏi đầu tiên chính quyền đặt ra.”

“Đợi đã, cô định đi đâu?”

“Anh không thể cứ cởi trần như thế mà nói chuyện với cảnh sát được. Tôi sẽ đi tìm một ít quần áo cho anh. Hàng xóm của tôi cũng bằng cd anh. ông ấy đi vắng, và tôi cho mèo của ông ấy ăn. ông ấy nợ tôi.”

Nói xong, Sienna bỏ đi.

Robert Langdon quay lại tấm gương nhỏ phía trên bồn rửa mặt và nhận ra ngay người đang đăm đăm nhìn lại mình. Có ai đómuốn mình phải chết. Anh lại nghe thấy những tiếng lầm bầm lúc mê sảng của mình vang lên trong tâm trí.

Rất xin lỗi. Rất xin lỗi.

Anh soát lại ký ức để nhớ lại chút gì đó..-bất kỳ điều gì, song chỉ thấy trống rỗng. Tất cả những gì Langdon biết là anh đang ở Florence và bị một vết thương ở đầu do đạn bắn.

Lúc đăm đăm nhìn vào đôi mắt mệt mỏi của chính mình, Langdon lờ mờ tự hỏl liệu có khi nào anh choàng tỉnh trên chiếc ghế đọc sách ở nhà, chộp lấy một ly martini đã cạn và quyển Những linh hồn chết, chỉ để nhắc mình nhớ rằng không bao giờ nên trộn lẫn rượu Bombay Sapphire với Gogol.

Chương 7:

Langdon lột bỏ chiếc áo choàng bệnh viện loang máu và quấn khăn tắm quanh hông. Sau khi vả nước lên mặt, anh cẩn thận sờ những mũi khâu ở phía sau đầu. Phần da rất đau, nhưng khi anh vuốt phần tóc bết lại che lên chỗ đó, vết thương gần như biến mất. Mấy viên caffeine đang phát huy tác dụng , và cuối cùng anh cảm thấy màn sương bắt đầu tan.

Nghĩ xem Robert. Hãy cố nhớ xem!

Buồng tắm không có cửa sổ đột nhiên giống như một buồng giam kín, Langdon bước ra hành lang, theo bản năng lần về phía cột sáng tự nhiên phát ra qua một cách cửa mở hé mé bên kia. Căn phòng giống như một nơi ngồi học tạm bợ, với cái bàn rẻ tiền, cái ghế quay đã cũ, những quyển sách được phân loại vút trên sàn, và thật mừng…có cả một ô cửa sổ.

Langdon tiến về phía có ánh sáng ban ngày.

ở phía xa, phần mặt trời xứ Tuscany nhô lên chỉ vừa bắt đầu chạm đến những

ngọn tháp cao nhất của thành phố đang tỉnh giấc- lầu chuông,        tháp Tu viện

Badia, tháp Bảo tàng Bargello. Langdon tì trán lên ô kính mát lạnh. Không khí tháng Ba hanh và lạnh, càng làm ánh sáng mặt trời lúc này đã len lỏi đến các sườn đồi thêm mạnh mẽ.

Ánh sáng của người họa sĩ, người ta gọi nó như vậy.

ở trung tâm đường chân trời, một mái vòm khổng lồ lợp ngói đó vươn lên sừng

sững, trên đỉnh trang trí một quả cầu bằng đồng mạ vàng lóa sáng như đèn hiệu, vương cung Thánh đường Brunelleschi* đã tạo nên lịch sử kiên trúc bằng

việc kiên tạo mái vòm khổng lồ của Thánh đường, và giờ đây, hơn năm trăm năm sau, công trình cao hơn một trăm mười bốn mét ây vẫn đứng vững, một công trình khổng lồ bất di bất dịch trên nền Quảng trường Nhà thờ lớn – Quảng trường Duomo.

Tại sao mình lại ở Florence?

*Filippo Brunelleschi ( 1377- 1446 ) là một trong những kiến trúc sư và kỹ sư hàng đâu của thời Phục Hưng Ý. ông nôi tiêng nhât với việc phát hiện ra luật xa gần ( phối cánh ) cũng như kiên tạo mái vòm vương cung Thánh đường Florence. Ông cũng có nhiều thành tựu về kiên trúc, điêu khăc, toán học và cả thiêt kê tàu.

Với Langdon, một người suốt đời đam mê nghệ thuật Ý, Florence đã trở thành một trong những điểm đên yêu thích của anh ở châu Âu. Đây là thành phô nơi Michelangelo từng chơi đùa trên đường phô khi còn nhỏ, và nơi trào lưu Phục Hưng Ý được khởi xướng trong những xưởng nghệ thuật. Đây là Florence, với những phòng trưng bày thu hút hàng triệu du khách đên đê chiêm ngưỡng bức Thân Vệ Nữ chào đời của Botticelli, Li truyền tin của Leonardo, và niềm tự hào của thành phố – bức tượng David.

Langdon đã bị bức tượng David của Michelangelo hút hồn ngay lần đầu tiên nhìn thấy tác phẩm lúc còn niên thiếu…khi bước vào Học viện Mỹ thuật ( Accademia delle Belle Arti )…chầm chậm đi qua phòng trưng bày Prigioni* tối mờ còn nguyên sơ của Michelangelo… Và sau đó cảm thấy ánh mắt mình bị kéo lên trên, không cưõng được, vẽ phía kiệt tác cao hơn năm mét. Vóc dáng hoàn hảo và hệ cơ bắp tuyệt vời của David khiến hầu hết du khách lần đầu đến thăm đều phải giật mình, nhưng với Langdon, chính tư thế của David mới là điều khiến anh thấy. Michelangelo đã phát huy truyền thống tương phản kinh điển để tạo ra ảo giác rằng David đang nghiêng về bên phải, chân trái gần như không chịu lực, trong khi thực tế chân trái của tượng lại chống đỡ hàng tấn đá cẩm thạch.

Tượng David đã thắp lên trong Langdon nhận thức đầu tiên về sức mạnh của nghệ thuật điêu khắc. Lúc này, Langdon băn khoăn liệu mình có tới thăm kiệt tác này trong mấy ngày qua, nhưng ký ức duy nhất anh có thể nhớ được là tỉnh dậy trong bệnh viện và nhìn thấy vị bác sĩ vô tội bị sát hại ngay trước măt mình. Rất xin lỗi. Rất xin lỗi.

Cảm giác tội lỗi khiến anh thấy buồn nôn. Mình đã làm gì?

Lúc đứng bên cửa sổ, tầm nhìn ngoại biên của anh vẫn nhận ra hình dáng một máy tính xách tay để trên bàn bên cạnh mình. Langdon đột nhiên nhận ra rằng, bất kỳ chuyện gì xảy ra với anh tối qua cũng đều có thể được đưa tin.

Nếu có thể truy cập Internet, mình sẽ tìm ra câu trả lời.

Langdon ngoảnh về phía cửa sổ và gọi to: “Sienna!”.

Im lặng. Cô ây vẫn ở bên căn hộ của ông hàng xóm và tìm kiếm quần áo.

Tin chắc Sienna sẽ thông cảm cho hành vi xâm nhập máy tính, Langdon mở máy và bấm nút nguồn.

*Prigioni ( Tù nhân ) là tên gọi gian trưng bày bốn tác phẩm điêu khắc ( Quattro Prigioni) của Michelangelo, vốn ban đầu được làm cho mộ của Giáo hoàng Julius II. Sở dĩ có tên gọi này là vì các nhân vật trong tác phâm như đang cố gắng thoát ra khỏi khối đá cẩm thạch tạc họ. Michelangelo mất khi chưa kịp hoàn thành chúng, ở đây còn có tượng Thánh Metthew cũng của Michelangelo và các bức vẽ của những họa sỹ cùng thời với Michelangelo, như Ghirlandaio và Andrea del Sarto.

Màn hình nền của Sienna nhấp nháy – vẫn là nền “mây xanh dương” căn bản của Windows. Langdon lập tức vào trang tìm kiếm Google phiên bản Ý và gõ dòng chữ Robert Langdon,

Giá mà sinh viên của mình có thể nhìn thấy mình lúc này, anh nghĩ trong lúc bắt đầu tìm kiếm. Langdon thường xuyên phê bình sinh viên về việc Google chính bản thân họ – một trò rỗi hơi kỳ quặc mới cho thấy nỗi ám ảnh về danh tiếng cá nhân hiện có vẻ thịnh hành trong giới trẻ Mỹ.

Một trang kết quả tìm kiếm xuất hiện – hàng trăm đầu mục có liên quan đên Langdon, sách và các bài giảng của anh. Không phải thứ mình tìm kiếm.

Langdon thu hẹp phạm vi tìm kiếm bằng cách chọn nút thời sự.

Một trang mới xuất hiện: Kết quả tin tức cho “Robert Langdon”.

Ký tặng sách: Robert Langdon sẽ xuất hiện…

Robert Langdon xuất bản sách nhập môn vê Biểu tượng cho…

Bản danh sách dài vài trang, và Langdon chẳng thấy gì gần đây – chắc chắn không có gì giúp giải thích tình huống khó chịu hiện nay của anh. Chuyện gì xảy ra tối qua? Langdon tiếp tục truy cập vào trang web The Florentine, một tờ báo tiếng Anh xuất bản tại Florence. Anh lướt qua các nhan đề, các mục tin nóng, và chuyên trang của cảnh sát, chỉ tìm thấy những bài viết về một vụ cháy chung cư, một vụ thụt két Chính phủ, và những vụ phạm tội vặt đã được sàng lọc.

Chẳng có gì sao?!

Anh dừng lại ở đoạn tin nóng về một quan chức thành phố chết vì đột quỵ đêm qua tại quảng trường bên ngoài nhà thờ lớn. Tên của vị quan chức chưa được công bố, nhưng cũng chưa có hành động tội ác nào bị tình nghi.

Cuối cùng, chẳng biết làm gì khác, Langdon đăng nhập vào tài khoản thư điện tử trường Harvard và kiểm tra tin nhắn, băn khoăn liệu mình có thể tìm được câu trả lời ở đó hay không. Tất cả những gì anh tìm được là cả chuỗi thư từ các đồng nghiệp, sinh viên, và bạn bè, rất nhiều thư trong số đó đề cập những cuộc hẹn gặp trong tuần tới.

Có vẻ như chẳng có ai biết mình biến mất.

Langdon tắt máy tính và đóng màn hình lại, tâm trạng càng lúc càng không chắc chắn. Anh định rời đi thì một thứ đập vào măt. Ở góc bàn của Sienna, trên chồng tạp chí và tài liệu y khoa cũ, có một bức ảnh chụp lấy ngay. Bức ảnh ghi lại hình ảnh Sienna Brooks và vị bác sĩ đồng nghiệp có râu của cô đang cười với cô trong một hàng lang bệnh viện.

Bác sĩ Marconi, Langdon nghĩ, lòng cảm thấy có lỗi khi anh nhặt tấm ảnh lên xem.

Lúc đặt tấm ảnh trở lại chồng sách, anh ngạc nhiên nhận ra cuốn sách nhỏ màu vàng trên cùng – một quyển chương trình biểu diễn đã cũ của Nhà hát Langdon Globe. Theo tờ bìa, đây là tác phẩm Giấc mộng đêm hè của Shakespeare…được dàn dựng gần hai mươi lăm năm trước…

Trên quyển chương trình là một lời nhắn viết tay nguệch ngoạc bằng bút viết bản Magic Marker: Em yêu, đừng bao giờ quên em là một phép màu.

Langdon nhặt quyển chương trình lên, và một tập bài báo đã được cắt rời rơi xuống mặt bàn. Anh vội vàng sắp xếp lại, nhưng khi mở đến trang kẹp tập bài báo, anh sững lại.

Anh đăm đăm nhìn bức ảnh chụp diễn viên nhí đóng vai nhân vật tiểu yêu Puck ranh mãnh Shakespeare. Bức ảnh có hình một bé gái chưa tới năm tuôi, với mái tóc vàng óng buộc kiêu đuôi ngựa quen thuộc.

Dòng chữ bên dưới bức ảnh ghi: Một minh tinh ra đời.

Nội dung bài viết nói về một thần đồng sân khấu – Sienna Brooks – với chỉ số IQ ngoại hạng, có khả năng ghi nhớ lời thoại của tất cả nhân vật chỉ trong một đêm và trong những buổi diễn tập đầu tiên, đã thường xuyên nhắc vở cho các diễn viên khác. Sở thích của cô bé năm tuổi này là đàn vĩ cầm, cờ vua, sinh học và hóa học. Là con của cặp vợ chồng giàu có sống ở vùng ngoại ô Blackheath của London, cô bé đã nổi danh trong giới khoa học. Lên bốn tuôi, cô đã đánh bại một đại kiện tướng cờ vua và còn có khả năng đọc thạo bảng ba thứ tiếng.

Chúa ơi, Langdon nghĩ. Sienna. Chuyện này giải thích được vài điều đây.

Langdon nhớ lại một trong những sinh viên đã tốt nghiệp nổi tiếng nhất của Harvard từng là thần đông có tên Saul Kripke, lúc lên sáu tuổi đã tự học tiếng Do Thái và đọc được tất cả sách của Descartes khi mới mười hai tuôi. Gần đây hơn, Langdon nhớ có đọc về một hiện tượng thần đồng khác có tên Moshe Kai Cavalin, người có bằng đại học với điểm trung bình 4.0, giành danh hiệu quốc gia về võ thuật khi mới mười một tuổi và xuất bản một cuốn sách nhan đề Chúng ta có thể làm được lúc mười bốn tuổi.

Langdon nhặt một bài viết khác lên, bài báo có bức ảnh Sienna lúc bảy tuôi: TIỂU THIÊN TÀI CÓ IQ 208.

Langdon không hề biêt rằng chỉ số IQ thậm chí có thể lên cao đến mức đó. Theo bài viết, Sienna Brooks là một cây vĩ cầm bậc thầy, có thể thành thạo một ngôn ngữ chỉ trong một tháng, và đang tự dạy mình giải phẫu học, và sinh lý học.

Anh xem một bài viết khác cắt ra từ một tạp chí y học: TƯƠNG LAI CỦA TƯ DUY: KHÔNG PHẢI MỌI BỘ ÓC ĐỀU ĐƯỢC TẠO RA GIỐNG NHƯ NHAU.

Bài viết này có ảnh của Sienna, lúc này có lẽ đã mười tuổi, vẫn là một cô bé tóc vàng, đứng bên cạng một cỗ máy y tế lớn. Bài viết có cả đoạn phỏng vấn một bác sĩ, người giải thích rằng các ảnh chụp PET tiểu não của Sienna cho thấy cơ quan này có cấu tạo khác hẳn những tiểu não khác, trong trường hợp của cô thì đây là một cơ quan lớn hơn, thon gọn hơn, có khả năng xử lý nội dung, hình ảnh – không gian theo những cách thức hầu hêt người khác không thể thực hiện được. Vị bác sĩ cho rằng ưu thế sinh lý học của Sienna là nhờ mức tăng tế bào thần kinh cao vọt một cách khác thường ở não, giống như một ô ung thư, chỉ khác ở chỗ nó làm tầng các mô não có ích chứ không phải những tê bào ung thư nguy hiểm.

Langdon lại tìm được một bài báo từ một tờ báo của thị trấn.

LỜI NGUYỀN CỦA SỰ KIỆT XUẤT

Lần này không có bức ảnh nào, nhưng bài viết nói đến một thiên tài nhỏ tuổi, Sienna Brooks, người đã cố găng theo học ở các trường bình thường nhưng luôn bị các học sinh khác dè bỉu vì cô không thể thích ứng. Bài viết nói về tình trạng cô lập mà những thanh niên có tài nhưng các kỹ năng xã hội không tương xứng với trí thông minh của họ và thường xuyên cảm thấy bị tẩy chay.

Sienna, theo bài viết này, đã bỏ trốn khỏi nhà năm lên tám tuôi, và đủ thông minh đê tự sống mà không bị phát hiện suốt mười ngày. Người ta tìm thấy cô bé trong một khách sạn hạng sang ở London, nơi cô giả vờ là con gái của một vị khách, đánh cắp được chìa khóa, và đặt phòng bằng tài khoản của người khác. Rõ ràng cô đã có cả tuần đọc toàn bộ một nghìn sáu trăm trang cuốn Giải phẫu học của Gray. Khi giới chức hỏi tại sao cô lại đọc những là liệu y khoa đó, cô bảo họ rằng cô muốn tìm hiểu xem có chuyện gì không ổn với bộ óc của mình.

Trong lòng Langdon rất có cảm tình với cô gái nhỏ. Anh không thể hình dung nổi một đứa trẻ cảm thấy cô độc như thế nào vì quá khác biệt như vậy. Anh gấp những bài báo, dừng lại ngắm bức ảnh Sienna lúc năm tuổi đóng vai Puck. Nghĩ đến cuộc gặp gỡ siêu thực sáng nay của anh với Sienna, Langdon phải thừa nhận rằng, dường như cô phù hợp một cách kỳ lạ với vai một tiểu yêu tinh ranh mãnh trong mơ. Langdon chỉ mong rằng anh, giống như các nhân vật trong vở kịch, lúc này có thể tỉnh lại và vờ coi như những trải nghiệm gần đây nhất của mình chỉ là một giấc mơ.

Langdon cẩn thận sắp xếp tất cả các bài báo về đúng chỗ và gấp quyển chương trình biểu diễn lại, lòng chợt cảm thấy buồn khi nhìn thấy dòng chữ trên bìa lần nữa: Em yêu, đừng bao giờ quên em là một phép màu.

Anh nhìn xuống, biểu tượng quen thuộc trên trang bìa của tập tài liệu. Đó chính là đồ hình Hy Lạp vẫn thường trang trí ở hầu hêt các cuốn chương trình biểu diễn trên khắp thế giới – một biểu tượng đã hai nghìn năm trăm tuổi, đồng nghĩa với sân khấu kịch.

Cặp đôi mặt nạ bi hài.

Langdon nhìn hai gương mặt biểu tượng cho Hài kịch và Bi kịch đang đăm đăm nhìn mình, và đột nhiên anh nghe thây tiêng vo ve rất lạ trong tai – cứ như thê có một đường dây dãn đang từ từ kéo căng trong óc anh vậy. Một cơn đau chợt bùng lên trong đâu. Hình ảnh một chiêc mặt nạ bông bênh ngay trước măt anh. Langdon thd hôn hẽn, giđ tay lên, ngôi xuông chiêc ghê tực và nhăm nghiên măt lại, hai tay ôm chặt lây đâu.

Trong vùng tôi của anh, những hình ảnh kỳ quái lại quay cuông trở lại…dữ dội và sông động.

Người phụ nữ tóc bạc và chiêc bùa đang gọi anh từ phía bên kia dòng sông máu. Tiêng kêu tuyệt vọng của bà xuyên qua bâu tử khí, át hắn tiêng kêu của những kẻ bị hành hạ và đang hâp hôi, những kẻ mà măt anh có thể thây rõ đang cô quẫy đạp trong đau đớn. Langdon lại nhìn thây đôi chân chông lên trời có vẽ chữ R, cái xác bị chôn vùi một nửa với đôi chân quãy đạp điên cuông, tuyệt vọng trong không khí.

Hãy tìm và sẽ thây! Người phụ nữ nói về phía Langdon. Thời gian đang cạn dần!

Langdon lại cảm nhận đước nhu cầu khẩn thiết phải giúp đỡ bà ấy…giúp tất cả. Anh cuống cuồng gọi to về phía người phụ nữ ở bên kia dòng sông máu. Bà là ai?!

Một lần nữa, người phụ nữ vươn tay vén mạng che, đê lộ gương mặt ấn tượng mà Langdon đã thấy trước đó.

Ta là sự sống, bà ấy đáp.

Không hề báo trước, một cái bóng khổng lồ xuất hiện trên bầu trời phía trên

người phụ nữ – chiếc mặt nạ đáng sợ với cái mũi chim dài và đôi măt xanh lè dữ dằn nhìn chòng chọc vào Langdon.

Và…ta là cái chết, giọng nói vỡ òa.

(còn tiếp)

MỘT THỜI HOA LỬA

NGUYỄN VIỆT PHÁT

***

MỘT THỜI HOA LỬA

(Ký ức chiến tranh) 

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

                      Nguyễn Việt Phát . Sinh: 01-01-1953

                     Sinh quán: Thụy Sơn, Thái Thụy,Thái Bình

                     Nhập ngũ tháng 5/1971

                     Nơi ở:  260 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội

Nguyên là :

– Trung đội trưởng trinh sát pháo binh C17, E40, Tây Nguyên (QĐIII)

– Phó Bí thư tỉnh đoàn Cao Bằng

– Tổng chỉ huy Lực lượng TNXP.TƯ Đoàn

– Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia Thanh niên Việt Nam

– Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ Đạo Tây Bắc

– Cử nhân Luật, Chuyên viên cao cấp

Huy chương chiến sĩ giải phóng hạng II

Huy chương kháng chiến hạng II

Huân chương lao động hạng III

Huy chương Vì thế hệ trẻ

Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng

LỜI TỰA

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi đã  gần bốn thập niên, nhưng ký ức về những năm tháng hào hùng đó không phai mờ trong trái tim bao người, nhất là của những người lính, từng một thời xông pha nơi chiến trường gian khổ.

Nhớ về một thời hoa lửa ấy, tôi ghi chép lại những kỷ niệm sâu sắc về đời lính sáu năm làm trinh sát pháo binh C17, Trung đoàn pháo binh 40, mặt trận Tây Nguyên (B3), sau này là Quân đoàn III, thời kỳ 1971 – 1976, qua các mốc son lịch sử như: Chiến dịch Đăk Tô -Tân Cảnh, thị xã Kon Tum, Play Cần và Đăc Siêng  (1972); chống địch vi phạm Hiệp định Pa Ri (1973); giải phóng Đăk Pét (1974); tập kích chiến lược Ban Mê Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30/4/1975.

Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi đã tham khảo thông tin trên trang mạng Wikipedia về chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1972, cuốn Pháo binh Miền Trung trung bộTây nguyên thời đánh Mỹ của NXBQĐND, Hồi ký của Thiếu tướng Tô Thuận, Nguyên Trung đoàn trưởng E40, nguyên Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh pháo binh và ý kiến đóng góp của các đồng đội.

Tuy nhiên, do thời gian xảy ra các sự kiện đã 40 năm nên không thể tránh khỏi những sai sót, nhiều sự kiện và nhân vật chưa được nhắc đến, mong đồng đội và bạn đọc thông cảm.

Xin trân trọng giới thiệu.

                                                       Hà Nội, Tháng 8 năm 2012

                                                                                                                                         

Phần I

MỘT THỜI HOA LỬA

                                            1. ĐIỂM TỰA

Tôi sinh ra tại làng Nhạo Sơn, xã Thụy Sơn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Vì quê nghèo, đất chật người đông, mùa hè năm 1961, bố tôi, một cán bộ xã hoạt động trước Tháng 8/1945, đã phải đưa gia đình đi “kinh tế mới”. Đó cũng là thời kỳ hàng vạn hộ nông dân các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tiến hành một cuộc đại di cư lên Lai Châu, Điện Biên, Sơn la, Nghĩa Lộ… để mưu sinh lập nghiệp. Nhưng gia đình tôi thì lại chọn thị xã Cao Bằng làm nơi định cư. Nguyên do là từ nhỏ bố tôi đã theo cha chú lên Cao Bằng làm thuê nên ông biết rõ mảnh đất “gạo trắng nước trong” này.

Ngày đó, bố tôi là một đảng viên kỳ cựu, hiếm hoi, được phân công thành lập và làm Bí thư Chi bộ đầu tiên của phố Tam Trung (phường Sông Bằng ngày nay); đồng thời làm Bí thư chi bộ đầu tiên của Hợp tác xã may Thống Nhất của thị xã Cao Bằng. Do vậy, cụ có điều kiện vừa làm kinh tế, vừa công tác xã hội. Vợ con cũng nhờ đó nhanh chóng vượt qua thời kỳ lạ nước lạ cái, chúng tôi đều được cắp xách tới trường.

Cao Bằng vốn là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng, nhưng nghèo về kinh tế, văn hóa và sống chủ yếu bằng tự cấp tự túc. Hầu như gia đình nào cũng phải vào rừng phát nương làm rẫy, huống chi gia đình tôi người ăn nhiều hơn người làm. Vì thế, từ thuở niên thiếu, tôi đã tỏ rõ một “ấu nông tri điền”, thạo nghề nương rẫy, quen nghề gianh củi và ham mê câu cá, bắt ốc, mò cua. Chả có ngọn đồi, khe suối, vạt ổi, bụi sim nào quanh cái thị xã lòng chảo không đầy 4 km vuông ấy mà tôi không tường tỏ. 

Thế rồi những năm Mỹ bắn phá miền Bắc, như bao học trò khác, tôi phảithường xuyên chuyển trường, dựng lớp, đào hầm hào, đan mũ rơm, tập kẻng báo động. Hếtsơ tán từ Nà Phía đến Tân An, từ Nà Tòong đến Nà Đỏong, rồi từ Nà Cạn ra thị xã. Một cuộc vòng vo tránh máy bay Mỹ suốt tuổi học trò. Cả cái thị xã cỏn con, chưa hề bị máy bay Mỹ bắn phá một lần, cũng tan hoangkiểu “vườn không nhà trống”, sơ tán sạch vào khe suối đồi lau.

Trong những năm khốn khó của tuổi học trò ấy, gia đình là chỗ dựa duy nhất cho chúng tôi ăn học thành người. Nhiều đêm nhìn bố tôi còm cõi, cặm cụi thâu đêm tới sáng ngồi bên bàn may để kiếm từng hào nuôi chúng tôi ăn học, tôi chạnh lòng và thấy mình càng phải có trách nhiệm hơn.

Cuộc chiến ngày càng leo thang, nhiều thanh niên quê tôi đã lên đường, danh sách người không trở về ngày càng dài ra. Hồi đó, quân đội Trung Quốc sang giúp ta làm đường quốc lộ 3. Trong con mắt chúng tôi họ thật cao lớn và nghiêm túc. Mỗi khi có việc khó, họ đều xếp hàng ngay ngắn, giở trước tác Mao Chủ tịch ra đọc là mọi việc đâu lại vào đấy. Họ cho chúng tôi từng vốc huy hiệu Chủ tịch Mao. Dạy chúng tôi nói và hát tiếng của họ. Hàng đêm chúng tôi í ới rủ nhau, xếp hàng đi theo họ xem phim Bạch Mao Nữ, Chi đội người Hồi, Lôi Phong, Rừng thẳm tuyết dày... Trên những mỏm đồi quanh thị xã là trận địa pháo cao xạ của họ.Đêm đêm, từng đoàn xe quân sự của họ rầm rì lướt qua. Sống trong không khí chiến tranh ấy, ngoài giờ học tập và nương rẫy ra, chúng tôi chỉ có một thú vuiduy nhất là chơi trận giả. Bất cứ bụi cây, mỏm đất, hố rãnh nào ven đường, ven trường cũng dễ dàng trở thành “trận địa” của chúng tôi.

Một vài năm sau, quân tình nguyện Trung Quốc về nước.Chúng tôi cũng lớn dần và đọc được một số tài liệu về các “Bức thư ngỏ” gia Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Liên Xô gi cho nhau.  Thực ra là họ nói xấu nhau, bên này bảo bên kia là “xét lại”. Cuộc chiến về tư tưởng ấy, thậm chí còn lây nhiễm sang một số cán bộ cấp trung ương của ta.Có người bị truy phải trốn Hà Nội lên tá túc tại nhà tôi. Rồi cuộc “Đại cách mạng văn hóa” của Trung Quốc bùng nổ. Nhà tôi cũng trở thành nơi trú ngụ của một trí thức Trung Quốc bị truy đuổi. Vào những năm 6768, cuộc chiến ở miền Nam khốc liệt, ta thực hiện “Tổng động viên”, thế là trên mảnh đất biên ải hẻo lánh này, lại xuất hiện thêm một thành phần “di cư” khác lạ. Đó là những học sinh, sinh viên trốn lính. Họ tự dựng chòi trong núi, tránh mặt người qua lại và chỉ vùi đầu vào đọc, học. Hóa ra cái mảnh đất khỉ ho cò gáy này đâu phải chỉ là nơi di chú của những người “tha hương cầu thực” như chúng tôi, mà khi cần nó sẽ là mảnh đất “cưu mang “ cho bao kẻ “bất đắc dĩ” khác.

Mặc cho cái khổ, cái nghèo đeo bám, chúng tôi vẫn cứ lớn lên như cây măng rừng bên suối ngàn trong vắt. Cả tiểu đội anh em chúng tôi, “đứa chị đi thì con dì lại lớn”, dùng lại áo quần, xách vở và kinh nghiệm sống của nhau, để lần lượt vượt qua cái thời kỳ gian khó ấy.

Bên cạnh người cha, tôi còn một điểm tựakhác, đó tình anh em ruột thịt. Vượt qua những tính tật của tuổi thơ tinh nghịch và dại khờ, chúng tôi lớn lên trong tình đoàn kết, thương yêu nhường nhịn lẫn nhau. Những đứa em “sàn sàn” cùng tôi chung đèn sách, chung từng trang vở, từng củ sắn, củ khoai. Vì thế, ngoài tình anh em máu mủ, chúng tôi còn là bè bạn thân thiết, là “đồng đội” trong những “trận chiến” sống mái với “quân thù” trong những đêm  chơi trận giả.

Cứ thế tôi lớn lên trên một vùng đất mà mới đầu lạ hoắc, từ ngôn ngữ đến lối sống, rồi thân quen như máu thịt của mình, thậm chí còn sâu đậm hơn cả nơi chôn nhau cắt rốn. Những người cùng phố, cùng xóm như ông Đội Nhâm, bà Làn “bánh cuốn”, chú Lợi chú Đắc “xe ngựa”, anh Trọng “thịt chó”, ông Sự cắt tóc, anh Song “sơn, hàn, xì xe đạp”, đến ông Nhuận, ông Thụ, bà Tuất, anh Chức, bà Hắt, cô Long, ông Dáu, cô Mùi và bao bạn bè cùng trang lứa như Báo, Trung, Công, Giang, Sòi, Chiến, Thắng…Tất cả cứ ngọt ngào in bóng vào tình cảm và trí nhớ của tuổi thơ tôi. Cái tuổi chỉ thích hấp thụ cái đẹp, cái đúng, cái hay của bạn bè bà con lối xóm và củacả cái thị xã nhỏ bé, xinh xắn bên dòng Bằng Giang và Hiến Giang thơ mộng ấy.

Mườì năm ăn học là mười năm tôi gắn bó và lớn lên trên quê hương thứ hai của mình. Cũng vì thế mà Cao Bằng đã trở thành điểm tựa không chỉ về cơm ăn áo mặc, mà còn là tinh thần và vốn tri thức của tôi trước ngày nhập ngũ 

Hơn bốn mươi năm qua, ra đi từ mái nhà tranh của miền quê nghèo biên viễn, tôi đã làm việc ở trung ương gần ba chục năm, đã đi khắp mọi miền đất nước, theo dấu chân của các đội hình thanh niên xung phong và thanh niên tình nguyện. Đã đến được một số chốn trời Tây, Úc, Á…Nhưng với tôi, Cao Bằng vẫn là một miền quê yêu dấu, một điểm tựa quan trọng của đời tôi. Bây giời nơi đó, còn là nơi cha mẹ tôi đang yên nghỉ vĩnh hằng, giữa rừng thông xanh thẳm với gió ngàn vi vút. Nơi đó, luôn vẫy gọi chúng tôi trở về thăm lại những kỷ niệm xưa và nhớ về những tháng năm không thể nào quên.

Cầu Bằng Giang của TP Cao Bằng

2. NHẬP NGŨ 

Đang ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp lớp 10, năm học 1970 – 1971 tại trường cấp III thị xã Cao Bằng, thì tôi và hai bạn cùng lớp là Bằng và Giang nhận được giấy gọi nhập ngũ. Sự kiện này đối với tôi không có gì là bất ngờ, vì lẽ ra tôi đi bộ đội từ năm 1970,nhưng chưa đủ sức khỏe nên đành chậm lại. Tuy vậy, tôi chỉ tiếc là chưa được đọ sức sau mười năm đèn sách. Tôi vốn là học sinh học đều các môn đã hai lần được chọn đi thi học sinh giỏi môn Văn cấp thị xã.

 Chiều hôm ấy, 23/5/1971, tôi mời cả lớp 10B đến dự buổi liên hoan tiễn tôi lên đường. Do chưa biết kết quả bài thi ra sao, nên một số bạn tỏ ra lo lắng, số bạn ở ký túc không thấy đến. Thế rồi, như để phá tan cái không khí nặng nề đó, Bùi Thị Thanh, một cây văn nghệ của lớpđã đứng lên hát tặng tôi bài Xa khơi của Nguyễn Tài Tuệ, bài hát mà Thanh đã đạt nhiều giải cao trong các kỳ hội diễn văn nghệ của trường. Bài hát ấy đã trở thành hành trang đầy ý nghĩa theo tôi suốt đời quân ngũ.

 Mặcrất vui nhưng tôi không dám giữ các bạn ở lại lâu, vì ngày mai họ phải tiếp tục kỳ thi.Khi cả lớp đã ra về thì nhóm bạn ở ký túc mới lục tục kéo đến, trong đó có Vũ Thanh Cúc, quê mỏ thiếc Tĩnh Túc, một cô bạn khá xinh và học giỏi nhất lớp, khiến nhiều chàng trai trong lớp ngưỡng mộ và để ý, trong đó cócả tôi và Đinh Việt Trung, một cậu bạn thân từ nhỏ và cùng lớp. Tuy nhiên, tôi thì không dám thổ lộ,còn Trung thì mạnh bạo hơn. Thấy vậy, tôi cũng vun vào cho Trung, dẫu sao tôi cũng xắp lên đường. Hồi ấy và sau này không hiểu tình cảm của Cúc đối với hai đứa chúng tôi ra sao, chỉ biết rằng trong cuốn sổ lưu niệm của tôi, Cúc chỉ viết cho tôi những dòng tình cảm bè bạn, chúc tôi lên đường bình an trở về. Còn Trung, ba tháng sau cũng nhập ngũ. Thời gian đóng quân ở Hà Bắc, tôi nhận được thư của Cúc hồi âm báo tin đã trúng đại học Dược, từ đó tôi chẳng biết tin gì về Cúc nữa.

               Tuần đầu nhập ngũ, chúng tôi đóng quân tại Nà Toàn, cách thị xã Cao Bằng 5 km, vì thế cứ chiều tối, nếu có cơ hội là chúng tôi lại “tút” về nhà. Một hôm, sau trận mưa lớn, khe suối cạnh nhà tôi cuốn phăng cái cầu tạm mà tôi hì hụi mấy ngày mới xong để mọi người qua lại. Để bảo vệ công trình lâu dài, tôi liền đến nhà Đinh Việt Trung xin một gốc mai về trồng ngay chỗ cây cầu bị sạt.

Hơn bốn mươi năm qua, một phần mảnh đất nơi gia đình tôi sống đã đổi chủ, nhưng mỗi lần về thăm quê, tôi lại tần ngần đứng dưới bụi mai ấy, không chỉ là bức tường chắn lũ vững bền, mà còn cho những dậu măng trắng ngần để gia đình tôi đem bán ngoài chợ thời bao cấp. Với tôi, bụi mai ấy còn như một nhân chứng sống, chứng giám tình bạn thuở hàn vi giữa tôi vàTrung.

Giở lại trang nhật ký hơn bốn mươi năm về trước, vào ngày 3/11/1971, tôi đã đạp xe sang Phú Bình gặp Trung, thuộc Tiểu đoàn 40, trước khi nó đi dã ngoại. Nào ngờ đó là lần cuối cùng gặp nó vì tám tháng sau Trung hy sinh.

Bạn cùng phố Tam Trung ngày ấy nhập ngũ với tôi còn NguyễnHữu Vũ, Đàm Việt Hùng, Nguyễn Văn Hiệp, Vũ Văn HồiChiến  “Việt kiều Thái Lan”, tất cả học dưới tôi một lớp. Bên phố Cũ Vườn Cam, Thanh Sơn có Vương Hùng, Đặng Liên, Nguyễn Sơn, Chu Việt, Hoàng Thuật, Văn Công, Hoàng Kỳ… Đặc biệt, đại đôị 3 chúng tôi có khá nhiều anh lớn tuổi, đã có vợ con, đa phần là cán bộ, viên nhà nước cấp tỉnh, nhập ngũ theo lệnh tổng động viên như: Nông Văn Khang, Đàm Văn Vượng, đoàn văn công tỉnh; y sĩ Phan Mạnh Cửu và Nông Chấn Ngân; thuyết minh chiếu bóng Hoàng Sơn, cán bộ nông nghiệp Long Xuyên, Hoàng Thế, Lục Dẻn, Nông Đại…Cùng tổ 3 người với tôi ngày đầu nhập ngũ anh Kỳ thổi sáo rất hay (Kỳ hy sinh ngay trận đầu trên mảnh đất Kon Tum hè 1972).

Chúng tôi được phiên chế về Đai đội 3, Tiểu đoàn 33, Sư đoàn 304Btrú quân tại xóm Đồng Sào, xã Quang Tiến, huyện Việt Yên, Hà Bắc, cách thị trấn Nhã Nam 5 km. Đây là vùng đất trung du gò đồi rất phù hợp cho công tác huấn luyện bộ đội. Ngày đầu tiên, qua trò chuyện với chị chủ nhà, tôi được biết năm trước có Mạc Văn Báo, Hoàng Văn Thìn, bạn cùng phố đã đóng quân tại nhà chị, quả là điều trùng hợp bất ngờ.

Một tuần sau tôi được chọn làm liên lạc cho Đại đội. Ban chỉ huy đại đội đóng tại nhà ông Trịnh Văn Toản, một ngôi nhà 3 gian truyền thống của vùng quê Bắc bộ, sau lưng nhà là sân kho hợp tác. Ông Toản có người con gái lớntên là Bắc đã lấy chồng trong làng, con thứ hai là Trịnh Xuân Lý tầm tuổi tôi và cậu út là Dân đang học lớp 7. Ông Toản cho biết, đợt trước, ban chỉ huy đại đội cũng đóng tại nhà ông, có anh liên lạc tên là Đỗ Văn Kỳ, cũng quê Cao Bằng. Lại một sự trùng hợp bất ngờ nữa, vì Kỳ là đồng hương quê cũ Thái Bình, lên Cao Bằng lập nghiệp đầu những năm sáu mươi như gia đình tôi. Sau này Kỳ trở thành một tiến sĩ, đại tá, Trưởng khoa của Học viện Quốc phòng tại Hà Nội ( Kỳ vừa đột tử mất tại Hà Nội).

Cán bộ Đại đội 3 đại trưởng Nhật, 27 tuổi cao lớn, ngăm đen và nghiêm nghị. Nghe nói chuyện tình duyên của anh hay trắc trở và sau đợt huấn luyện này anh sẽ lấy vợ. Chính trị viên trưởng Cõn thì thấp bé, mắt hiếng, đã có vợ con và gia cảnh khó khăn mà có lần tôi giành dụm được ít đường sữa cùng anh về thăm gia đình bên Việt Yên. Đại phó Nguyễn Quốc Trị thì thường xuyên vắng nhà vì công việc cơ động. Chính trị phó Kim quê Phổ Yên vui vẻ, hòa đồng khiến tôi rất qúy mến, mỗi khi có gì khúc mắc là tôi lại hỏi ý kiến anh ấy.

Nhiệm vụ của anh liên lạc là chuyển thông tri xuống các trung đội, lập danh sách trích ngang từng chiến sĩ của đại đội, viết giấy báo công, bảng vàng danh dự, đọc 12 lời thề danh dự trước lễ chào cờ đầu tuần, tham gia biên tập, trang trí báo tường, giúp lãnh đạo tiếp khách, lấy thư, đọc báo cho đại đội nghe, thậm chí viết thư hộ cho một sốchiến sĩ người Mèo không biết chữ như Thào A Mùa, Vàng A Lừ… quê Hà Giang mới được bổ sung vào đại đội. Mặc dù công việc bận như con mọn, nhưng tôi vẫn phải thu xếp để tham gia các bài tập xạ kích, ném lựu đạn, bộc phá và các kỹ năng của người lính bộ binhtheo giáo trình huấn luyện chung.

 6 tháng trời làm liên lạc trên đất Bắc và 3 tháng làm liên lạc trên đường hành quân vào chiến trường, tôi mới hiểu được thế nào là làm dâu trăm họ. Kẻ khen, người chê, thậm chíngười lâu không nhận thư nhà, nghi ngờ tôi dấu thư. Một lần tôi đi tắm ngoài suối, để đôi dép râu trên bờ, bỗng dưng mất một chiếc, phải đi chân đất vài ngày và nhờ gia đình mua cho đôi dép nhựa Trung Quốc gửi xuống. Sau đó mới biết rằng, một cán bộ trung đội vốn bất mãn với C bộ nên “giận cá chém thớt”, lấy dép của liên lạc cho bõ ghét. Thông cảm với công việc và lo cho tôi, anh Hịch, Trung đội trưởng B2 khuyên tôi nên xin về trung đội, tập trung huấn luyện để sau này vào chiến trường đỡ lúng túng. Tôi cũng đã ngỏ ý như vậy, nhưng C bộ không chấp thuận. 

Ngoài nhiệm vụ huấn luyện, chúng tôi thường xuyên tham gia lao động mang tính rèn luyện cao như: lên bãi Đá ong lấy củi, lên đập Batacun trên Thái Nguyên khai thác nứa, ra Nhã nam lấy gạo, ra đồng giúp bà con thu hoạch…Đầu tháng 9 năm 1971, trận lụt lịch sử đã phủ trắng bao miền quê trung du Bắc bộ, nhiều tuyến đê xung yếu bị vỡ, hàng vạn gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Nhìn đâu cũng thấy xác gia súc, nhà cửa trôi dạt trong biển nước mênh mông.Máy bay trực thăng phải bay cả tuần thả bánh mỳ cứu đói cho dân. Trong trận “đại hồng thủy” ấy, chúng tôi phải hành quân cấp tốc đêm ngày, hết ứng cứu cầu Việt Trì lại quay về Vĩnh Tường, Vĩnh Phú hộ đê. Ngay cả nơi đóng quân tại xóm Đồng Sào nước cũng trắng đồng, tràn ngập sân ngõ như thử sức những người lính trẻ. Kết thúc đợt chống lụt, nhiều tập thể, cá nhân, trong đó có tôi được tỉnh Vĩnh Phú tặng Bằng khen, một phần thưởng mà tôi và mọi người không ai mong đợi. 

Nhật ký của tôi còn ghi lại một sự kiện, ngày 25/6/1971, chúng tôi được lên Tiểu đoàn bnghe các dũng sĩ từ Mặt trận đường Chín, Quảng trị ra kể chuyện chiến đấu.Trong số đó có Trung úy Phùng Quang Thanh, 22 tuổi, đại đội trưởng, anh hùng LLVTND. Toàn tiểu đoàn ngồi thẳng hàng trên một sườn đồi, gần nhà của Nguyên Hồng, một nhà văn nổi tiếng, lặng im như nuốt từng lời kể của anh về trận đánh không cân sức trên đồi không tên. Rồi  trận đánh cao điểm 456 có xe tăng 555 được mệnh danh là “mãnh hổ” yểm trợ. Chuyện anh cùng đồng đội bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ dù 3 của ngụy…Sau mỗi câu chuyện là từng tràng vỗ tay rền vang như súng nổ nơi chiến trường. Sau lần đó, toàn tiểu đoàn tổ chức học tập gương chiến đấu dũng cảm, sáng tạo của Lê Mã Lương và các dũng sĩ đường Chín anh hùng. Ngày đó,  tôi đâu có ngờ hơn ba mươi năm sau, Trung úy Phùng Quang Thanh trở thành vị Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như bây giờ.

Cũng tại Mặt trận đường Chín năm đó, nơi sản sinh ra những anh hùng, dũng sĩ như Lê Mã Lương, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Văn Hiệu, Bùi Ngọc Đủ, tôi có người anh vợ (sau này), đã hy sinh khu vực Làng Vây – Lao Bảo vào cái ngày tôi chưa nhập ngũ. Tận bây giờ vẫn chưa biết phần mộ của anh ở đâu. Năm ngoái tôi vào tận đường Lao Bảo, gặp nhiều người, xin được cả cuốn lịch sử và bản đồ trận đánh, đến nhiều nghĩa trang nhưng cũng chưa tìm thấy anh. Mới đây nghe tin ở xã Đại Hóa, huyện Tân Yên, Bắc Giang có địa chỉ “áp vong” liệt sĩ rất đông khách, tôi liền tìm đến xem thực hư ra sao. Chuyện tìm kiếm mộ liệt sĩ qua ngoại cảm, “áp vong” là nhu cầu có thực trong hàng ngàn gia đình thân nhân liệt sĩ. Kết quả đúng sai không dễ gì giải thích bằng khoa học, không chỉ đi một lần là được và là một câu chuyện rất dài.

Điều khiến tôi không ngờ là địa chỉ “áp vong” ấy, lại kề bên xóm Đồng Sào, nơi chúng tôi đóng quân ngày xưa. Vì thế, mặc trưa hè nắng nóng, tôi đã tranh thủ tìm đường ghé thăm chốn cũ, điều mà tôi nhiều lần có ý định mà chưa thực hiện được.

Con đường vào Đồng Sào xưa khó đi là thế mà nay trải bê tông thẳng tắp, nổi bật giữa màu xanh lúa đồng đang thì con gái. Tôi phải vòng vo hàng giờ mới tìm ra nơi C bộ đóng quân. Sân hợp tác nay thành nhà văn hóa thôn. Nhà ông Toản đã có chủ mới với tòa nhà hai tầng to vật vưỡng. Trước cảnh vật làng quê mới lạ, tôi bồi hồi nhớ lại bao gương mặt thân quen của đồng đội và bà con thôn xóm, trong đó có hình dáng của một cô thôn nữ .

 Ngày ấy, cứ mỗi chiều về, tôi một mình băng qua cánh đồng đầu xóm lên Tiểu đoàn bộ lấy thư báo về cho đơn vị. Khi đi qua con đập Đồng Đồi, tôi thường bị đám con gái xóm trên, sau buổi làm đồng về, rửa chân tay ven suối, té nước trêu chọc. Vì còn quá trẻ, lại một mình nên tôi chỉ biết lặng im cúi đầu mà chạy. Nhưng về tới đầu làng, qua một đám chân ruộng cao chuyên trồng màu, tôi thấy một cô gái khăn choàng kín đầu, chỉ để hở đôi mắt, đơn lẻ và lặng lẽ hì hụi vun xới từng luống khoai, gốc lạc. Lúc đầu tôi có ý  tránh, nhưng cũng chả biết tránh đi đâu trên con đường độc đạo ấy, tôi đành lầm lũi bước thật nhanh, ra vẻ việc quân đang rất vội. Hôm sau, cũng giờ đó, người con gái ấy lại xuất hiện. Trước sự lúng túng của tôi, cô gái chủ động buông một câu hỏi đùa tế nhị “em có thư không anh bộ đội ơi”…Thế rồi, chúng tôi chào hỏi nhau, cô gái ấy tên là Thành, nhà kế bên Ban chỉ huy đại đội. Từ đó, cứ mỗi lần tôi đi lấy thư là đã thấy bóng cô ngoài thửa ruộng. Rồi tôi cũng phát hiện ra, sau chiếc khăn mùi xoa che kín mặt, là đôi mắt của cô như thầm nói với tôi điều gì đó. Nhưng với tôi, đó vẫn chỉ là thứ tình cảm mà người lính chúng tôi đã được giáo huấn kỹ càng trong bài công tác dân vận. Sau 41 năm trở lại thăm Đồng Sào, tôi được tin cô ấy đã mất do một căn bệnh hiểm nghèo.

Qua mấy tháng rèn luyện, một số đứa cùng nhập ngũ như Hồi, Chiến, Hùng, Công…được tuyển chọn đi đào tạo làm cán bộ khung huấn luyện. Còn tôi cũng được lãnh đạo gợi ý cho đi huấn luyện làm y tá hoặc hậu cần gì đó nhưng tôi từ chối, bởi cho rằng trước sau đều phải vào chiến trường cả thôi, làm anh cán bộ khung cũng chẳng sướng gì. Đã đi bộ đội là phải ra chiến trận, phải “chết xanh cỏ, sống đỏ ngực”, phải “sống sao cho phải xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí” như Pa – Ven – Cooc – Xa – Ghin đã  viết. Chả thế mà Vũ Hồi viết đơn xin ở lại đi chiến đấu và ký tên bằng máu hẳn hoi nhưng không được trên chấp thuận.

 Sáu tháng huấn luyện là khoảng thời gian tôi nóng lòng chờ đợi bằng tốt nghiệp loại đặc cách lớp 10 như quy định hồi đó và giấy giới thiệu cảm tình Đoàn của Đoàn trường cấp III thị xã Cao Bằng. Sốt rột quá, có lần tôi và Nông Văn Ơn, cũng là liên lạc viên Đại đội 4 gần đó, bàn tính rủ nhau xin về quê mấy ngày để hỏi cho ra nhẽ.Nhưng rồi lại nghĩ, cái quan trọng hơn là sau này còn sống trở về .

Thế rồi thời gian huấn luyện đã kết thúc, trước khi vào chiến trường, chúng tôi được về phép 15 ngày. Trong những ngày cuối cùng của đợt phép khó quên ấy, trái tim tôi bỗng rộn ràng xao xuyến lạ thường, mỗi khi gặp mặt hoặc sang chơi nhà cô bạn hàng xóm, chỉ cách nhà tôi một khe suối cạn. Cô ấy học dưới tôi hai lớp và là em gái thằng bạn thân nhất của tôi. Trước đêm chia tay trả phép, tôi đã giành khoảng thời gian còn lại, để trò chuyện cùng cô ấy, bên bếp than cháy hồng giữa mùa đông giá rét. Rồi như bao đôi trai gái khác của thời loạn lạc, chúng tôi trao kỷ vật cho nhau trong sự thẹn thùng, e ấp và trắng trong.

Đêm đầu tiên của Trường Sơn ngàn dặm, trên cánh võng mềm như vầng trăng đầu tháng, tôi đãviết lá thư tình đầu tiên, của đời trai trẻ gửi về cho em. Và cũng từ đó, tôi thường viết thư về cho cô ấy để nói rõ lòng mình. Tôi đã yêu, đó là thứ tình yêu của người ra trận. Nhớ em, có lần tôi gào gọi tên em trong cơn sốt ác tính. Không ít lần tôi phải tưởng tượng ra tình yêu của mình khi đồng đội tò mò căn vặn. Dù không một lần nhận được thư của cô ấy, nhưng tôi lại tự an ủi chắc thư từ thất lạc.

 Rồi một hôm, vào giũa năm 1973, tôi nhận được tin em đã đi lấy chồng. Một nỗi buồn thực sự đã xâm chiếm trái tim đang tuổi hai mươi của tôi giữa chiến trường khói lửa. Nhưng rồi nỗi buồn ấy cũng qua mau, bởi tôi đã ý thức được sự mong manh của thứ tình yêu đầu đời đó. Trong trang cuối cuốn nhật ký gửi lại gia đình giữ hộ, tôi đã dự cảm viết rằng “ Ta biết rằng tình yêu này gần như giấc mộng, nó sẽ tan vỡ trong khói lửa chiến tranh. Xin vĩnh biệt”. Tôi không có quyền trách cô ấy, bởi chiến tranh không phải trò đùa, nhất là cho số phận của những người con gái mà bản thân họ chưa nợ mình một lời thề chung thủy. Sau này gặp lại, tôi không nhắc lại chuyện xưa và coi đó là một kỷ niệm của riêng mình. Bởi ít ra thì trong trái tim tôi những ngày chinh chiến ấy, cũng có một “bóng hồng” để tôn thờ, hy vọng và tự hào với bạn bè đồng đội, hơn khối anh chưa biết thế nào là yêu. Bất giác tôi nghĩ, giá như ngày xưa ấy, mọi cô gái đều “giả vờ yêu” một người lính trẻ để họ thêm ấm lòng. Nếu có ngã xuống thì họ cũng có được phút giấy cuối cùng để nghĩ về người con gái đáng yêu của họ.

Sau khi trả phép, chúng tôi phải gạt nhanh nỗi lòng ưu tư, thương nhớ sang một bên để nhanh chóng trở lại nơi đóng quân, nhận quân trang mới, tạm biệt bà con đã từng cưu mang, giúp đỡ mình từ những ngày đầu nhập ngũ, tạm biệt hòm thư quen thuộc 500.457. JH23 để vượt Trường Sơn vào chiến trường. Trong giờ phút thiêng liêng đó, tôi đã đắn đo, có nên gửi cuốn nhật ký về cho gia đình giữ hộ hay mang theo bên mình.Suốt 6 tháng qua, hầu như ngày nào tôi cũng ghi nhật ký, nó đã trở thành người bạn thân thiết nhất của tôi. Anh Trường, anh trai tôi đã tự tay đóng quyển nhật ký đó tặng tôi và có lời căn dặn trong đó: “Con người có nhiều phương pháp để tu dưỡng. Nhật ký cũng là một kiểu”. Cũng may, quyết định không mang theo nhật ký vào chiến trường là đúng đắn, nếu không làm sao đến bây giờ tôi còn giữ lại được một kỷ vật duy nhất của đời lính là cuốn nhật ký đã ố vàng nhưng vô cùng quý giá này.

3. VƯỢT TRƯỜNG SƠN

Chiều ngày 27/11/1971, chúng tôi lên tàu tại ga Sen Hồ, nửa đêm tàu tới ga Hàng Cỏ, dừng lại ít phút nhưng không được xuống. Không khí chiến tranh bao trùm khắp nhà ga. Từng đoàn tàu quân sự chở tăng, pháo phủ bạt kín mít nằm dọc đường ray và đều quay đầu về phía Nam. Ít phút sau tàu chuyển bánh lao phầm phập trong đêm, lính tráng ngủ mê mệt bên những chiếc ba lô mới tinh, căng phồng. Gần sáng tới Thanh Hóa, quan sát hai bên đường thấy nhà cửa đổ nát, thưa vắng và ngổn ngang xác các toa tàu cháy đen, quoằn quại. Tới Vinh thì tàu dừng hẳn, vì đâylà ga cuối cùng của thời đó. Cả Thành phố Vinh tan hoang không còn một mái nhà nguyên vẹn. Chúng tôi được nghỉ hai ngày tại Hưng Nguyên, Nghệ An, sau đó ra Bến Thủy lên sà lan, đi suốt đêm dọc bờ biển, dưới ánh đèn dù và tiếng ì ầm của máy bay địch. Sáng hôm sau vào tới cửa sông Gianh, lên bờ nghỉ trọ nhà dân ở xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Buổi chiều bắt đầu leo dốc vượt Trường Sơn.

    Chặng hành quân đầu tiên của Trường Sơn vạn dặm là một thử thách không nhỏ đối với những người lính trẻ. Gió mùa đông bắc liên tục tràn về mang theo những trận mưa phùn dầm dề, làm nhão nhoét những cung đường đất đỏ vốn dày đặc dấu chân của hàng vạn người lính đã đi qua theo năm tháng. Vì thế mỗi bước chân là một thử thách, cứ nhấc được chân phải lên là chân trái lại lún sâu dưới bùn. Nhiều anh rút được chân lên thì quai dép đã tuột sạch, cười ra nước mắt.

Bãi khách đầu tiên của Trường Sơn có mật danh T5, nằm dưới một khu  rừng kín đáo phía trên nhưng mật đất rất quang quẻ. Điều đặc biệt là gốc cây nào cũng nhẵn bóng dấu mắc võng của bao người đã từng nghỉ lại nơi đây. Đó đây trên thân cây rừng còn khắc ghi tên tuổi, quê quán của những người lính trẻ như nhắn gửi lại cho người đi sau biết mà nhận đồng hương. Đêm hôm đó, trên cánh võng mềm, tôi chùm chăn thật kín, bật đèn pin quả nhót, viết vội 2 lá thư, một cho gia đình, lá kia cho cô bạn hàng xóm tôi yêu, để sáng sau nhờ cán bộ khung huấn luyện đưa quân vào tới đây, quay ra Bắc, chuyển hộ tới gia đình .

Đường Trường Sơn dành cho người đi bộ phần lớn vắt vẻo trên những sườn núi cao, băng qua các đỉnh núi mây mù giăng phủ nên rất nhiều đèo dốc, cứ mở mắt là thấy dốc. Nhiều đoạn xuyên qua rừng già nguyên sinh, âm u mà hùng vĩ. Thỉnh thoảng nó lại nhập vào đường xe cơ giới rồi lại tách ra như những tĩnh mạch được nối với động mạch chủ, của một cơ thể trẻ trung căng đầy nhựa sống. Con đường kỳ diệu ấy như vừa lẩn tránh, vừa thách thức quân thù suốt mười mấy năm qua.

 Dọc đường, chúng tôi được chứng kiến hàng vạn TNXP, chủ yếu là nữ, đội mưa bom bão đạn để mở đường và san lấp hố bom thông đường cho xe ra tiền tuyến. Gặp các cô dân công gùi nặng leo dốc, có anh còn ác khẩu trêu chọc “ các em gùi nặng thế thì mất lứa đẻ đấy”. Mỗi khi gặp từng tốp lính cũ được cử ra Bắc đào tạo, chúng tôi thường hỏi chiến trường còn bao xa thì đều nhận được câu trả lời giống nhau là “xắp tới rồi, các cậu vào nhanh đi kẻo chỉ còn nhặt ống bơ rỉ”. Trên con đường ra trận vạn dặm đó, chúng tôi còn gặp những bản nhỏ của đồng bào dân tộc Cơ Tu, Vân Kiều, Lào Thưng…vắt vẻo lưng chừng suốt dãy Trường Sơn.Nhưng chính họ, không chỉ cung cấp cho chúng tôi một nguồn thực phẩm quan trọng thông qua đổi trác rất tự nguyện, mà còn làm cho Trường Sơn thêm sức sống và sinh động khác thường.

Là huyết mạch quan trọng bậc nhất chi viện người và của cho chiến trường Miền Nam, Trường Sơn đã trở thành nơi đánh phá ác liệt của kẻ thù. Trên đường hành quân, chúng tôi phải băng qua không biết bao nhiêu trọng điểmác liệt, biết bao cán bộ, chiến sĩ của ta đã phải hy sinh giữa chừng. Tôi có thằng bạn cùng lớp 10B là Đoàn Hồng Hải, con nguyên Chủ tịch tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ sau tôi ba tháng, nghe nói trúng bom B52 hy sinh trên con đường này. Trường Sơn thực sự là nơi thử trí trai, không như đèo Khế, đèo “cứt trâu” trên rừng thiêng Yên Thế mà chúng tôi đã từng thử sức. Bởi thế có người không chịu nổi gian khổ, ác liệt đã tự bắn vào chân, tay mình để không phải vào Nam chiến đấu. Có anh đào ngũ chui lủi một mình trong rừng sâu để tìm đường ra Bắc. Tuy vậy, đa số lính trẻ chúng tôi thì cho rằng, thà vào tới chiến trường đánh một trận hy sinh còn hơn phải quay ngược lại con đường đầy chông gai, gian khổ và mang về quê hương nỗi nhục của kẻ “B quay”.

Càng về cuối chặng hành quân, số người bị sốt rét càng tăng. Một anh sốt là phải hai anh cáng, vài ba anh khác phải mang vác ba lô, súng đạn cho đồng đội.  Vậy mà riêng tôi tôimay mắn vẫn bình an suốt chặng đường. Vẫn là liên lạc của đại đội, tôithường xuyên phải đi lại xuôi, ngược suốt đội hình để chuyển thông tin. Ấy thế mà tối nào tôi cũng viết nhật ký ghi lại những gì diễn ra và suy nghĩ của mình dọc con đường huyền thoại ấy. Một trong những nguyên nhân khiến tôi “đề kháng” được với ốm đau bệnh tật là nhờ kinh nghiệm của anh Điển, người cùng quê, từ chiến trường phục viên ra trang bị cho. Theo đó, tôi mua khá nhiều Polyvitamin và chia đều ngày uống 10 viên dọc đường hành quân. Trước khi đi, tôi còn sang Trung Quốc mua hàng chục lọ nước hoa để đổi cho bà con dân tộc dọc Trường Sơn, lấy gạo nếp, bí đỏ…cải thiện.

 Rồi chúng tôi lần lượt vượt qua các địa danh nổi tiếng ác liệt của Trường Sơn như đường 20 Quyết thắng, đèo Phu La Nhích, cua chữ A, dốc Cổng trời, dốc Nguyễn Chí Thanh, dốc bà Định, Đường 9, sông Bạc, sông Sê Băng Hiêng, Sê Ca Mán, A Tô Pơ và cuối cùng là Ngã ba Đông Dương. 

                  

                         Trường Sơn đông nắng tây mưa

                         Ai chưa đến đó thì chưa biết mình (ảnh sưu tầm)                    

                             4. VỀ C17

Áp tết âm lịch năm 1972, sau 3 tháng vượt Trường Sơn đầy gian khổ, hiểm nguy, chúng tôi đã tới điểm dừng chân cuối cùng là Binh trạm T3, ngay khu vực ngã ba Đông Dương. Sau một ngày nghỉ ngơi chờ đợi, chín đứa chúng tôi là Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Văn Thuật, Bùi Nguyên Văn, Nông Văn Bối, Nông Văn Bách, Đàm Văn Lộc, Hoàng Văn Thông, Đàm Côn và Nguyễn Việt Phát được chọn bổ sung về đại đội trinh sát C17, Trung đoàn 40 pháo binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh B3,Tây Nguyên. Phần lớn số còn lại của C3 và cả Tiểu đoàn 33 huấn luyện, được bổ sung về các tiểu đoàn pháo binh mặt đất và pháo phòng khôngcủa E40.

Trên đường về đơn vị mới, chúng tôi băng qua một nương sắn, mọi người mừng rỡ nhổ sắn bóc ăn ngấu nghiến, vì 3 tháng hành quân hầu như đã vắt kiệt sức lực của chúng tôi. Anh Thiều Đình Bảy quê Thanh Hóa, người đại diện đơn vị mới ra nhận quân, nhắc chúng tôi kỷ luật hành quân và khuyên không nên ăn quá nhiều sắn sống dễ bị say.

Hậu cứ đầu tiên của C17 nằm trên địa bàn bản Tà Cơi, thuộc huyện 40, tỉnh Kon Tum, gần Binh trạm T3. Doanh trại của đơn vị là những căn nhà nửa chìm nửa nổi, lợp mái lồ ô, đắp ụ đất xung quanh, nằm dưới tán rừng già kín đáo, chim, sóc, kỳ lân, gà rừng nhảy nhót, gáy hót suốt ngày. Thú rừng nơi đây nhiều đến nỗi lợn rừng vào giao phối với lợn nhà đẻ ra những chú heo con với những vệt dọc dưa trông thật ngộ nghĩnh. Trước mặt đơn vị làcon suối nhỏ len lỏi chảy qua cánh rừng lồ ô rậm rì, bên kia suối vườn rau tăng gia đủ loại nhưng nhiều nhất là rau dền, rau muống và củ cải. Sau lưng đơn vị không xa là gần một trăm ha rẫy lúa, ngô, sắn và đậu mắt cua, mảnh nhỏ nhất cũng vài ba ha, là nguồn cung cấp chủ yếu lương thực cho đơn vị trong rất năm đánh Mỹ. Sau năm 1969, chính trường Căm Pu Chia biến động, bọn Lon lon, Xi Rích, Ma Tắc làm đảo chính khiến ta gặp khó khăn tiếp tế,  trên chủ trương cho bộ đội ra Quảng Bình an dưỡng, nhưng Bộ Tư lệnh B3 xin được ở lại, vừa tăng gia vừa đánh giặc, từ đó mới xuất hiện các nương lúa, nương săn bạt ngàn giữa vùng hậu cứ. 

Đại đội trinh sát C17 được thành lập ngày 5 tháng 2 năm 1967, cùng thời điểm thành lập E40 pháo binh, trung đoàn pháo binh đầu tiên của Tây Nguyên(nằm trên địa bàn huyện 40, Kon Tum). Trung đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí Nguyễn Xuân Giá, đồng chí Phạm Việt Thọ là Chính ủy. Thời kỳ đầu, Trung đoàn có 4 tiểu đoàn: 30,31,32,34 với trang bị chủ yếu là pháo ĐKB, ĐKZ, cối 120, 82 và cao xạ 12,7 ly.

Ngay sau khi thành lập, các tiểu đoàn 30,31,32 đã chi viện bộ binh tiến công lữ dù 2 của Mỹ tại Sùng Lễ, Sùng Thiện đến Đức Cơ, Gia Lai. Sau đó Trung đoàn tiếp nhận thêm tiểu đoàn pháo 33 ĐKB và liên tục tập kích địch từ  Đắc Tô, Tân Cảnh đến Play Cu. Tháng 4 năm 1968, trung đoàn 40 được tăng cường tới 10 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn ĐKB, ĐKZ, Cối 120, 82 ly; 2 tiểu đoàn pháo 105,85 ly; 2 tiểu đoàn cao xạ 37 ly. 1 tiểu đoàn 12,7 ly và 1 tiểu đoàn xe tăng PT76.

Tháng 8 năm 1968, đồng chí Tô Thuận được giao làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo 40. Trung đoàn chia làm hai cánh, cánh Bắc chiến đấu ở Kon Tum (Gồm các Tiểu đoàn 32,33,42,46,16). Cánh Nam gồm Tiểu đoàn 31,41,47 chiến đấu ở địa bàn Gia lai. Mùa khô năm 1968, Trung đoàn hỗ trợ bộ binh E28 và E66 tiến công địch ở Play Cần, Ngọc Hồi, cao điểm 824…

Năm 1969, đồng chí Nguyễn Tiến Vinh làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Bùi Tố Tọa làm Chính ủy. Thời kỳ này, Trung đoàn đánh địch ở Kleng, Chư Hinh, Ngok Tô Ba, Chư Rơ Ban, Plaay Cần…

Đầu năm 1970, Trung đoàn còn 4 tiểu đoàn (30,32,33,11) và 4 đại đội trực thuộc là Trinh sát, thông tin, công binh và quân y. Đồng chí Nguyễn Hữu Quỳnh là Trung đoàn trưởng và đồng chí Lê Đình Nguyên làm Chính ủy. Thời kỳ này Trung đoàn hỗ trợ E28 đánh Đắc Siêng, pháo kích Play Cần, Đắc Mót, Pô Cô Hạ.

Tháng 2 năm 1971, Trung đoàn hỗ trợ E66 đánh Ngọc Rinh Rua và bắn phá sân bay Đắc Tô. Bước sang năm 1972, Trung đoàn được bổ sung 1 đại đội súng cối 160 ly của Trung đoàn pháo binh 675, do đồng chí Nguyễn Hữu Vinh làm Trung đoàn trưởng và đồng chí Lại thế Cường làm Chính ủy. Lúc này Mặt trận Tây Nguyên đang chuẩn bị mở chiến dịch xuân hè 1972, phối hợp với mặt trận Quảng Trị đánh những đòn quyết định, buộc địch phải đi đến ký Hiệp định Pa Ri đầu năm 1973.

Với chức năng là đại đội chỉ huy, trực thuộc Trung đoàn, C17 trinh sátcó nhiệm vụ trinh sát, đo đạc xác định tọa độ, tính toán các phần tử bắn và lập các tổ đài quan sát để gọi, chỉnh pháo bắnvào các mục tiêu đã được cấp Trung đoàn xác định. C17 còn là nơi đào tạo, cung cấp nguồn cán bộ chỉ huy bắn cho các đơn vị pháo trong toàn Trung đoàn. Vì thế người ta thường xem họ như những đôi mắt của pháo binh. Nói là đại đội nhưng quân số chỉnăm sáu chục người, được chọn lọc khá kỹ và phiên chế thành hai trung đội trinh sát và kế toán. Kể từ ngày thành lập, C17 đã tham gia hầu hết các trận đánh lớn nhỏ do Trung đoàn chỉ huy cũng như phối thuộc cùng các tiểu đoàn pháo đánh đơn lẻ.

          Khi chúng tôi được bổ sung vào C17 thì một thế hệ cán bộ trinh sát, kế  toán lớp đầu tiên như Phạm Ngự, Phạm Đức Dân, Tào Minh Phúc, Hà Tắc, Nguyễn Thế Vĩ, Đoàn Dư Điềm, Nguyễn Lệ, Hoàng Thiêm…đã được tăng cường làm cán bộ cho các đơn vị trong  Trung đoàn 40.

Đại đội trưởng C17 lúc đó là anh Nguyễn Văn Thụy,  nhập ngũ từ 1964, giỏi chuyên môn, sống hòa đồng và phóng khoáng. Hồi năm 67, anh đã từng trèo lên cột cờ Hiền Lương gọi pháo bắn vào Cồn Tiên Dốc Miếu. Năm 1970, vì thương lính đói quá, anh đã chỉ đạo giữ lại ít lúa đơn vị tăng gia được để cho quân cải thiện, không khai báo hết với cấp trên nên bị kỷ luật. Vì vậy anh em đơn vị thương và quý trọng anh nhiều lắm. Sau này về hưu, với quân hàm Đại tá, nhưng anh vẫn là một người anh cả đáng kính của cánh lính cựu C17 chúng tôi. Nhà tôi chỉ cách nhà anh vài trăm mét.

Đội ngũ cán bộ của C17 lúc bấy giờ còn có các anh Vũ Văn Muống, Chính trị viên trưởng,quê Gia Lộc, Hải Dương; anh Nguyễn Như Đới và anhBùi Minh Tâm là C phó. Cán bộ trung đội có Lê Việt Cườngquê Hà Tây, Nguyễn Văn Vạn, Vũ Văn Thục, Nguyễn Đức Tài, Hoàng Văn Sửu, Nguyễn Huy Phồn quê Hải Phòng… Tất cả họ đều là những trinh sát, kế toán pháo binh tài ba, gan dạ,đi B từ những năm 67- 68, đã trải qua nhiều trận đánh ác liệt và lập nhiều chiến công thầm lặng ở chiến trường Bắc Kon Tum, trong những ngày đánh Mỹ đầy gian khổ.

Lớp trinh sát, kế toán vào chiến trường năm 1970Lê Xuân Hạnh, Phạm Như Ý, Trịnh Bá Quyền, Trịnh Ngọc, Thiều Văn Thế, Khánh, Quý “xịt” quê Vĩnh Phú, Khánh “khoang” quê Hòa Bình; Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hữu Điền, Lộc “than”, Thành “đen”, Thành “còm”, Trúc quê Hưng Yên; Hoan quê Hải Phòng…

Y tá đại đội có Phùng “khịt” vàLưu Thế Tấn, quê Hoài Đức, Hà Tây. Cấp dưỡng có Bách, Sơn;Tổ tăng gia có Đạt và Nhật… Mỗi người một tính, một quê nhưng gắn bó như anh em ruột thịt.

Chúng tôi về C17 được vài hôm là đón tết 1972, cái tết đầu tiên của đời lính trong chiến trường. Đêm 30, cả đại đội  tập trung đón giao thừa tại hội trườngnửa chìm nửa nổi, có ngách dẫn vào các hầm chữ A, bàn ghế làm bằng l ô và cây rừng. Phía trên hội trường, dưới cờ giải phóng là ảnh Bác Hồ, chính giữa là cây hoa dân chủ, trong đó những mảnh giấy nhỏ gấp kín với những nội dung yêu cầu người chơi phải thực hiện. Sau phát biểu của Chính trị viên trưởng Vũ Muống,cả đơn vị cùng hát bài ca ngợi truyền thống Trung đoàn 40 với ca  từrất hùng tráng, tự hào:

Rầm rập bước chân / Trung đoàn ta đi mang khí phách của Điện Biên chiến thắng/Nơi đây núi rừng bao la / Sức mạnh quân ta như bão nổi Trường Sơn/ Mang truyền thống anh hùng vai sắt chân đồng / Trung đoàn 40 ra đi là lập  chiến công/Cả dải đất Tây Nguyên kiên cường kiêu hãnh với chiến thắng lớn/Máu quân xâm lược nhuộm đỏ nước dòng Sa Thầy/Đắc Sút, Đắc Tô, Sùng Thiện, Sùng Lễ giặc Mỹ tan thây/ Bao căn cứ xác giặc chất đầy/Lô cốt tan và phi cơ cháy/lửa hờn căm đang sục sôi/ Đánh cho quân cước Mỹ tơi bời/Nòng pháo ta vươn cao giữa trời này.

          Rộn ràng khắp nơi, dây đòn trên vai khiêng pháo không ngại vượt bao gian khó/ Quê hương vẫn còn khổ đau/bát gạo chung nhau ta quý từng hạt muối/Nghe lời Bác kêu gọi tha thiết trong lòng/Rau rừng sắn khoai nhưng ta lập nên chiến công/Ầm ầm pháo binh ta giăng thành lũy thép quyết chiến xốc tới/khép vây quân thù, bám trụ giữ cả đất trời/Áp sát tiến sâu quân giặc ở đâu là pháo ta đi/ Vai mang pháo ta vào công đồn/tim óc ta mở đường chiến thắng/ lịch sử ghi trang truyền thống/ đánh độc lập hay đánh hiệp đồng /cùng xây dựng Trung đoàn ta quyết thắng./. 

Tiếp đó mọi người đề nghị Trung đội bậc trưởng Bùi Minh Tâm, biệt danh “ Tâm cối” (vì có tài đóng cối xay thóc), hát bài “Nhớ Bác trên đường ra trận” của Vũ Quý, một cán bộ tuyên văn E 40 sáng tác, với ca từ và giai điệu nhẹ nhàng, da diết: “ Đêm nay chúng con khênh pháo vào trận địa chiếm lĩnh/ Đường đi chiến dịch gian lao/ Nhớ lời Bác căn dặn ngày nào/ Gần thắng lợi càng nhiều gian lao/ Đường lên Chư Mom Ray gặp mây bay con nhớ tóc Bác/ Đường xuyên cắt rừng khuyê nhìn sao sáng thấy mắt Bác cười/ Bác Hồ ơi…Con biết Bác thương nhiều đàn con pháo thủ/ Dãi nắng dầm mưa đưng chiến dịch còn xa/ Pháo nặng trĩu trên vai, pháo nặng trĩu trên vai/ Nhưng sao bằng gánh giang sơn ở trên vai Bác/ Con đường chúng ta đi, cho dù có gian nguy, sao bằng đường xa Bác Hồ đi/ Con cùng pháo đêm nay, trút lửa xuống đồn thù/ Chiến công này dâng Bác. Bác lại càng vui hơn….

Cánh lính quê Hưng Yên thì giới thiệu Lộc “than” hát bài ca ngợi cánh đồng đay của quê mình trong đó có đoạn “ Cánh đồng đay không cánh mà bay/bay từ quê ta mà bay ra các nước/đến khi về kìa đay mang được/biết bao là máy móc vải tơ…”, chất giọng của Lộc khá mượt mà nhưng không dấu nổi cái tật ngọng cố hữu của vùng lúa Bắc bộ. Bùi Nguyên Văn quê Cao Bằng xung phong hát bài Chiến sĩ Việt Nam với âm điệu hào sảng, trầm hùng “Bao chiến sĩ lên đường/Lạnh lùng vung gươm ra chiến trường…”. Còn tôi, được đề nghị ngâm bài thơ Bầm ơi của Tố Hữu, bài thơ tủtôi thường trình bày trước đại đội hồi còn ở Hà Bắc.

Cuộc vui đang đến độ cao trào thì một loạt bom nổ dữ dội, các ngọn đèn dầu được làm bằng lọ dầu chống vắt của Mỹ vụt tắt, mọi người tản nhanh vào các ngách hầm chữ A ngay cạnh vách hội trường. Loạt bom cách đơn vị không xa, có lẽ mục tiêu chính của chúng là đánh phá tuyến ngầm giao thông gần đó. Sau phút bàng hoàng, cả hội trường lại bừng lên, cuộc vui lại tiếp diễn như không có gì xảy ra. Mặc dù giữa nơi chiến trường xa xôi, gian khổ và thiếu thốn trăm bề, nhưng mâm cỗ tết vẫn có đủ bánh trưng, kẹo, mứt, rượu, thuốc…Phần lớnlà sản phẩm tự sản tự tiêu của người lính Tây Nguyên,điều đó khiến chúng tôi cảm thấy ấm lòng.

Ăn Tết xong, cả đơn vị lại ra quân chuẩn bị cho mùa trồng tỉa, cánh lính Cao Bằng chúng tôi thì không lạ gì nương rẫynên hòa nhập rất nhanh. Tuy vậy, sợ chúng tôi là lính tò te, công tử nên cánh lính cũ tập trung trêu chọc râm ran khắp mặt nương. Y tá Phùng và B phó Nguyễn Văn Vạn đố chúng tôi rằng Thúy Vân Thúy Kiều ai là chị, ai là em. Tôi thật thà đọc lại câu thơ đầu của của Nguyễn Du. Các anh cười bảo sai và ngâm rằng: Đầu lòng hai ả Tố Nga/Thúy Vân là chị em là Thúy Kiều/ Sắc tài hơn kém bao nhiêu…Rồi các anh lại căn vặn, cậu biết câu “xè xè nắm đất bên đường/Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” là có ý gì không. Tôi lại thật thà giải thích như đã được học ở trường. Hai anh lại lắc đầu và lý sự rằng đó là cảnh tả Thúy Kiều đi tiểu cạnh mộ Đạm Tiên nên cỏ chết héo ngay lập tức, cũng vì thế nên sau này đời cô ấy mới khổ…Tôi ngây ngô cãi lại chẳng được, sau đó mới ngớ ra mình mắc mưu lính già, họ trêu đùa tếu táođể giúp chúng tôi vợi bớt nỗi nhớ nhà và mau hòa nhập cuộc sống nơi đây.

Ở đại đội có cậu Khánh quê Phú Thọvà Đàm Lộc người dân tộc Tày quê Triệu Ẩu, Qung Uyên, Cao Bằng.Cả hai đều có răng bịt vàng, răng của Khánh cũ xỉn và bị sứt, răng của Lộc mới lắp vàng chóe. Thế là họ trở thành mục tiêu trêu chọc của toàn đơn vị, chuyện rằng có hai anh chàng mới bịt răng vàng muốn khoe răng với mọi người, họ bèn rủ nhau ra quán bia, một anh cố tình nhe răng gọi cô bán hàng cho một cốc b..i..a, lập tức chiếc răng vàng của anh ta hé lộ khiến mọi người khen xuýt xoa, anh kia thì cười hết cỡ bảo cô gái cho một cốc p…ì…a, chiếc răng vàng lộ rõ hơn, mới và đẹp hơn của anh kia. Thế là từ đó Lộc có biệt danh là Lộc pìa”, còn Khánh đành chấp nhận cái danh là “Khánh pia”. Nghe nói Lộc đã chuyển gia đình vào Tây Nguyên từ sau chiến tranh biên giới tháng 2/1979, nhưng không rõ ở tỉnh nào.

Thời kỳ này đường vận tải Trường Sơn bị đánh phá rất ác liệt nên toàn B3 đói lắm, tiêu chuẩn mỗi người chỉ được 1,5 lạng gạo mỗi ngày, rá cơm 2/3 là sắn đồ đánh tơi trộn với gạo nương hoặc đậu mt cua. Người ốm nặng mới được một lưng cơm không trộn sắn, cả món rau cũng toàn lá sắ. Hồi còn ở nhà, tôi thường đội trưa hè lên rẫy hái lá sắn về nuôi tằm, nay thì hái lá sắnvề để nuôi chính mình. Bữa ăn nào cũng có món măng lồ ô, hết xào, luộc lại nộm. Rau muống, dền, củ cải trồng được đều phải phơi khô để dành cho đi chiến dịch,ngay cả thịt lơn cũng đem ướp muối mặn để giành cho tuyến trước.Vì thế những ngày ở hậu cứ thực sự là những ngày lao động cực nhọc khem khổ.

Trong những ngày đầu về C17, tôi nhận thấy đây là một tập thể trẻ trung, nhanh nhẹn, thông minh và vui nhộn.Có lần tôi được chứng kiến cánh lính cũ thấy cậu Trúc “tồ” ngủ trưađể “của quý dựng lên liền dùng dây võng buộc vào và kéo lên xà nhà cho tới khi cu cậu tỉnh giấc đau quá van xin mới thôi. Đó cũng là “giải pháp” chống ngủ ngày để tránh sốt rét. Hấp dẫn nhất là trò chơi bài “càn trọc”, một hình thức đánh tú lơ khơ nhưng chưa thấy bao giờ, trong đó con Q pích gọi là “quy xâm lược”. Nguyên tắc đánh là gồm 4 người chia hai phe ngồi xen kẽ. Bên ra quân phải dùng con chất mà mình có ưu thế để buộc đối phương phải ra quân cùng chất cho tới hết chất đó. Nếu đối phương đỡ được thì họ có quyền “càn” ngược lại. Trường hợp không có quân đỡ thì bạn cùng chơi phải đỡ thay…Nếu bên tấn công, làm chủ trận càn khiến đối phương không đỡ nổi và bị thối Q pích thì coi như trận càn kết thúc… Lắm hôm chơi bàidưới hầm say đến nỗi, B52 dội trên đầu mà lính ta cứ tỉnh bơ và phán rằng, chúng nó ném bom chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết, rồi cãi nhau ỏm tỏi khi phát hiện kẻ ăn gian. Hóa ra, ngay cả trò chơi mang tính giải trí cổ điển ấy, lính ta cũng nghĩ ra cách đánh như đánh giặc ngoài trận tiền. Với một tập thể như vậy, nên có lần anh Khôn quân lực Trung đoàn, xem lý lịch biết bố tôi là thợ may, bảo tôi về Trung đoàn bộ bổ sung cho bộ phận hậu cần nhưng tôi từ chối.  

               5.  MÙA HÈ ĐỎ LỬA

Sau tết, đơn vị lên đường tham gia chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh. Trước khi ra trận, mọi người được quán triệt phương châm chỉ đạo của cấp trên là: “ Trường Sơn chuyển mình/ Pô Kô dậy sóng/ Quét sạch quân thù/Giải phóng Tây Nguyên.Là người lính mới vào chiến trường, chúng tôi được phổ biến rằng, đây là một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay ở mặt trận Bắc Tây Nguyên, nhằm phối hợp với chiến trường Bình – Trị – Thiên tạo nên một sức ép quan trọng buộc địch phải ký Hiệp định Pa Ri, vì vậy ai nấy hào hứng phấn khởi. Toàn đại đội được chia làm hai cánh, cánh Đông và cánh Tây, phục vụ các trận địa pháo phối hợp với các sư đoàn chủ lực, tạo thành hai gọm kìm chủ yếu của quân ta bao vây cứ điểm Đắc Tô -Tân cảnh.

           Toàn cảnh Đắc Tô – Tân Cảnh năm 1972

Để chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử này, Mặt trận B3 được trên tăng cường thêm Trung đoàn pháo binh 675, mật danh là Lâm Đồng (có Đ74,122, cối 160), một đại đội B72, một tiểu đoàn xe tăng T54, 1 tiểu đoàn pháo 85. Mục tiêu trước mắt của chiến dịch là Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 ngụy đóng ở Tân Cảnh. Theo kế hoạch của ta, một cụm pháo gồm lựu 122 ly,cối 160 ly, B72, cao xạ 37 ly, tăng T54 được lệnh bí mật vòng sang phía đông đường 14 để đánh vào phía sau căn cứ Đắc Tô -Tân Cảnh. Theo đó, C17 đã cử một nhóm trinh sát đi cánh Đông chuẩn bị chiến trường từ trước tết.

Đúng lúc cả đơn vị náo nức chuẩn bị lên đường đi cánh Tây thì tôi lên cơn sốt rét, đây là trận sốt đầu tiên kể từ ngày nhập ngũ, thế là đành phải ở lại đi sau. Sốt rét rừng thật lạ, lúc đầu chỉ cảm thấy nhức đầu, chóng mặt, rồi đột ngột rét rung tăng võng, đắp bao nhiêu chăn, màn cũng vẫn run, sau đó toàn thân nóng bỏng, đạp hết chăn màn ra mà vẫn nóng, cơ thể rã rời, buồn nôn, đi tiểu màu hồng, sợ mùi cơm và khát kinh khủng. Nghe cánh lính cũ kể lại trước đây, khi chưa có thuốc Ni-va-quytim thẳng vào mông, nhiều trường hợp sốt cao biến chứng thành ác tính dẫn đến tử vong chết oan.

Sau một tuần thuốc thang tiêm chọc thì hạ sốt, tôi và Thành “còi” cũng vừa khỏi ốm, lên đường nhưng là để tăng cường cho cánh đông. Trên đường ra phía trước, chúng tôi gặp một đoàn dân công hỏa tuyến gùi gạo đạn ra tiền phương, trong đó có một cô gái khá xinh và có nụ cười rất đẹp. Nụ cười giữa Trường Sơn của cô gái lạ ngày ấy, cứ ám ảnh tôi mãi, đến nỗi sau này tôi phải vẽ nụ cười đó vào bài thơ với tựa đề “Nụ cười Trường Sơn” mà tôi đăng trong phần sau cuốn sách này, để chia sẻ cảm xúc cùng đồng đội và bạn đọc. Âu cũng tại cái tâm hồn văn chương thơ phú nó vận vào tôi suốt thuở học trò, nhưng cũng chỉ làng nhàng cho vui vậy thôi.

Ấn tượng về nụ cười của người con gái trên đường ra trận chưa kịp thành thơ thì những thử thách mới đã đến. Đó là tình trạng đói mệt sau những ngày vừa cắt sốt, đến nỗi phải bới tìm từng mẩu sắn, miếng cơm cháy thừa sót lại, từ một bếp ăn dã chiến của một đơn vị nào đó vừa đi qua để lót lòng. Đó là đường rừng thì heo hút, thăm thẳm, phải vừa đi vừa dò ký hiệu để tránh lạc đường. Sau gần một tuần lầm lũi xuyên rừng, vượt suối, chúng tôi gặp được bộ phận đi chuẩn bị chiến trường trước tết của C17. Gặp đơn vị mừng như về tới nhà, lúc này tôi mới biết mặt anh Thục, quê An Lão, Hải phòng, trung đội trưởng của tôi.Thấy tôi hay hí hoáy viết nhật ký, anh Thục bảo nghề trinh sát của chúng mình không được phép mang theo thư từ, nhật ký vào trận đâu và yêu cầu tôi phải hủy cuốn nhật ký đi. Mặc dù dày công ghi chép suốt 3 tháng vượt Trường Sơn nhưng tôi đành tuân lệnh đốt đi trong sự tiếc nuối vô cùng.

Nhưng oái oăm thay, gặp được đơn vị hai hôm thì tôi bị sốt trở lại, lần này nặng hơn lần trước. Đúng như cánh lính cũ nói, ai sốt lần đầu cũng vậy, sốt lai rai, tái đi tái lại cho tới khi cơ thể thích nghi với loại ký sinh trùng sốt rét thì mới giảm, mới quen dần với cái sốt của Tây Nguyên. Thấy tôi sốt cao quá, anh Thục sai người khiêng tôi vào trạm xá tiền phương của Đội điều trị 25 gần đó. Nói là trạm xá, nhưng thực ra là những căn hầm nửa chìm nửa nổi, núp dưới tán rừng rậm rạp, bên khe suối nhỏ, cây riềng dại mọc um tùm cao hơn đầu người. Tôi được xếp nằm cạnh một chiến sĩ bộ binh bị thương nặng ở chân phải, vừa đưa từ tuyến trước về. Vết thương của cậu ta đã hoại tử, họ quyết định cắt bỏ tới đùi nếu không sẽ nguy hiểm tính mạng. Do thiếu thuốc gây mê, nên người ta phải trói chặt chân tay cậu ta để cưa sống. Nằm cạnh hầm phẫu, tôi nghe rõ tiếng cưa xèn xẹt đến ghê răng. Chàng thương binh la hét khủng khiếp rồi lịm đi, đến khi tỉnh lại vẫn còn kêu khóc đòi trả lại cái chân đã mất. Do thiếu người nên họ giao cho tôi và một bệnh binh khác đem cái chân đó đi chôn, lúc đó tôi có cảm giác cái chân của chàng thương binh ấy sao nặng thế.

Tối đó, có lẽ do bị ám ảnh sự kiện trên, thêm vào sốt cao nên tôi đã không làm chủ được, nói năng huyên thuyên, cười khóc như điên loạn. Mọi người biết là tôi bắt đầu lên cơn ác tính liền đè tôi xuống, đưa thanh tre vào ngang miệng đề phòng tôi cắn lưỡi và tiêm chọc liên tục. Tôi mêman bất tỉnh cho tới mãi hôm sau. Thường thì sốt ác tính dễ gây tử vong, nhưng rất may tôi được cứu chữa kịp thời. Sau trận đó, người tôi cứ như kẻ mất hồn, đầu nặng như chì, nhức như búa bổ, hai tay hai gậy chống mà đi không nổi, mt hoa, tai ù, sợ cơm, khát nước gày tọp đi rất nhanh.

Thế rồi nhờ tuổi trẻ, lại quen lao động nặng từ tấm bé nên chỉ mươi ngày làtôi hồi phục,trạm xá có ý giữ tôi lại để phục vụ thương bệnh binh nhưng tôi từ chối và nhất quyết đuổi theo đơn vị đang ở phía trước. May thay gặp được anh Bốn người Quảng Bình, một cựu binh ở đơn vị tăng gia của Trung đoàn 40, kết thành đôi bạn hỏi đường, tiến dần lên phía trước. Thấy tôi vác khẩu CKC dài nghêu, anh Bốn luôn mồm trêu trọc “ Hai tay cầm khẩu súng dài/ ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này”. Tôi tự ái nhưng đành bấm bụng và thầm mong một ngày sớm được đổi khẩu AK cho ra dáng.

Cứ thế ngày đi, đêm nghỉ trên con đường công binh mới mở, được ngụy trang kín đáo. Đêm đêm, chúng tôi nghe rõ tiếng xe Zin 130, Zin 3 cầu kéo nhau vượt dốc, tiếng xe tăng T54 gầm gừ nhích từng đoạn, dưới ánh đèn gầm le lói, để tiến dần ra mặt trận. Sáng sau, mọi dấu vết của xe pháo lại được xóa nhòa.

 Vào một buổi chiều, hai chúng tôi tạt vào một cánh rừng le ven đường nghỉ tạm, chờ trời tối hẳn sẽ vượt ngầm sông Pô Cô. Nào ngờ nơi đây chính là chỗ tập kết thương binh, tử sĩ của một đơn vị bộ binh đánh cao điểm Ngọk Pếch gần đó chuyển về. Nhìn đồng đội băng bó đầy mình nằm la liệt trên mặt đất, trên võng và nghe tiếng rên, khóc của những người bị thương nặng, khiến chúng tôi không sao chịu nổi đành vội vã cuộn tăng võng lên đường đi tiếp.

Thấy yên ắng, chúng tôi quyết định vượt sông. Vừa qua được ngầm thì một máy bay AC130 gầm gào xuất hiện, bay sát mặt sông tìm kiếm mục tiêu, chúng tôi vội tìm chỗ ẩn tránh. Sau phút định thần, tôi phát hiện cây nhiệt đới ngay bên mình, bề ngoài nó giống hệt một canh cây khô, từ vị trí này, “nó” có thể nghe rõ” tiếng động cơ xe tăng, cơ giới của ta vượt sông. Để vô hiệu hóa thiết bị này, tránh tai họa cho các đơn vị bạn, chúng tôi cẩn thận túm buộc râu ăng ten của nó lại.

Khi chiếc AC130 vòng xa, hai người tụt xuống đường đi tiếp. Đường đá lồi lõm ổ gà ổ trâu, thi thoảng còn sót lại vài mảng nhựa đường do lâu ngày bỏ hoang khô bong nứt nẻ. Chúng tôi đi được chừng trăm mét thì máy bay địch vòng lại, lần này nó đã phát hiện ra cái gì đó nên bắt đầu bắn phá dữ dộị. Một số máy bay phản lực cũng lao đến cắt bom, lửa cháy rừng rực hai bên đường. Không còn cách nào khác, chúng tôi đành đổ nước bi đông vào khăn mặt, bịt mặt và liều mạng băng mình qua khói lửa, cứ mặt đường mà chạy, mặc cho lửa táp cháy trụi cả hàng mi. Chạy được chừng vài trăm mét thì phát hiện vết xe rẽ vào cánh rừng le bên trái, đoán chừng có quân ta trong đó, chúng tôi quặt vào. Quả nhiên, một chiếc xe Zin 130 đang gầm gừ lùi tiến tránh lửa, lái xe là Ma Văn Bàn, người Hòa An, Cao Bằng (Bàn là anh trai cậu Ngọc, lính vào C17 năm 1974). Gần đó là những hầm chứa đạn pháo của ta. Hóa ra đây chính là mục tiêu săn lùng, bắn phá của AC130 suốt chiều tới giờ. Tình thế thật nguy cấp, lửa cháy đang liếm dần vào kho đạn, chúng tôi cùng một đơn vị gần đó lao vào bốc đạn chuyển đi nơi khác. Những quả đạn pháo to đùng vừa tròn, vừa nặng, khiến tôi loay hoay xoay sở mãi mới đưa được nó được lên vai. Tối đó, tôi ngủ lại tại một đơn vị của Trung đoàn và sáng hôm sau tiến dần về  quận lỵ Đắc Tô.

          Phương án chuẩn bị đánh địch cánh Đông bất ngờ với địch, nhưng vô cùng gian khổ đối với ta, vì phải bí mật tuyệt đối mở một con đường dài khoảng 80 km, xuyên qua những cánh rừng già kín đáo để xe tăng và pháo binh áp sát mục tiêu. Dù bí mật, kín đáo là vậy nhưng tụi cán gáo, L19, OV 10 vẫn ráo riết săn lùng và liên tục bắn phá suốt ngày đêm. Đặc biệt do mùa mưa đến sớm, đường mới mở trơn lầy, nhiều dốc, quân địch đã phát hiện, quân mới vào chiến trường, sốt rét nhiều, ăn đói, công việc chuyển đạn, đào hầm nặng nhọc. Trong khi đó, mặt trận cánh Tây Ngọc Bờ Biêng cũng không ít khó khăn, nhất là đạn Đ74 thì nặng, pháo thủ thì nhỏ người, ăn đói quá nên không đủ sức nạp đạn, đến nỗi cấp trên phải cho họ hưởng chế độ “đặc cách” được ăn 6 lạng gạo một ngày…

Đúng 5 giờ sáng ngày 24/4/1972, pháo của Trung đoàn 40 đồng loạt trút đạn xuống căn cứ Đắc Tô – Tân cảnh. Cùng lúc xe tăng T54, pháo tự hành 57 ly và tên lửa B72 là những vũ khí, khí tài hiện đại lần đầu xuất hiện ở chiến trường B3 đã gây kinh hoàng cho kẻ địch. Cả mặt đất, bầu trời rền vang tiếng súng. Từ trên cao tít, từng tốp Pháo đài bay B52 không ngớt ném bom trải thảm tạo nên những bức tường khói lửa dài hàng cây số. Thấp hơn là từng đàn phản lực AD6, A37, AC 130, trực thăng gầm gào, nhào lộn ném bom, bắn đạn 20 ly hòng ngăn chặn các mũi tiến công của quân ta. Tại sân bay Đắc Tô, xe tăng 377 của ta đã tả xung hữu đột, bắn cháy 7 xe tăng địch, trước khi bị trúng đạn hy sinh. Sau nhiều giờ giao tranh ác liệt, chiều 24/4/1972 quân ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Đăk Tô -Tân Cảnh. Chúng tôi được lệnh hành quân cấp tốc xuôi theo đường 14 để tiến đánh thị xã Kon Tum.

Xe tăng 377 xuất kích từ Pô Cô Hạ 24/4/1972

Sau khi băng qua quận lỵ Đắc Tô bằng lối đi kẹp giữa những hàng rào kẽm gai của khu ấp chiến lược,  rồi vượt qua thị trấn Tân Cảnh còn vương mùi đạn bom và xác địch bắt đầu phân hủy gây mùi khó chịu, chúng tôi tới được xã Diên Bình. Cầu Diên Bình đã bị quân ta đánh xập trước đó vài ngày nên phải vượt ngầm Đak Bla. Bộ đội và xe pháo đang vượt ngầm thì một chiếc C130 ập tới, rà sát mặt sông, mọi người chạy tản ra trú ẩn, không hiểu vì sao chúng không bắn phá như mọi lần, chắc hết đạn. Tối hôm đó, chúng tôi nghỉ lại trong một cánh rừng tái sinh gần bản Kon Hrinh ven đường 14. Tôi được đổi cây súng CKC dài ngoẵng lấy khẩu AK Tiệp, nghe nói của một chiến sĩ vừa hy sinh. Sáng hôm sau, tôi  được giao nhiệm vụ theo tổ đài trinh sát thọc sâu cùng bộ binh vào đánh thị xã Kon Tum. 

     Trên tháp pháo xe tăng 377 anh hùng tại Tân cảnh 2004

    6.  CAO ĐIỂM 715

Sau khi luồn rừng, vượt suối đi thâu đêm, chiều 29/4/1972chúng tôi tới được cao điểm 715, cách thị xã Kon Tum chừng 3 km. Chỉ huy tổ đài 715 là anh Vãng (tiểu đoàn 33), trinh sát C17 có Quý “xịt” và tôi, thông tin 2W có Kim, anh nuôi Trúc và một chiến sĩ thông tin hữu tuyến. Nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi hoạt động của sân bay Phượng Hoàng, nhất là quy luật lên xuống của máy bay AC130, xác định tọa độ, tính toán phần tử và chờ thời cơ gọi pháo bắn. Khi chúng tôi đến, cao điểm 715 xanh ngút ngàn, cây cối rậm rì và còn in rõ dấu vết một đơn vị thám báo ngụy vừa rút khỏi nơi đây. Chúng tôi khẩn trương đào hầm trú ẩn và đặt máy quan sát. Để bọn địch không phát hiện được sự có mặt của đài trinh sát thọc sâu này, chúng tôi xóa mọi dấu vết trên mặt đất, phủ lá cây lên đường dây hữu tuyến và thay nhau cảnh giới. Mọi sinh hoạt hậu cần đều triển khai dưới khe núi phía sau.

Sau nhiều ngày theo dõi quy luật hoạt động của sân bay địch, đêm 12/5/1972, một chiếc C130 không bật đèn pha như mọi lần vì sợ ta phát hiện mà tắt đèn từ trên cao, nhằm tín hiệu dưới sân bay hạ cánh. Đúng ca trực của mình, tôi dán mát vào chiếc phương hướng bàn đặt trước cửa hầm chữ A chờ đợi. Qua vật chuẩn đã chọn từ ban ngày, tôi thấy rõ thân máy bay dài thuỗn và đen mốc như lưng con trăn khổng lồ, lướt nhanh qua ánh đèn mờ trên sân bay tiến về cuối đường băng. Cơ hội đã đến, tôi gọi mọi người dậy, anh Vãng phụ trách tổ đài liền điện về Trung Đoàn xin cho bắn. Với 9 quả đạn, chiếc máy bay trúng đạn bùng cháy dữ dội, cả tổ đài vui mừng nhưng không dám hò reo vì sợ lộ nơi quan sát. Lệnh trên tạm dừng bắn tiết kiệm đạn, chờ sáng mai xử lý tiếp. Khoảng 5 giờ sáng hôm sau, khi sương mù còn bao phủ thị xã Kon Tum, chúng tôi đã căng mắt tìm mục tiêu. Kia rồi, chiếc máy bay khổng lồ đen xì, nghiêng cánh nằm gục cuối đường băng, bọn lính đang lố nhố xung quanh như sửa chữa hư hỏng hoặc tháo dỡ gì đó. Chúng tôi được Trung đoàn cho bắn tiếp 3 quả đạn, vì bắn ngày, cự ly quan sát gần, nên ngay quả đạn đầu trúng mục tiêu khiến bọn địch hoảng loạn chạy túa ra *

*  “Từ ngày 3 đến 13/5/1972, pháo binh QĐNDVN liên tục bắn phá thị xã Kon Tum bằng pháo 130 mm, 122 mm và hỏa tiễn H12. Mục tiêu bắn phá nhiều nhất là sân bay Phượng Hoàng, gây khó khăn cho tiếp vận hậu cần của QLVNCH.”( trang mạng Wikipedia)

30 năm sau, trong một lần lên từ Sài Gòn lên Tây Nguyên công tác, tôi có kể chuyện bắn chiếc máy bay đó cho cậu Hiền lái xe cơ quan (Văn phòng Trung ương Đoàn phía Nam) nghe. Sau chuyến công tác về, Hiền bất ngờ tặng tôi tấm ảnh đen trắng, trong ảnh là một chiếc máy bay cháy trơ khung và có một người lính ngụy đứng  bên cạnh. Thấy tôi ngơ ngác Hiền giải thích trong ảnh chính là chiếc máy bay C130 bị ta bắn cháy tháng 5 năm 1972, còn người lính đứng cạnh chiếc máy bay đó chính là cậu ta, biệt động quân mới bị bắt lính, nhà nghèo không có tiền lo lót nên bị điều lên mặt trận Kon Tum. Lúc này tôi mới biết người lái xe ít nói, tận tụy bấy lâu chở tôi đi công tác khắp miền Nam này lại là người “bên kia” của 30 năm về trước. Sau này, khi hay tin Hiền mất vì bệnh hiểm nghèo, tôi tìm đến nhà Hiền ở Cầu Muối thắp cho cậu ta nén hương, vợ Hiền nghẹn  ngào nói  rằng Hiền luôn nhắc đến tôi .

Trung sĩ Hiền, lính VNCH (sau này là lái xe cơ cùng cơ quan ở phía Nam) bên chiếc C130 bị  tổ đài 715 bắn cháy tháng 5/1972

Sau khi sân bay bị bắn phá, bọn địch tăng cường bay trinh sát tìm kiếm và chúng đã phát hiện ra đài quan sát của ta. Khoảng 9 giờ sáng hôm sau, chiếc trực thăng trinh sát nhỏ gọn, cực kỳ cơ động, rất khó bắn hạ và chỉ dành cho lính Mỹ sử dụng, lính ta quen gọi là UtiTi, quần đảo lồng lộn quanh cao điểm 715. Vòng thứ nhất nó bay ngang sát cửa hầm, đến nỗi chúng tôi nhìn rõ tên lính Mỹ ngồi ngay cửa máy bay, tay lăm lăm khẩu trọng liên 20 ly. Chúng tôi hội ý nếu nó quay lại thì sẽ bắn trả. Nhưng khi chiếc trực thăng trinh sát bất ngờ vòng lại, lướt nhanh qua cửa hầm thì tên Mỹ đã vung tay ném đạn hỏa mù xuống, cách cửa hầm chừng dăm mét, chúng tôi chỉ còn cách rút nhanh xuống hầm trú ẩn. Ngay sau đó bọn phản lực nhào đến cắt bom, tiếng bom nổ quá gần khiến cậu Quý bị hộc máu mũi, tôi bị ù đặc hai tai chẳng nghe thấy gì nữa. Sau loạt bom, mọi người ngoi lên quan sát, một cảnh tượng kinh hoàng, hai hố bom sâu, rộng chỉ cách hầm chừng 15m về dưới sườn dốc, một vệt rừng hàng trăm mét vuông kín đáo là vậy nay bị phát quang. Để bảo toàn lực lượng, tổ đài tạm rút xuống khe núi phía sau.

Nửa đêm hôm đó, khi mọi người đang ngủ mê mệt thì bất ngờ cả mặt đất rung chuyển dữ dội, bom của pháo đài bay B52 nổ trùm trên đầu, tôi choàng tỉnh co gối, bịt tai và ép mình vào góc hầm hàm ếch. Khói bom và ánh lửa xanh đỏ phả vào cửa hầm khiến tôi ho sặc sụa. Phải đến mươi phút sau mới dứt tiếng bom, mọi người gọi tên nhau ý ới, rất may còn sống cả nhưng không ai dám ra khỏi hầm vì đề phòng bom nổ chậm. Sáng ra, cảnh tượng hoang tàn, mặt đất nát nhàu, cây cối gẫy gục, nồi xoong tanh bành, những quả  bom bi chưa nổ nằm chênh hênh, vật vờ khắp bụi cây, khe suối.

   Ngày 14/5 ta mở đợt tấn công lần thứ nhất vào thị xã Kon Tum. Từ trên đài quan sát tôi nhìn thấy rất rõ đội hình xe tăng T54 dàn hàng ngang dẫn bộ binh tấn công sau khi pháo binh ta chuyển làn về phía trước. Phía sau, các sĩ quan điều khiển tên lửa B72 bấm nút lái cho quả đạn trắng như cánh cò bay lượn, xuyên thủng từng két nước, l châu mai của địch. Hôm đánh Đắc Tô Tân Cảnh tháng trước ta cũng dùng B72, khiến địch hoảng sợ không biết đó là thứ vũ khí gì. Cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt, địch phản kích dữ dội, từng tốp B52 thay nhau ném bom trải thảm ngay trước ranh giới chiến tuyến giữa ta và địch, phản lực AD6, A37 bổ nhào cắt bom, chiến trường mù mịt. Một số xe tăng của ta bị địch bắn cháy trông mà sót ruột.*

* “Ngày 13 tháng 5, mạng lưới do thám điện đàicủa Mỹ chặn bắt được bức điện của Bộ Tư lệnh B3: “Mũi tấn công hướng Bắc – Sư đoàn 2 – stop – hướng Tây Bắc – sư đoàn 320 – stop – Tăng cường mỗi sư đoàn 10 T54 – stop – G – 05h00 – stop – N – 14-5 – stop”.

Ngày 14/5/72. Tất cả 75 lần chiếc B52 đồng loạt bấm nút thả xuống trên 3000 quả bom đủ loại trên đầu Sư đoàn 320 và Sư đoàn 2 Sao Vàng. Diện tích trải thảm của các B52 tổng cộng là 75 km²… Vì bị áp lực quá mạnh của bom, bộ đội phải lui về phía sau…Kế hoạch trải thảm B52 đã dứt điểm cuộc tấn công đầu tiên của hai sư đoàn Bắc Việt vào Kontum (Wikipedia)

           Cuộc chiến đấu đang vào hồi quyết liệt giữa một bên quyết chiếm và một bên quyết giữ thì một khó khăn mới nảy sinh, lương thực, thực phẩm mang theo đã hết sạch, mấy ngày liền toàn canh môn thục, me đá, ngót rừng cầm hơi. Tổ đài quyết định cử tôi về tuyến sau kiếm sắn cho anh em. Sáng đó tôi hăm hở lên đường chỉ với khẩu AK, chiếc gùi bạt cùng một số anh em đơn vị bạn nhằm hướng Đông Bắc mà đi. Gần trưa, khi đang vượt một bản hoang trống trải và đầy cây xấu hổ thì một đàn trực thăng HU1A ào đến. Tình thế nguy kịch, nếu bỏ chạy chắc chúng sẽ phát hiện. Tất cả hô nhau nằm bẹp xuống vạt cây xấu hổ, mặc gai đâm đau buốt. Bọn trực thăng vừa vút qua để lấy đà vòng lại thì chúng tôi co cẳng chạy vào rừng thoát thân.

Chiều tối chúng tôi mới tới được nương sắn, chắc là của đồng bào bỏ lại nên cỏ dại mọc kín. Tôi nhổ vội được vài gốc, củ còn nhỏ lắm, nhưng có còn hơn không, cho vào gùi thì trời đổ mưa như trút, đêm tối ập đến lại càng nhanh, thế là đành phải tìm chỗ ngủ lại. Để gùi được nhiều sắn nên khi đi không mang tăng võng công kềnh, vì vậy tôi đành trải cỏ nằm nhờ dưới tăng võng của hai chiến sĩ không biết đơn vị nào nằm chung một võng phía trên. Lúc đầu đất dưới lưng còn khô ráo, nhưng sau đó nước mưa ngấm ướt lạnh lưng, tôi xoay sở lục cục suốt đêm lạnh và đói.

Sáng sau trời tạnh, nắng bừng lên nhanh chóng, mọi người lại vội vã trở về với gùi sắn trên lưng. Đi được nửa đường, chúng tôi gặpxe tăng ta được ngụy trang khá kỹ đang lng lẽ bò về hướng thị xã Kon Tum. Mặc dù vậy, kẻ địch cũng đã đánh hơi thấy, bọn trực thăng trinh sát quần đảo rát rạt, chúng bay chỉ cánh trên đầu chừng mươi mét, rồi đột ngột dừng lại trên không dùng cánh quạt rẽ bụi cây ngọn cỏ tìm mục tiêu. Tôi vội bỏ gùi sắn xuống vệ đường, ôm súng trèo lên taluy dương, nép vào một bụi cây, vơ vội nắm lá khô phủ lên người và nằm im như chết. Tiếng động cơ máy bay ngày càng to, cánh quạt của nó quay tít tạo nên những luồng gió xoáy dữ dội tưởng như muốn nhấc bổng cỏ cây và tôi lên. Lúc đó tôi cũng thoáng nghĩ đến chuyện giương súng bắn trả, nhưng không ổn vì không chừng hậu họa còn lớn hơn nhiều. Quần đảo và bắn bừa bãi một hồi, không phát hiện được gì, bọn trực thăng săn mồi bay đi. Mọi người lục tục tìm gùi sắn và nhanh chóng về đơn vị. Thế rồi gùi sắn cũng hết veo. Lúc này bộ đội đặc công vượt sông Đăk Bla đã chiếm được nửa phần thị xã Kon Tum. Tổ đài lại cử Quý “xịt” vào Biệt khu 24 của địch lấy được ít gạo sấy ra cầm cự được thêm ít ngày.

Trước tình hình trên, để chiếm được Thị xã Kontum, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương nhanh chóng bổ sung vật chất cho các đơn vị, kiên quyết tiến công địch trong thị xã, kết hợp với tiêu diệt lực lượng của chúng ở ngoài thị xã. Ngày 25-5, quân ta nổ súng tiến công lần hai, đã đánh chiếm được một số khu vực, nhưng không phát triển được, đến ngày 26, 27 rạng ngày 28 ta tiếp tục tiến công, ở các hướng đều bị địch ngăn chặn và phản kích, thương vong lớn, sức chiến đấu giảm dần.*

* Lần này KLHK sử dụng 30 lần chiếc B52 ném bom vào đội hình của trung đoàn 3 và trung đoàn 52. Hai đơn vị này bị tổn thất, không đột phá được trận địa phòng ngự của trung đoàn 44 QLVNCH ở ngã ba Trung Tín. Các đơn vị QĐNDVN đã vào được thị xã bị máy bay cường kích của Không lực Hoa Kỳ và các máy bay A-37liên tục ném bom, bắn phá gây thương vong nặng. (Trích nguồn Wikipedia)

Ngày 6 tháng 6, xét thấy không còn khả năng đánh chiếm thị xã Kon Tum do quân số thương vong lớn, gạo thiếu, đạn dược không đủ, quân ta được lệnh rút ra khỏi thị xã Kon Tum. Trong một phiên gác đêm trên đài 715, tôi thực sự bàng hoàng chứng kiến từng đoàn bộ đội lầm lũi khênh cáng thương binh, tử sĩ từ thị xã ra dưới ánh đèn dù pháo sáng của địch. Một không khí nặng nề, buồn bao trùm. Lúc đầu tôi thử nhẩm đếm số cáng thương, nhưng sau đó nhiều quá không buồn đếm nữa.

                   7.RÚT LUI VỀ HẬU CỨ

Chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1972 kéo dài gần 3 tháng kết thúc. Về phía ta giữ được cụm cứ điểm Đắc Tô – Tân Cảnh chiếm được từ đầu chiến dịch kéo dài tới Võ định, Chí Đạo, Công Trang Chăng Loi, Bãi Ủi, Kleng, Kroong Trung nghĩa. Địch giữ được thị xã Kon Tum, Play Cần, Đắc Siêng và Đắc Pét.*

Chúng tôi được lệnh rút khỏi cao điểm 715. Đêm đó trời đổ mưa to, đang nằm ngủ trong căn hầm mái bằng, tôi bỗng cảm thấy ướt lạnh và hình như có gì đè nặng lên ngực. Theo bản năng tôi bật dậy và ngoi được đầu lên khỏi mặt đất, phần toàn thân còn lại bị vùi dưới hầm, hóa ra hầm bị sập. Nghe tiếng kêu cứu, mọi người soi đèn pin chạy đến moi tôi lên, mọi đồ đạc khác bỏ lại trong lòng đất, trong đó có chiếc dù pháo sáng, chiến lợi phẩm đầu tiên mà hôm trước tôi liều lĩnh xuống chân đài 715 lấy về làm bọc võng. Ngay sáng hôm đó, chúng tôi tìm đường trở về nơi tập kết của đơn vị.

Nhưng tai họa vẫn chưa buông tha, tôi lại lên cơn sốt lần thứ ba. Anh em lại chuyển tôi vào trm xá dã chiến gần đó, mỗi người một hầm để phòng địch ném bom. Hôm sau, tôi thấy người ta khiêng một thương binh nhập viện, vết thương cậu ta vào mắt khá nặng, dòi bọ lúc nhúc trong hố mắt, hỏi ra mới hay do bị thương, lạc đơn vị, lại bị đói mấy ngày may mà có đơn vị bạn đi quan phát hiện ra. Ngay đêm hôm sau, trạm xá lại trúng bom tọa độ A37, nằm một mình trong hầm, tôi thấy rung chuyển dữ dội, đất đá rào rào, mùi khói bom khét lẹt.*

Dứt tiếng bom, y tá gọi tên từng thương bệnh binh, tôi cố nhoài ra cửa hầm trả lời rằng còn sống, nhưng hầm của chiến sĩ bị thương vào mắt giờ chỉ còn là hố bom sâu hoắm. Thật tội nghiệp cho cậu ấy, đúng là sống chết có số. Trước tình trạng không an toàn đó, trạm xá quyết định di dời đi nơi khác, thế là tôi đành chống gậy về đơn vị trong khi chưa cắt sốt.

Sau khi tập hợp đủ quân số từ các tổ đài trở về, toàn đơn vị bắt đầu cuộc hành quân về hậu cứ Tà Cơi. Không khí thật nặng nề bởi quân ta không chiếm được thị xã Kon Tum, lại thương vong nhiều. Riêng đơn vị chúng tôi hy sinh và bị thương hàng chục người, trong đó có cậu Hoan người Hải Phòng đã có vợ con, bị máy bay cán gáo phát hiện bắn chết khi đang trên đài quan sát ở ngọn cây gần cao điểm 751; cậu Hiệp bị mảnh bom cắt đứt một ngón tay trên cao điểm 1338 thuộc dãy Ngọc Bờ Biêng; Tiểu đội phó Thế bị cụt ngón tay cò súng; cậu Bối quê Trùng Khánh cũng bị thương; cậu Đạt cấp dưỡng và anh Vạn bị thương do vướng mìn địch cài lại trong lần trinh sát Ngok Ngon ở Play Cần. Đa số còn lại đều gầy rộc, xanh xao và mệt mỏi.

* Paul Vann (cố vấn Mỹ ) nói: “Tôi đã hứa với Ðại tướng Abrams là không để mất Kontum. Nếu mất Kontum, thì Kissinger, Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ tại Hoà đàm Paris, sẽ gặp nhiều khó khăn”.(Trích nguồn Wikipiadia)  

Con đường trở về hậu cứ vì thế càng xa, chẳng ai buồn vui đùa nữa. Chúng tôi men theo chân núi 751, nơi đó còn chốt của địch, ngược theo đường 14, ra cống 3 lỗ, tới Diên Bình, lên Tân Cảnh, sang Đắc Tô II, vượt sông Pô Cô, suối Đắc Tơ Can, về Ple Lang Lố Kram, tới chân dốc đá, cắt đường tắt về Tà Cơi. Do bị sốt, nên anh em mang hộ tôi ba lô, súng đạn, tôi chống gậy choàng chăn lẽo đẽo theo mọi người, nhiều lúc mệt quá bị tụt lại phía sau, tôi lại bị cán bộ quát, buồn tủi khiến nước mắt hòa lẫn trong mưa.Phải mất ba bốn ngày sau chúng tôi mới về tới hậu cứ Tà Cơi.

Vài ngày nghỉ ngơi cho lại sức, toàn đơn vị tập trung tổng kết chiến dịch, xét khen thưởng, kết nạp Đảng, học chính trị, nghe phân tích nguyên nhân chưa giải phóng được Kon Tum, củng lại cố tinh thần và học kỹ thuật trinh sát, kế toán. Thời gian còn lại tập trung ra nương rẫy chuẩn bị cho vụ trồng tỉa mới.

Đây là thời kỳ nặng nề nhất đối với tôi vì sốt vẫn triền miên. Nhưng đáng buồn hơn là có ý kiến cho rằng tôi sợ đi chiến dịch, giả ốm nên chưa xét kết nạp Đảng. Trong khi đó, chỉ trong chiến dịch này tôi đã ba lần lên cơn sốt ghê người, 7 lần cận kề cái chết, trong đó một lần sốt ác tính bất tỉnh trong đội điều trị 25, may được cứu chữa kịp thời; một lần bị AC 130 săn đuổi trên đường đi tìm đơn vị; một lần bị trực thăng săn mồi phát hiện gọi phản lực ném bom sát cửa hầm bị điếc đặc ở đài 715; hai lần bị trực thăng săn UH 1B đuổi khi đi lấy sắn cứu đói cho tổ đài; một lần bị B52 rải thảm trúng nơi trú ẩn giữa đêm và một lần xập hầm ở đài 715.

Số phận đã cho tôi những lần thoát chết may mắn đó. Tôi tự thấy mình đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tự giác, đơn độc và thầm lặng. Tôi đã vượt lên bệnh tật hiểm nghèo để kiên quyết tìm bằng được đơn vị ở phía trước. Nếu không có lòng tự trọng và quyết tâm thì tôi đã ở lại làm lính cho Đội điều trị 25 theo lời đề nghị của họ. Tôi đã cùng tổ đài thọc sâu vào cao điểm 715, một tổ đài vào gần địch nhất, gian khổ và ác liệt nhất. Đã góp phần gọi pháo bắn cháy một máy bay C130 của địch và giữ được an toàn nguyên vẹn để trở về. Vì vậy, nhìn những đồng đội cùng nhập ngũ, cùng vào C17, sau chiến dịch về họ được khen thưởng, được vào Đảng mà lòng tôi nghẹn ứ, nước mắt lại rơi trong cơn sốt gai người. Nhưng tôi vẫn lặng im, không thanh minh. Cái chính là lương tâm mình không day dứt, bởi mình không phải là kẻ hèn nhát. Mặc dù trước đạn bom, không phải không ai không biết sợ. Nhưng sợ với hèn nhát, lẩn tránh là hai hành động hoàn toàn khác nhau. Tôi có lòng tin rằng, thời gian sẽ trả lời tất cả. Đã là người lính, phải chấp nhận mọi thứ, kể cả tính mạng mình, huống chi một vài lời nói…

          8.  NHỔ PLÂY CẦN VÀ ĐẮC SIÊNG

Thấm thoát vài tháng trôi qua, sau thời gian nghỉ ngơi, học tập và tăng gia, toàn đơn vị lại lên đường tham gia đánh Play Cần và  Đắc Siêng. Đầu tháng 10/1972, tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng Đại đội phó Thiều Đình Bảy đi trinh sát cứ điểm Play Cần, qua chuyến đi này tôi mới được biết tài trinh sát của anh, nhất là xem bản đồ để cắt đường đúng hướng. Thấy tôi cứ gục mặt đi anh bảo phải ngẩng mặt lên quan sát phòng biệt kích thám báo mai phục. Dọc đường thấy dù pháo sáng của địch treo lơ lửng trên cây rừng tôi định lấy về làm bọc võng, anh bảo không được lấy vì có thể bọn địch lấy đó làm vật chuẩn theo dõi xem khu vực này có quân ta hay không. Anh luồn nhanh như sóc khiến tôi vất vả bám theo. Khi leo lên đỉnh đồi trọc để quan sát, anh nói đây là chốt của bọn thám báo mới rút, cần đề phòng chúng gài mìn. Từ trên đỉnh chốt cháy nắng, chúng tôi dùng ống nhòm quan sát cứ điểm của địch.  

          

Lính Mỹ tại cao điểm 875 gần cứ điểm Play Cần (ảnh sưu tầm)

 Play Cần những năm 66,67 là một trận địa pháo binh của quân đội Mỹ án ngữ, khống chế khu vực Ngã ba Đông Dương và làm lá chắn phía Tây cho cụm cứ điểm Đắc Tô -Tân Cảnh. Sau khi quân Mỹ rút, cứ điểm được giao cho đơn vị biệt kích ngụy khét tiếng là tiểu đoàn 88. Đây là cứ điểm được xây dựng bố phòng hết sức đặc biệt, những căn nhà lô cốt nửa chìm nửa nổi kiên cố, trải đều khắp sườn đồi với nhiều lớp rào kẽm gai bao bọc, có lưới chăng phòng tránh đạn B40 của ta. Đặc biệt, ở cứ điểm này, mỗi gia đình lính ngụy đồng thời là một ụ chiến đấu, từ già đến trẻ đều là người dân tộc, sẵn sàng ném lựu đạn US và xả từng băng AR 15 vào bất cứ ai. Đây có thể được xem là mô hình điển hình về Chiến lược “Việt nam hóa chiến tranh” của Mỹ, vì thế các lần tấn công trước quân ta đều bị đẩy lui. Trận 9/5/1972, do bị thương vong nhiều nên lính ta gọi chệch là Plây “Kềnh”. Lần này, Trung đoàn 66 đã xin cấp trên cho đánh một trận trả hận, với sự hỗ trợ đắc lực của Trung đoàn pháo binh 40 của chúng tôi.

Theo chỉ đạo của trên, mà trực tiếp là Trung đoàn trưởng Tô Thuận, muốn bảo đảm hiệu suất bắn pháo cao, chính xác, gây bất ngờ cho địch, hỗ trợ đắc lực cho bộ binh tấn công dứt điểm, thương vong ít thì pháo bình phải vào gần, lên cao, bắn thẳng. Thế là các đơn vị tham chiến tháo pháo, khênh pháo, cõng đạn vào gần căn cứ địch. Tổ đài chúng tôi cũng được huy động đi cõng đạn. Mỗi người phải gùi 2 trái, vượt dốc cao, suối sâu, đường trơn để đưa đạn vào trận địa trên lưng chừng núi. Trái pháo thì tròn, trơn và dài. Tôi thì nhỏ, thấp nên cuộc vật lộn gùi đạn quả thật khó khăn, nhiều lúc nặng quá mà ứa nước mắt nhưng vẫn phải cố. Tối về, lưng vai bầm tím, chân tay rã rời chẳng thiết ăn uống gì.

Thế rồi công việc chuẩn bị đã xong. 10h sáng ngày 12/10/1972, pháo của Trung đoàn 40 bắt đầu khai hỏa. Hai trận địa pháo Đ74 và 155ly ở Đăk Mót bắn phá các mục tiêu bên trong căn cứ. 2 khẩu 105ly đặt ở điểm cao 755 và 976 đã bắn nát các công sự ở phía nam làm địch hoảng hốt dạt sang sườn bắc, cùng lúc đó 2 khẩu 85ly đặt trên Ngọc Pếch nã đạn vào lô cốt địch. Chớp thời cơ địch hoang mang, bộ binh ta đã tấn công, sau 3 giờ chiến đấu ta đã chiếm được căn cứ.

Trên đài quan sát, chúng tôi thấy rõ đạn pháo ta từ trên cao bắn thẳng vào đồn địch rất chính xác. Bất ngờ, chúng tôi phát hiện một chiếc L19 bổ nhào ném hỏa mù xuống một trận địa pháo của ta dưới cánh rừng le. Đài trinh sát điện ngay cho trận địa bíết phòng tránh. Nhưng không kịp nữa rồi, liền sau đó là bọn phản lực bổ nhào ném bom, loại bom BTU có điều khiển từ xa nên rất chính xác. Cả trận địa pháo trùm trong khói bom, támpháo thủ đều hy sinh, riêng khẩu pháo 105 bị nhấc bay cách trận địa vài chục mét. Một tổn thất quá lớn cho Trung đoàn 40.

Sau khi cứ điểm Play Cần bị tiêu diệt, căn cứ Đắc Siêng nằm ven đường 14, cách Tân Cảnh chừng 30 km về phía Bắc trở nên đơn độc. Hàng ngày địch phải dùng máy bay “rọ heo” CH47 chuyên chở tiếp tế từ Kon Tum lên. Để nhổ nốt căn cứ này, Trung đoàn 40 laị tháo pháo, khênh pháo lên cao hàng ngàn mét để bắn. Đường lên đài quan sát và đưa pháo lên là con đường thời Ngô Đình Diệm mở cho xe ngựa lên vùng đồng bào các bản xa xôi, hẻo lánh, vì vậy công binh ta đỡ vất vả mở đường.

Đúng ngày giờ quy định, quân ta nổ súng, tiếng pháo ta nổ đanh gọn, căng, đầy uy lực và chính xác. Dứt làn pháo, bộ binh tràn lên tiêu diệt các ổ đề kháng cuối cùng, trận đánh kết thúc chóng vánh. Từ đài quan sát chúng tôi nhận thấy hiếm có trận đánh nào diễn ra nhanh gọn đến thế. Để vớt vát thể diện, máy bay địch vội nhào tới ném vài chùm bom rồi cút thẳng. Chợt từ trên trời xanh cao tít, từng tốp B52 nhả khói trắng trời, tưởng chúng nó lại ném bom rải thảm như các trận đánh trước, nhưng mặt đất vẫn bình yên. Qua làn sóng đài tiếng nói Việt Nam chúng tôi được tin Mỹ huy động tối đa B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng để gây sức ép buộc ta phải nhượng bộ tại bàn hội nghị Pa Ri. Thế là Miền bắc lại chia lửa cho miền Nam rồi.

Căn cứ Đăk Siêng năm 1971 (ảnh sưu tầm)

Nói về Trung đoàn trưởng Tô Thuận, số phận đã cho tôi nhiều cơ may được gặp ông sau này. Quê ông ở Đông Hưng, Thái Binh, cách quê tôi một bến đò Vô Hối. Còn bây giờ nhà ông và nhà tôi cùng phố Đội Cấn, quận Ba Đình. Cháu ngoại đầu của ông học cùng con gái tôi, hai đứa rất thân nhau, những tưởng thành đôi lứa, đến nỗi mỗi lần họp mặt truyền thống E40, có người cứ tưởng tôi đã thành thông gia với gia đình ông. Trong chiến trường ông nổi tiếng là người quyết đoán nhưng nhân hậu và thương lính, nhất là lính trinh sát C17 chúng tôi. Ông được phong cấp bậc Thiếu tướng, làm Tham mưu trưởng, Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh. Về già ông làm trưởng ban liên lạc Bạn chiến đấu pháo binh Quân khu 5 – Tây Nguyên. Mỗi lần họp mặt có ông là không khí tưng bừng. Ông vẫn là người nhân hậu, nghĩa tình, thương người, thương đồng đội. Ngày 26/3/2011, trong buổi họp mặt với các đồng đội cũ, tôi nói chuyện khá lâu với ông, ông còn nói cho tôi hay kế hoạch “hậu sự” của ông rất tự nhiên, thoải mái. Vài tháng sau ông ra đi thật nhưng khá đột ngột vì bị một cơn “sốc” gia đình và không gượng dậy được nữa.

           Thủ  trưởngTô Thuận tháng 3/1975          

9.  CHUYỂN HẬU CỨ

Ngày 30/12/1972, chúng tôi được lệnh rút khỏi Đắk Siêng, xuôi về Tân Cảnh, vượt sông Pô Cô, leo qua Ngọc Bờ Biêng cao ngất, sang Kleng, tới vùng núi Chư Mom Ray, một trong những đỉnh núi cao nhất Tây Nguyên, tìm vị trí để chuyển hậu cứ từ Tà Cơi ra.Sáng hôm sau, đúng ngày 1/1/1973, ngày tôi tròn hai mươi tuổi, chúng tôi tiếp tục lên đường. Bữa sáng hôm đó nồi cơm bị khê, điều mà cánh lính chúng tôi hay kiêng kỵ, anh em đổ lỗi cho nhau, có ý kiến bảo không nên đi, nhưng việc quân đâu phải trò đùa.

Xuống chân núi, chúng tôi đi dọc con đường do công binh mở để đánh Kleng năm ngoái. Từ sáng sớm, thấy chiếc L19 bay lượn tít trên cao, chúng tôi bảo nhau phải ngụy trang cẩn thận và giữ đúng đội hình hành quân. Đi được một đoạn thì gặp tốp lính văn công lỉnh kỉnh đàn nhị, lễ mễ ba lô, không đội hình, không ngụy trang đi cùng chiều phía trước. Thấy vậy, chúng tôi nhắc họ cẩn thận kẻo máy bay trinh sát phát hiện,H không quan tâm lời cảnh báo đó, vẫn nghênh ngang, lộ liễu. Phòng tình huống xấu, chúng tôi hội ý, khi nhóm văn công nghỉ thì mình vượt lên, khi mình nghỉ thì để họ đi trước, cự ly khoảng cách giữa họ và chúng tôi phải là 100 mét. Càng đi đường càng trống trải, hai bên đường toàn bụi le gầy, cỏ tranh và gai xấu hổ. Trên trời cao xanh ngắt, nắng như đổ lửa, chiếc L19 vẫn vè vè đeo bám khiến chúng tôi càng sinh nghi.

Gần trưa, khi cánh văn công vừa vượt qua chúng tôi chừng trăm mét,lọt thỏm vào gia một bản hoang, thì chiếc L19 bất ngờ cắm đầu phóng hỏa mù vào giữa đội hình của họ. Nhanh như cắt, hai chiếc AD6  không hiểu xuất hiện từ đâu ra, nhào xuống sát mặt đường ném bom bắn phá. Chúng dùng chiến thuật ném bom phát quang chặn hai đầu, ném bom phá và bom sát thương đoạn giữa. Lúc này đội hình của chúng tôi cũng vừa chớm vào vùng oanh tạc của máy bay địch. Cả đơn vị mạnh ai người đó chạy. Tôi và Hiệp cùng chạy về bên trái đường, lao vào rừng le, vùi đầu vào gốc cây tránh bom. Đất đá, cành cây bay rào rào, lửa khói mù mịt, khét lẹt. Trong nguy nan, rất may hai đứa phát hiện một vỏ bom bi mẹ, như chiếc thuyền con úp ngược, vội lt lên đội lên đầu để cốt giữ “gáo”. Phải đến 15 phút sau đợt bắn phá mới dứt, tiếng máy bay địch xa dần, chúng tôi liền vùng dậy chạy ra khỏi khu vực nguy hiểm sợ bọn địch có thể trở lại ném bom tiếp. Khi chạy trở lại tới đường thì đã thấy xác anh emvăn công nằm trên mặt đất. Hình như tất cả bảy người đó hy sinh cả. Thật đáng buồn cho họ vì quá chủ quan khinh địch và phải trả giá quá đắt. Gần một tiếng sau chúng tôi mới tập hợp đông đủ và may mắn là không ai bị thương.

Riêng tôi, được một kỷ niệm khó quên vì xuýt nữa thì sinh tử cùng ngày cùng tháng. Còn Hiệp, sau giải phóng Miền Nam được ra Bắc, đi Tiệp học nghề, về nước lấy vợ, sau chuyển về Hà Nội sinh sống. Năm 2007 Hiệp bị ung thư và mất. Hôm đưa tiễn Hiệp xuống đài hóa thân hoàn vũ, tôi gai người vì phải chứng kiến cảnh người ta đưa nó vào lò thiêu xác. Còn Hòa, vợ Hiệp vốn là cô gái hàng xóm ngày xưa của nó thì ngất lên ngất xuống. Mối tình của hai đứa cùng phố đó, tôi được Hiệp kể cho nghe trong cái lần đi trinh sát Ban Mê Thuột.

Sau trận oanh tạc đó, bọn địch phát hiện ra khu vực này có quân ta nên không ngừng lùng sục, trực thăng UH1 liên tục quần đảo sát ngọn cây từ trưa cho đến chiều, chỗ nào nghi ngờ là nã đạn 20 ly xuống. Thêm một kho gạo của ta gần đó bị phá hủy, nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng đã đến được hậu cứ mới an toàn. Thời kỳ này anh Nguyễn Như Đới quê Khoái Châu, Hưng Yên làm đại đội trưởng, anh Phạm Thế Dân người Ninh Bình làm chính trị viên trưởng của C17. Đơn vị được bổ sung một số lính mới như Thư, Ơn quê Lạng Sơn và y tá Đoàn quê Vĩnh Phú.

Hậu cứ mới với mật danh H3 là một khu rừng tái sinh với những dải đồi như bát úp, cao độ chỉ vài trăm mét, gần cao điểm Ngok Dơ Lang, thuộc vùng đệm của Chư Mom Ray. Có lẽ trước đây là vùng nương rẫy của đồng bào nên còn nhiều dấu vết đã từng có người ở. Dọc hậu cứ là con suối trong xanh nhưng rất nhiều cá, tôi vốn sát cá từ hồi còn ở nhà nên thường xuyên được đơn vị giao nhiệm vụ đi câu cá. Đất ở đây tuy không màu mỡ như hậu cứ cũ Tà Cơi nhưng đủ để nuôi sống cả sư đoàn. Đường Hồ Chí Minh mới mở cách đây không xa về phía tây, còn phía đông là con đường chiến lược xuyên qua cánh rừng le, sát chân Ngọc Bờ Biêng, nối cao điểm 830 với KLeng. Vì thế nên cả Trung đoàn đã chọn đây làm hậu cứ mới. Sau khi ổn định lán trại, hầm hào, toàn đơn vị tập trung phát nương làm rẫy.

 Cùng thời gian này, Hội nghị Pa Ri xắp đến hồi kết nên khắp mặt trận xảy ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Đêm 26/1/1973, tổ đài C17 do thiếu úy đại đội phó Bùi Minh Tâm phụ trách cùng Trung đội phó Trần Viết Phán, Tiểu đội phó Quý “xịt”, Hồ Tít, Đăng Nhật và 2 chiến sĩ thông tin 2W của C18 được giao nhiệm vụ lên cắm cờ giữ đất trên mỏm 751B. Khi tới gần đỉnh chốt, pháo của địch tại Bãi Ủi bắn lên dữ dội, một trái pháo rơi cách đội hình tổ trinh sát 5m, mảnh pháo phá hỏng chiếc máy 2W ngay trên tay anh Tâm, một mảnh khác xuyên thủng  báng khẩu AK rồi cắm thẳng vào túi đeo bản đồ mà anh Tâm không hề hấn gì. Đến giờ cắm cờ theo quy định, khi bên ta dựng cờ giải phóng lên thì đã thấy quân địch từ mỏm 751A vượt yên ngựa tràn sang định chiếm nốt cao điểm 751B, toàn tổ sẵn sàng nổ súng. Trước tình thế đó, anh Tâm nhanh trí cuộn cuốn sổ tay làm loa yêu cầu địch lùi lại 100 mét và cử đại diện không mang vũ khí lên nói chuyện.

Sáng hôm sau, đúng ngày ký Hiệp định Pa Ri 27/1/1973, anh Tâm chỉ huy anh em làm gấp một cái lán để đón tiếp đối phương. Trong lần giáp mặt lịch sử đó, anh Tâm đã trổ tài binh vận và còn tự tay cắt tóc cho 3 tên lính ngụy. Kết quả thật không ngờ, 9 giờ tối hôm đó, viên Thiếu úy đại đội phó Nâu và Thượng sĩ trung đội trưởng Tuấn cùng 22 lính ngụy, súng ống chỉnh tề đã đào ngũ sang ta. Anh Tâm đề nghị cấp trên cử người lên tiếp nhận họ ngay trong cái đêm lịch sử đó.

Trong khi đó ở hậu cứ H3, đúng sáng 27/1/1973, khi đang phát rẫy làm nương, chúng tôi thấy những chiếc máy bay sơn cờ Liên Hợp Quốc bay lượn trên trời để giám sát lệnh ngừng bắn. Qua làn sóng Đàì tiếng nói Việt Nam, chúng tôi được biết Hội nghị Pa – Ri đã kết thúc thắng lợi, Mỹ sẽ rút quân. Như vậy là xương máu của bao người ngã xuống, nhất là tại chiến trường Kon Tum, Quảng Trị với mùa hè đỏ lửa 1972 và Thủ đô Hà Nội với 12 ngày đêm kiên cường đánh trả B52 mới có được kết quả đó. Trong niềm vui lớn lao đó, đơn vị chúng tôi mở cuộc liên hoan nhỏ, hôm đó anh em bắn được con cầy hương, anh Tấn y tá cất được nồi rượu, cả đơn vị cùng nâng bát chúc mừng thắng lợi, đây là lần đầu tiên trong đời tôi uống rượu và bị say bất tỉnh,anh Tấn phải trổ tài cứu chữa.

Sau khi Hiệp định Pa Ri được ký kết, Trung đoàn 40 được giao nhiệm vụ tham gia giữ vững vùng mới giải phóng ở khu vực ráp gianh Võ Định – Bãi Ủi – Do Lai – Non Nước – Krong Trung Nghĩa, vòng cung từ phía bắc đến phía tây thị xã Kon Tum. Đại đội chúng tôi cũng cử người tham gia các hướng đó. Số còn lại tập trung về hậu cứ H3 tăng gia.

Những ngày tiếp theo, đơn vị cử người thay nhau trở về hậu cứ cũ Tà Cơi, cách vài ngày đường để vận chuyển kho tàng, đồ đạc của cá nhân và đơn vị sang H3. Trong một lần về hậu cữ cũ gùi đồ, Thành “đen” bị sốt và tụt lại phía sau, anh em tá hóa quay lại tìm nhưng không thấy. Thành được một trạm xá cứu chữa, nhưng lại bị tiêm trúng giây chằng gây khập khiễng mãi về sau. Đợt đấy chúng tôi bị phê bình vì bỏ rơi đồng đội, còn Thành sau đó được ra Bắc và đi Liên Xô học, nay đã là Phó Giáo sư trường Đại học nông nghiệp Hà Nội. Gần chục năm trước, vợ Thành mải băng qua đường tàu bị tàu hỏa cán chết, tôi và anh Thụy sang dự đám tang thấy Thành khóc thương vợ đến não lòng.

Một chiều tháng 10/1973, tôi được cử lên Trung Đoàn nhận công văn, thư từ. Từ đơn vị lên Trung Đoàn chừng một giờ là tới, xong việc tôi trở về, có rẽ vào một đơn vị tăng gia nghỉ chơi ít phút. Thấy trời xắp tối, các anh bảo tôi ngủ lại mai về, tôi tự tin bảo vừa đi vừa chạy chắc về kịp. Đi được chừng 15 phút, mới khoảng hơn 6 giờ chiều sao trời sập tối nhanh thế. Đúng là “ngày tháng Mười chưa cười đã tối”, tôi bắt đầu lo lắng và đi nhanh hơn, nhưng đường rừng mờ dần. Tôi dừng chân xoay người định hướng, nhưng càng xoay người càng mất hướng, đụng đâu cũng vấp cây rừng. Tôi hoảng thực sự và cứ thế lao bừa vào đêm đen vô vọng. Loay hoay một lúc lâu, biết là không thế cố đi được, tôi nghĩ ra cách giải thoát trèo lên ngọn cây bóp cò từng phát một. Nghe tiếng súng, anh em đơn vị tăng gia lúc nãy biết ngay là tôi bị lạc liền nổ súng trả lời và cử người đi tìm tôi. Theo tiếng súng nổ, tôi tụt xuống và băng mình tìm về hướng đó, đến nỗi tụt xuống cả hố bom, tôi vùng dậy đi tiếp, rồi lại lao vào giữa bụi mây, gai cào toạc quần áo, da thịt rách nhàu, máu chảy lênh láng. Tôi không thấy đau mà chỉ thấy sợ vì vùng này có hổ. Ngay như chuồng lợn của đơn vị còn phải cắm chông nứa dày đặc đề phòng hổ trộm lợn.  Vùng vẫy gần tới sáng, tôi cũng đến được với người ra ứng cứu. Sáng sau tôi trở về đơn vị trong tình trạng nhàu nát và bị mọi người chê cười vì lính trinh sát mà lại bị lạc đường.

Sau Tết 1973, tất cả đơn vị lại ra nương, những danh hiệu dũng sĩ”,kiện tướng được trao cho những ai có nhiều sáng kiến nương làm rẫy. Để đạt hiệu quả cao, đỡ tốn sức, chúng tôi chọn những cây to, thân nghiêng chặt trước, khi cây đổ sẽ kéo theo cả một vạt rừng đổ theo. Đợi cây héo lá, chúng tôi leo lên băm các cành lớn, dàn đều mặt nương rồi châm lửa đốt. Khi đốt nương phải lựa theo chiều gió để ngọn lửa cháy đều, cháy hết. Sau khi mặt nương đã được dọn sạch, tro than nguội hẳn, đợi một chút mưa xuống thì chọc lỗ, tra hạt. Khi đó, cả đơn vị dàn hang ngang làm từ  đỉnh nương xuống, người đi trước hai tay hai gậy gỗ vót nhọn, chọc nhẹ xuống mặt nương tạo nên những hàng lỗ đều đặn, thẳng hàng để người đi sau tra hạt. Sau mỗi buổi ra nương về, mặt mũi ai cũng nhọ nhem đen xì đầy bụi than, tranh nhau ra suối tắm gội và trêu đùa vui vẻ.

Tới khi lúa chín, chúng tôi lại nhộn nhịp khắp cánh rừng, mặt nương đi tuốt lúa. Lúa nương vốn rất dễ rụng nên không thể hái bằng liềm mà phải tuốt bằng tay và bỏ vào cái teo, giống như cái giỏ không hom đeo trước bụng. Khi chưa quen tuốt lúa, đôi bàn tay thường bị rách tứa máu bởi những hạt thóc đầy lông nhọn sắc. Hội thao tuốt lúa thật vui, có anh tuốt giỏi được cả tạ thóc trong ngày. Vui nhất là bữa cơm gạo mới, bát cơm 100% không có độn, lại có thịt heo rừng, cá suối, rau xanh và tạm quên đi các món rau rừng quen thuộc nhưng khó nuốt. Mừng gạo mới, đơn vị còn bày chuyện làm bánh bún rôm rả. Cối giã bột làm bún là gốc cây rừng loại gỗ tốt, cưa thật bằng cách mặt đất chừng ba bốn mươi phân, rồi lấy tăng hoặc áo mưa quấn tròn xung quanh là thành cối. Có một lần, do trộn lẫn thuốc mìn C2 vào sắn khô giã làm bột chế nước chấm măng luộc, cả đơn vị bị ngộ độc miệng nôn trôn tháo và bất tỉnh, may có anh Tâm bị nhẹ điện cho y tế Trung Đoàn xuống cứu chữa kịp thời.

Dạo ấy, đơn vị cử tôi, Hiệp, Văn, Tỉnh, Hộ, Lộc … đi tham gia hội diễn văn nghệ của Trung Đoàn. Mất gần tháng trời luyện tập, xắp đến lượt biểu diễn thì nhận tin đơn vị gọi khẩn trương cắt đường tới tọa độ X…Y…để đánh địch nhảy dù lấn chiếm. Thế là đành bỏ dở hội diễn lên đường làm nhiệm vụ. Điểm tọa độ theo quy định thì đã tìm được mà địch thì chẳng thấy đâu. Lúc này mới biết đó chỉ là tình huống báo động giả.

Cũng thời gian này, ngoài nhiệm vụ tăng gia, chúng tôi được học tập, huấn luyện kỹ hơn về nghiệp vụ trinh sát, kế toán pháo binh. Do điều kiện chiến trường, chúng tôi phải chép tay tỷ mỷ bảng bắn Logarit, coi đó là cẩm nang, gia tài quý nhất cho nghề trinh sát pháo. Để rèn luyện kỹ năng, đơn vị thường tổ chức thi thời gian tính toán xác định tọa độ và phần tử bắn. Mỗi lần thi như thế, ai cũng phấn chấn và nhanh nhẹn khác thường. 

Lần khác, tôi cùng anh Tài, Chính trị viên phó đại đội đi làm nhiệm vụ. Sau khi lội qua bãi lầy nhung nhúc đỉa phía sau hậu cứ H3, xem bản đồ cắt rừng đi tiếp, tới khi trời xẩm tối thì anh Tài lên cơn sốt. Nhìn anh nằm đắp chăn rung võng mà tôi lo quá. Anh bảo tôi lấy thuốc nivaquyn và silanh ra tiêm vào mông cho anh. Nào tôi đã biết tiêm chọc gì. Anh bảo cứ bình tĩnh cầm thẳng silanh chọc dứt khóat vào mông anh. Tôi run quá lại ấn từ từ nên anh càng đau. Tôi lại rút kim tiêm ra, loay hoay một lúc rồi cũng tiêm xong. Nhờ mũi tiêm đó, sáng sau anh cắt sốt và chúng tôi lại lên đường. Thật tình cờ, năm 1977, anh Tài lên Cao Bằng điều tra lý lịch kết nạp đảng cho cậu Dư, may mắn thế nào lại gặp đúng tôi để hỏi nhà ông Bí thư chi bộ khu phố. Ông bí thư tên là Nông Văn Đàn, nguyên là cận vệ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời chống Pháp, ở ngay sau nhà tôi. Đúng là quả đất tròn và số phận người lính cứ quấn lấy nhau. Vài năm sau đó, theo chủ trương tăng cường cán bộ cho địa phương, anh Tài được về làm Bí thư huyện Đoàn Đăk Lây, Kon Tum. Giờ anh là chủ một đại lý sách báo tại Thành phố Hải Phòng.

 Cũng tại H3, một tin xấu đến với đơn vị, anh Thiều Đình Bảy, Đại đội phó đã hy sinh. Hôm ấy anh từ trên cao điểm gần 751 xuống núi một mình và bị bọn thám báo phục kích bắn trộm, anh chạy được một quãng thì gục xuống trong tư thế nằm xấp, đè lên túi đựng bản đồ trinh sát, một tay đặt vào bao súng ngắn như sẵn sàng chống trả. Sau khi bắn anh, bọn thám báo cũng bỏ chạy luôn, anh em trên núi chạy xuống thì anh đã tắt thở. Một bài học đau sót và kinh nghiệm xương máu cho đơn vị, vì đã chủ quan mất cảnh giác để anh Bảy đi một mình trong vùng chiến sự. Nhận tin đó tôi buồn lắm vì chính anh là người ra binh trạm T3 nhận chúng tôi về, anh đã dạy tôi nhưng kỹ năng cơ bản của người lính trinh sát trong chuyến đi trinh sát Play Cần hồi tháng 10 năm 1972. Nghĩ càng thương anh nhiều vì anh là cán bộ xông xáo, tài giỏi, luôn ở tuyến trước, ít khi có mặt ở hậu cứ. Tính anh trầm và ít nói, tôi thì chưa được biết kỹ về anh.

Có một chuyện tình cảm đặc biệt xảy ra giữa lính với lính. Ngay từ ngày mới vàò C17, chúng tôi thấy vài cặp đôi quấn quýt nhau như hai người khác giới. Những năm sau này, hiện tượng đó càng phổ biến. Nhất là đối với những người lính đã vào chiến trường lâu năm. Tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ rơi vào tình trạng khó xử đó.Nhưng rồi vào một ngày đầu năm 1973, tôi chợt nhận ra sự quan tâm và tình cảm khác thường của anh Tấn y tá quê Hoài Đức, Hà Tây giành cho tôi. Khi tôi ốm đau anh tỏ ra lo lắng và chăm sóc khác hẳn với người khác. Thế rồi anh lẳng lặng viết thư về gia đình tôi tận Cao Bằng để xin phép được coi tôi là người em kết nghĩa, thấy tôi thờ ơ, tránh né, anh rất buồn. Rồi tôi cũng quen dần với cách cư xử rất lạ của anh. Nhưng chính nhờ mối quan hệ đặc biệt ấy mà sau này chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc, thăm hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Hoàn cảnh gia đình anh Tấn rất khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, anh lại đau ốm thường xuyên. Vài năm gần đây, kể từ ngày Hà Tây nhập vào Hà Nội, gia đình anh Tấn được đền bù kha khá do nhà nước thu hồi ruộng để quy hoạch xây đô thị mới. Có tiền, anh xây 2 cái nhà to đùng, cưới vợ gả chồng cho 3 đứa con, thế là anh đổi đời, khiến tôi vui lây. Bất giác tôi liên tưởng đến các cặp đôi khác, như Phồn -Thạch, Thế – Dư, Phán – Đức, Phương – Điền… Cũng may chiến tranh đã kết thúc, nếu không chuyện tế nhị ấy sẽ hành hạ những người lính đến bao giờ. 

            Đồng bào Tây Nguyên cùng bộ đội kéo pháo vào trận địa

  10.   CHỐNG ĐỊCH LẤN CHIẾM 

Ở H3 được trọn một mùa rẫy, cuối năm đó, đơn vị lại di chuyển hậu cứ ra phía đông đường 14, cách Cống ba lỗ chừng mươi cây số . Nhiệm vụ của của đơn vị là vừa sản xuất, huấn luyện và tham gia chống địch lấn chiếm. So với hai hậu cứ trước, đất nơi này đến xấu hơn, toàn cây le và rừng nghèo tái sinh, tuy nhiên địa hình lại bằng phẳng, tiện đường xe pháo hơn. Rừng nơi đây ít thú hơn nhưng thỉnh thoảng vẫn có lợn rừng. Thợ săn Thế “cụt” quê Vĩnh Phú, tuy bị thương cụt ngón nảy cò nhưng với tài thiện xạ đã đôi lần bắn hạ được lợn rừng  hàng tạ về cho đơn vị, xứng đáng là “hậu duệ’” của xạ thủ Nhật đã được ra Bắc. 

Cũng tại đây, một số người vào chiến trường từ 67,68 như các anh Đới, Sửu, Cường, Vạn, Thục…được ra bắc học sĩ quan, thay vào đó, đầu năm 1974,  C17 được bổ sung một số lính mới. Thật tình cờ và thú vị, số lính mới đó toàn dân Cao Bằng như Huấn, Trung, Quyết, Đức, Bình, Thanh, Dư, Thắng, Đức, Ngọc … Trong đó có Dư, Thắng, Đức là bạn học với Thiết em trai tôi. Gặp được đồng hương như gặp được quê hương, chỉ tiếc là không có lá thư nào của người thân vì không ai biết chúng tôi lại được gặp nhau giữa chiến trường bao la như thế này. Cùng thời gian này, Tiểu đội trưởng Nông Văn Bối quê Phong Châu, Trùng Khánh, Cao Bằng, nhận được thư nhà báo tin là gia đình đã cưới vợ cho nó theo phong tục địa phương. Cả đại đội vừa chúc mừng vừa trêu chọc, còn cậu ta thì chỉ biết khóc vì xấu hổ. Mới đây tôi nghe tin Bối đã mất tại vùng kinh tế mới Tây Nguyên, nhưng không biết ở tỉnh nào.

Sau Hiệp định Pa Ri, bọn địch thường xuyên vi phạm lệnh ngừng bắn, ngày nào chúng cũng bắn pháo và ném bom sang vùng giải phóng của ta tại khu vực Võ Định, Trí Đạo.  C17 được giao nhiệm vụ lập đài quan sát trên đỉnh 830, ngay sau lưng hậu cứ của đơn vị để theo dõi tình hình. Cậu Đức lính mới vào C17 đã tức cảnh thành thơ rằng: “ Đài chúng tôi trên đỉnh 830/ Có căn hầm dưới vòm lá xanh tươi/Có tiếng chim líu lo và ánh nắng/Có nụ cười của lính tuổi hai mươi.”

Thật vậy, đây là một vị trí quan trắc lý tưởng, cách nơi doanh trại chừng 30 phút. Những tán cây rừng che kín xung quanh, chỉ để lộ ra một khoảng không thoáng đãng trước mặt, đủ bao quát toàn bộ vùng Võ Định, Trí Đạo, Bãi Ủi và trục đường 14 tới tận Cống ba lỗ. Ngay dưới chòi canh của đài là một mạch nước ngầm trong mát, chảy ra từ dưới gốc một cây vả sai trĩu quả. Chính vì thế mà lũ khỉ thường xuyên về phá quấy ầm ĩ, nhưng chúng tôi không được bắn vì giữ bí mật cho đài quan sát.

 Vào một hôm, khoảng 9 giờ sáng, tôi cùng cậu Bình đang trực đài thì thấy 5 trực thăng HU1B quần đảo khác thường, một chiếc bất ngờ đổ quân xuống nương lúa cách đơn vị không xa. Tôi vừa dùng ống nhòm theo dõi mục tiêu vừa lệnh cho Bình điện ngay về cho đơn vị biết để đối phó. Ngay lập tức đại đội cử các mũi ra bao vây nương lúa, tiểu đội trưởng Trịnh Bá Quyền phát hiện một tên thám báo đang xem bản đồ, thấy động hắn giương khẩu M79 về phía Quyền. Nhanh như cắt, Quyền quỳ xuống bóp cò, loạt AK vút ra trúng tai bên phải tên địch, tên thám báo vứt súng ôm mặt chạy vào rừng được vài chục mét thì gục xuống, cả tiểu đội lao lên bắt sống. Bị tấn công bất ngờ, bọn còn lại bỏ chạy toán loạn, ta truy đuổi nhưng chỉ thu được 5 ba lô ngụy.

Tên thám báo được dẫn về đơn vị, nhốt xuống hầm sâu, canh gác cẩn thận. Qua giấy tờ được biết tên hắn là Phan Văn Hòa, quê Sài Gòn, đã 3 lần đột nhập vào vùng giải phóng chỉ điểm cho máy bay địch bắn phá. Trong ba lô của hắn có lá thư chưa kịp gửi về cho người thân báo tin đã vài lần đột nhập vào vùng giải phóng chỉ điểm cho máy bay và pháo kích bắn phá vùng giải phóng và đã được tặng Huân chương Bắc Đẩu bội tinh. Tên thám báo cao chừng 1,75m, to lực lưỡng, đen thui và săm đầy mình hình những gái khỏa thân. Sau vài ngày khai thác không kết quả, đơn vị đề nghị trên xử lý. Hôm sau quân pháp cấp trên xuống, sau hơn một giờ tra hỏi không kết quả, các sĩ quan quân pháp chui lên khỏi hầm lắc đầu.

Xác định đây là đối tượng cực kỳ nguy hiểm, đã từng gây tổn thất không nhỏ cho quân ta, lại ngoan cố không chịu khai báo nên ngay hôm sau, cấp trên ra lệnh cho đơn vị thi hành án tử hình đối với tên thám báo đó. Bản án được anh Tâm “cối” thực hiện rất nhanh gọn, dứt khoát và đúng quy định của kỷ luật nhà binh. Đêm đó bom tọa độ A37 trùm lên đơn vị, nhưng do đề phòng trước nên mọi người đều bình an. Thời kỳ này bọn thám báo thường cải trang bộ đội ta, xâm nhập sâu vào vùng đóng quân của ta để nắm tình hình, chỉ điểm cho máy bay ném bom bắn phá. Có lần chúng giằng cướp súng của cảnh vệ Trung Đoàn tại một trạm gác khi bị ta phát hiện trả lời  không đúng mật khẩu. Từ đó, cứ vài ba hôm ta lại phải thay đổi mật khẩu một lần và việc ăn ở, đi lại hết sức bí mật.

             11.   NHỔ NỐT ĐẮC PÉT

Ngày 3/4/1974, sau một thời gian chuẩn bị, ta tấn công tiêu diệt địch ở Kon Rốc, cách thị xã Kon Tum khoảng 40 km về phía đông, trên đường đi Quảng Ngãi. Trong lần đi chiến dịch này, tôi bất ngờ gặp thày Minh, quê Hà Nam, chủ nhiệm lớp 10B của tôi, hóa ra thày nhập ngũ sau tôi 2 năm. Nhìn thầy gùi cái nồi quân dụng to đùng, dáng hơi ngượng ngùng, tôi thấy thương thầy quá. Chả lẽ chiến tranh đã đến mức phải huy động cả những người thày giáo cấp ba, của vùng biên ải vốn còn đang đói chữ ấy ra trận. Vì hành quân ngược chiều nhau nên tôi chỉ kịp hỏi thăm thày vài câu. Không biết bây giờ người thày giáo chủ nhiệm ấy ra sao, ở đâu mà mấy lần về Cao Bằng dự kỷ niệm trường tôi đều không gặp.

     Vừa tham gia đánh Kon Rốc về, chúng tôi được lệnh lên đường đi trinh sát chuẩn bị đánh Đắc Pét. Căn cứ Đắc Pét là một tiền đồn biên phòng nằm gần biên giới Lào Việt, giáp với quận Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi và cách thị xã  Kontum 80 cây số theo đường chim bay về hướng tây bắc, do tiểu đoàn 88 Biệt Động Quân Biên Phòng án ngữ trên quốc lộ 14. Những năm trước quân ta cũng đã vây đánh cứ điểm này nhưng chưa nhổ được.

Tổ trinh sát của chúng tôi lần này có thêm Phúc kế toán và Thanh trinh sát người Thanh Hóa mới bổ sung về C17. Thanh là một chàng trai cao, trắng, đập bóng chuyền tốt nhất đại đội và vẽ cảnh đồ tuyệt vời. Xem Thanh vẽ cảnh đồ căn cứ Đắk Pét từ trên núi cao hơn ngàn mét, cách cứ điểm 4000m mà tôi ngỡ như đang xem một bức tranh thủy mặc. Một hôm đi trinh sát, quanh quẩn thế nào mà chúng tôi nằm giữa bãi chông của địch gài đã lâu, mỗi cây chông như một lá lúa sắc lẹm, n náu lẫn vào cỏ gianh rất khó phát hiện. May mà không ai việc gì, cả nhóm bình tĩnh và nhẹ nhàng thoát ra khỏi bãi chông một cách an toàn.

 Lần khác tôi được phân công tháp tùng thủ trưởng Thụy đi trinh sát, lúc này anh  đã là Chủ nhiệm trinh sát Pháo của E40.Trời thì nắng gay gắt, cỏ gianh sắc nhọn cọ rát ngứa khắp người, ở cự ly 800 mét, bằng mắt thường tôi nhìn rõ đồn Đắc Pét được bao bọc bởi cơ man lớp hàng rào kẽm gai. Trong đồn lính ngụy đi lại lố nhố. Thỉnh thoảng pháo địch lại bắn ra bất cứ nơi nào chúng nghi ngờ. Sau một ngày ém mình trên đồi gianh đo đạc, xác định tọa độ vị trí đồn địch và chọn trận địa pháo 85 ly của ta, đêm đó chúng tôi phải ngủ lại dưới một khe cạn um tùm lau lách. Tôi lên cơn thèm thuốc lá bèn châm lửa rít một hơi liền bị anh Thụy mắng và giải thích làhơi thuốc lá lạ có thể khiến bọn thám báo phát hiện nơi ta ẩn nấp. Lại thêm một bài học nữa cho nghề trinh sát. Cũng trong đợt chuẩn bị chiến trường đó, ở một hướng khác, nghe nói một chiến sĩ trinh sát của ta bị địch bắt, chúng cắt cổ mang về đồn lĩnh thưởng.

Trước khi ta nổ súng, một nhóm quay phim của Xưởng phim tài liệu Quân đội đã đến chụp ảnh và quay phim hầm chỉ huy của Trung đoàn. Tôi may mắn được có mặt trong sự kiện đó. Ảnh chụp có Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thụy, trung đội trưởng kế toán Lê Xuân Hạnh và tôi, đang trong hầm chỉ huy  theo dõi căn cứ Đắc Pét qua khí tài quan trắc. Tiếc rằng tấm ảnh ấy đã bị cháy, khi  nhà tôi bị giặc đốt trong chiến tranh Biên giới tháng 2/1979.

Năm 2000 tôi có nhờ anh Hoa Đình Đạt, phóng viên quay phim Truyền hình Thanh niên, người đã từng quay cảnh Hạm đội Bảy của Mỹ bị pháo binh ta bắn cháy năm 1967, giúp tôi tìm lại thước phim quay trận Đăk Pét tháng 5/1974 đó. Năm 2002 anh Đạt mất vì nhiễm chất độc hóa học chiến trường, còn cuốn phim đó thì vẫn chưa thấy chiếu ở đâu cả. Có thể phóng viên đó đã hy sinh cùng thước phim về trận Đắc Pét.  

Đêm trước của chiến dịch, chúng tôi tham gia kéo pháo 85 ly vào trận địa chiếm lĩnh, chỉ cách đồn địch 800 mét, đúng nơi anh Thụy và tôi đã chọn vị trí tọa độ bữa trước.  Đang kéo pháo bỗng đèn dù của địch thả sáng rực trời. Tất cả rạp mình trên đồi gianh, tay ghì chặt giây kéo không cho pháo tuột xuống dốc. Cảnh tượng ấy, không khác gì kéo pháo vào Điện Biên năm xưa. Đèn dù tắt, tiếng hô hai…ba… nào… rất khẽ, đủ để mọi người cùng lúc gồng lên kéo căng sợi dây trong tay, cứ thế bánh pháo nhích từng ly vào trận địa. Thế rồi địch trong đồn bắn pháo ra, sau tiếng nổ đoành trên không, cách mặt đất chừng vài ba mét, hàng ngàn chiếc đinh ba phân có cánh tròn bay phầm phập về bốn phía. Cậu Đức quê Nà Phía, Cao Bằng mới vào chiến trường, bị mảnh găm vào đùi kêu khóc hoảng hốt. Là cán bộ tiểu đội, tôi phải cõng cậu ta về tuyến sau cho y tá Đoàn băng bó cứu chữa.

Đúng 5 giờ sáng ngày 15/5/1974, các trận địa pháo binh của ta đồng loạt nổ súng. Trận này, Trung đoàn 40 sử dụng 2 khẩu 122 ly, 1 khẩu 85 ly bắn gián tiếp; 2 khẩu DD74 và 1 khẩu 85 bắn trực tiếp ở cự lý 2000 mét và 800 mét, chi viện E66 và E3 bộ binh và một phân đội xe tăng của E 273. Do pháo ta bắn ở cự ly gần nên chính xác tuyệt đối. Đặc biệt bên cao xạ 37 ly đặt từ trên núi cao ngàn mét cũng chúc nòng bắn xuống cứ điểm chỉ cao 400 mét gây cho địch hoảng sợ kinh hoàng. Chỉ vài giờ chiến đấu, quân ta nhanh chóng làm chủ căn cứ, 400 tên địch bị tiêu diệt hoàn toàn.

Sau trận này về, tôi được Trung Đoàn tặng Bằng khen, được kết nạp  Đảng và được phong chức vụ Tiểu đội trưởng trinh sát. Anh Lưu Thế Tấn là đảng viên nhận trách nhiệm theo dõi, giới thiệu tôi vào Đảng. Hôm ấy, nhân tiện được truy lĩnh tiêu chuẩn đường và lạc sau vài tháng đi chiến dịch về, tôi nhờ cậu Bách anh nuôi nấu một nồi kẹo lạc khao toàn đơn vị.

Năm 1997, trong một lần đi khảo sát xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh, bằng chiếc xe Zép cũ kỹ của Tổng đội TNXP Trường Sơn, tôi có dịp từ Đà Nẵng ngược lên Thạnh Mỹ, Phước Sơn, vượt đèo Lò So sang Kon Tum, gặp lại căn cứ Đắc Pét xưa. Vài năm sau, đường Hồ Chí Minh khơi thông, Đắc Pét và thị trấn Đăk Lây nay đã thay da đổi thịt.

Cùng Tổng đội TNXP Trường Sơn, Đà Nẵng, Sông Đà khảo sát xây dựng Dự án đường Hồ chí Minh (đoạn Hiên – Thạch Mỹ, Quảng Nam)

12. ĐÁNH ÚP BAN MÊ THUỘT

Cuối tháng 11/1974, chúng tôi được lệnh hành quân về phía tây sông Pô Cô, mọi trang bị cá nhân và của toàn đơn vị phải mang đi hết, như vậy có nghĩa là không quay lại nơi này, còn đi đâu thì không được biết. Đêm hôm đó toàn Trung đoàn ngủ lại chân núi 830, gần Ple – Lăng – Lố – Kram, nơi những năm trước đây chúng tôi thường qua lại. Vài ngày sau chúng tôi mới được biết là hành quân sâu vào phía nam Tây Nguyên.

Tạm biệt chiến trường Kon Tum, nơi đã từng gắn bó với chúng tôi những năm dài đánh giặc. Tôi có ngờ đâu mãi 20 năm sau, năm 1992 tôi mới có dịp trở lại Đắk Tô, Tân Cảnh trong một chuyến đi công tác cùng Đoàn đại biểu của Ủy ban Thanh Thiếu nhi của Quốc hội. Rồi 12 năm sau nữa, năm 2004, tôi lại vào Kon Tum khảo sát xây dựng Làng Thanh niên lập nghiệp biên giới. Lần này tôi tìm đường ra sân bay Phượng Hoàng, bây giờ sân bay chỉ là một bãi thao trường luyện tập của bộ đội. Từ sân bay, tôi dễ dàng tìm thấy cao điểm 715 xưa. Đứng trên mảnh đất máu lửa năm xưa, tôi biết rằng, dưới những vạt rừng quanh đây, còn bao hài cốt chiến sĩ ta chưa được phát hiện, tìm kiếm.

Từ thị xã Kon Tum lên Đắc Tô – Tân Cảnh, cảnh vật đổi thay khá nhiều, khu vực Bãi Ủi, Võ Định, cống Ba lỗ, tranh chấp tan hoang ngày nào, nay nhà cửa san sát, rừng cà phê, cao su xanh bạt ngàn. Tôi chỉ còn nhận ra các cao điểm 751 và dãy Ngọc BBiêng xa mờ. Xã Diên Bình vẫn yên ả như xưa, thị trấn Tân Cảnh nhộn nhịp hàng quán và rất nhiều sâm Ngọc Linh “dởm”. Sân bay Đắc Tô giờ có một đơn vị thuộc Quân đoàn III đóng. Qua cầu Đắc Mót vẫn thấy cái nhà rông tại vị nguyên chỗ cũ, chỉ có điều mới hơn. Đường Hồ Chí Minh giai đoạn một đã làm xong tới Thị trấn Plây Cần. Tôi tranh thủ vào thắp hương nhà bia ghi danh các liệt sĩ. Khi ghé qua Tân Cảnh, tôi tranh thủ chụp hình bên chiếc xe tăng 377 anh hùng. Đợt đi đó, tôi chỉ đạo chọn khu vực vùng đệm vườn quốc gia Chư Mom Ray để đầu tư xây dựng Làng TNLN. Bây giờ nơi đó đã trở thành một nông trường cao su điển hình của Tổng đội TNXP tỉnh Kon Tum

Ngày hôm sau, toàn đơn vị lên xe cơ giới nhằm phía nam mà tiến. Trên đường đi, chúng tôi nhận thấy từng đoàn xe vận tải, xe tăng, xe kéo pháo các loại bám đuôi nhau hành quân trên con đường công binh mới mở. Những đoạn qua nơi trống trải, người ta dựng dàn như dàn mướp ngụy trang cho mặt đường. Rồi chúng tôi xuyên sang đất Lào, gặp cao nguyên A Tô- Pư. Đêm ngủ lại dưới tán rừng cây khộp với mặt đất phủ đầy loại cỏ mịn vàng. Nằm võng ngắm trăng tròn giữa tháng, tôi thầm nghĩ, giá như nơi đây, sau này trở thành một nông trường thì tuyệt đẹp.

Lặng lẽ, bí mật hành quân chừng nửa tháng, chúng tôi dừng chân tại khu vực suối Đắk Đam, ranh giới giữa Việt Nam – Căm Pu Chia và đón tết 1975 ở đó. Đây là cái tết thứ tư tại chiến trường, đơn giản và chóng vánh. Nơi chúng tôi đóng quân là một khu rừng khộp bằng phẳng, xen kẽ những bụi le gầy và cỏ mịn, có đường ống dẫn dầu của ta đi qua. Một hôm máy bay địch ném bom trúng đường ống gây cháy dữ dội, cả đơn vị phải tham gia dập lửa. Sau tết chúng tôi lên đường đi trinh sát, trước khi đi, Trung đoàn trưởng Trương Tăng Thái trực tiếp gặp chúng tôi giao nhiệm vụ, yêu cầu bí mật tuyệt đối, đặc biệt không được mang theo thư tín, địa chỉ đơn vị, gia đình và quê hương.

Mục tiêu trinh sát đầu tiên là căn cứ Núi lửa – Đức Lập, sau chuyển sang khu vực sát phía tây thị xã Ban Mê Thuột. Cả tháng trời chúng tôi lặn lội xuyên rừng, leo trèo, bắc dàn đặt máy phương hướng bàn trên những ngọn cây cao nhất để giao hội vào từng mục tiêu. Rừng nơi đây khác hẳn với Kon Tum, bằng phẳng, toàn cây khộp và bụi le gầy, thi thoảng có một ngọn đồi thấp nhô lên với toàn đá đen xì. Thú rừng nhiều lắm, có hôm gặp cả đàn bò tót chạy ầm ầm, cả đôi chim công xòe đuôi múa rất đẹp, khiến chúng tôi ngẩn ngơ chiêm ngưỡng. Tây Nguyên đang mùa khô nên thật khắc nghiệt, có ngày đi cả buổi mới lấy được bi đông nước từ vũng nước đục ngàu in đầy dấu chân thú rừng, nhưng ở các khe suối cạn lại có rất nhiều cua đá và rùa vàng.

Quá trình làm nhiệm vụ, không ít lần chúng tôi gặp những tình huống khá bất ngờ. Một lần chúng tôi đang nghỉ trưa bóc lương khô ăn bên một khe cạn thì đột nhiên thấy đoàn xe “bò vàng” vào rừng khai thác gỗ. Tất cả lên đạn sẵn sàng vì sợ địch cải trang dân vào rừng dò la tin tức. Không thấy gì khả nghi và hình như họ cũng chưa nhìn thấy nên chúng tôi lặng lẽ tránh. Thế nhưng ở mũi trinh sát khác, vì hai bên đã trông thấy nhau nên quân ta buộc phải giữ dân lại để bảo đảm bí mật, sau chiến dịch mởi thả họ về.

Có một hôm, tôi đang vắt vẻo trên ngọn cây săng lẻ cao ngất, chờ anh em bên dưới buộc cành cây cưa sn vào dây dù để tôi kéo lên, làm dàn đo máy phương hướng bàn thì nghe tiếng sột soạt bên dưới. Tôi nhìn xuống thấy một đàn voi đi qua gốc cây mình trèo, trên lưng voi là những quản tượng đóng khố. Tôi nép mình vào cành lá nín thở, quan sát sợ rằng có thám báo đi cùng phát hiện ra thì hết đường chạy thoát. Rất may đoàn voi đi qua vô sự, chắc họ không thấy chúng tôi. Lúc xuống đất, tôi trách anh em tại sao không báo động cho tôi biết, mọi người chống chế rằng bất ngờ quá, mà cũng không biết bằng cách nào báo vì tôi ngồi trên cây cao quá. Thật hú vía bởi trước đây, C17 đã có hai trường hợp là anh Cách bị kẻ lạ tưởng là khỉ bắn chết và rơi từ trên cây xuống, rồi cậu Hoan bị trực thăng phát hiện bắn trúng khi đang tụt từ ngọn cây xuống hầm trú ẩn .

Trên đường trinh sát, chúng tôi nhiều lần phát hiện dấu hiệu bẻ cây đánh dấu khác thường của thám báo Ngụy. Gặp tình huống đó, chúng tôi nhanh chóng cắt đường để tránh tao ngộ chiến. Đánh nhau lúc này không phải là nhiệm vụ của trinh sát. Khó khăn nhất cho tác nghiệp lại là những hôm nhiều gió, phải ngồi hàng giờ trên ngọn cây, chờ lặng gió mới đo chính xác được vật chuẩn mà đồng đội dựng trên ngọn cây cách xa chừng bốn năm cây số. Khi giao hội vào một số chốt của địch ở Bản Đôn, tôi đâu có biết đó là một địa danh nuôi voi nổi tiếng của Tây Nguyên. Phải gần ba mươi năm sau, trong lần đi chỉ đạo xây dựng Làng Thanh niên lập nghiệp tại Ya Mơ, tôi mới có dịp được đến Bản Đôn, được cưỡi lên lưng voi nổi tiếng của cao nguyên hùng vĩ ấy.

Sau đợt trinh sát Ban Mê Thuột về, hai bộ tô châu mới của tôi đều tơi tả vì leo trèo trên ba chục cây khộp, một loài cây họ dầu, lá to, thân xù xì thô ráp. Tự kiểm điểm mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tôi vô tư khai báo đã ăn quá tiêu chuẩn một bánh lương khô vì đói, thế là đại đội trưởng Vinh phê bình và đề nghị hạ cấp từ tặng bằng khen xuống giấy khen cho tôi 

Có một sự kiện động trời mà mãi sau này được ra Bắc tôi mới biết. Đó là chuyện bà chị con ông bác tôi, công tác ở một cơ quan  ở Trung ương kể lại. Một lần mở đài địch, tình cờ chị thấy chúng loan tin: “ Nguyễn Việt Phát, con ông Nguyễn Văn Sen, quê 32B Tam Trung, thị xã Cao Bằng…đã chiêu hồi chính phủ Quốc gia”. Nghe đi nghe lại biết là đúng em mình, chị liền viết thư lên Cao Bằng hỏi xem lâu nay mình có viết thư về không. Gia đình trả lời khá lâu rồi không thấy thư của tôi, chị càng lo lắng. Lúc đó ta chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Lục lại trí nhớ, tôi cho rằng, sở dĩ bọn địch biết tôi rõ như vậy, chắc là chúng nhặt được quyển bảng bắn Loogarit của tôi đánh rơi trong chuyến đi trinh sát Ban Mê Thuột. Và trong bìa bọc bằng ninol cuốn sổ ấy, có bản khai lý lịch xin vào Đảng, mà tôi vô tình không nhớ để cất đi chỗ khác trước khi ra trận. Thật may tôi trở về lành lặn, giả sử tôi mất tích ở đâu đó, chắc gia đình, họ hàng phải chịu oan suốt đời.

 Sau thời gian chuẩn bị,đêm 9 rạng ngày 10/3/1975 ta tiến công Ban Mê Thuột.Đêm đó chúng tôi hành quân sớm, dọc đường hành quân chúng tôi vừa đi vừa ngủ gật, hai mắt díu lại, sau mỗi lúc nghỉ giải lao, mọi người phải lay nhau dậy để đi tiếp. Để tránh lạc đường, chúng tôi đều dán một miếng lân tinh sau ba lô để người sau dễ nhận biết. 12 giờ đêm chúng tôi đến gần chân núi Chư Duê, cách Kho Mai Hắc Đế non cây số và ém mình vào khe cạn, gốc cây, bụi cỏ chờ giờ G. Tất cả chìm trong im lặng. Đúng 2 giờ 30 phút, pháo binh ta từ hướng sông Sê Rê Pốc bắn dồn dập, đạn pháo bay qua đầu chúng tôi sáng rực trời. Sau đó là xe tăng ta đồng loạt rồ máy, cán đổ những cây rừng mà công binh cưa sẵn một nửa để che mắt địch, bất ngờ ập vào căn cứ tổng kho Mai Hắc Đế.

Gần sáng, chúng tôi theo chân bộ binh lao lên chiếm đỉnh Chư Duê. Khi băng qua chiến hào của địch, tôi thấy xác địch ngổn ngang, có thằng chết mà chưa kịp nhắm mắt. Rồi chúng tôi nhanh chóng chọn nơi đặt máy quan trắc. Một mỏm đồi nhỏ, nhưng quá đông bộ đội nên cảnh tượng lố nhố. Bỗng bọn địch từ chân đồi dùng trọng liên 20 ly bắn lên, khiến mọi người bất ngờ và có phần hoảng loạn. Đơn vị bộ binh dưới chân đồi lập tức ào tới, xóa xổ ổ đề kháng đó của địch. Mặc dù có máy viễn vọng kính phóng đại 40 lần, nhưng bằng mắt thường, tôi thấy rõ xe tăng ta quay nòng pháo về phía sau húc đổ cổng kho Mai Hắc Đế, dẫn bộ binh ta xông lên, cảnh tượng giống như một cuốn phim.

 Đến gần trưa thì quân ta làm chủ khu kho Mai hắc Đế và vùng xung quanh. Máy bay địch lồng lộn thả bom bừa bãi, khiến bom rơi cả vào sở chỉ huy của địch. Cao xạ 37 ly của ta bắn trả quyết liệt hất chúng ra xa. Một số khu vực trong thị xã và sân bay Hòa Bình địch đang chống trả quyết liệt. Càng về trưa trời càng nắng gay gắt khiến mọi người khát khô miệng, đơn vị cử người xuống chân đồi chặt mía về cho anh em  giải khát.

Sáng hôm sau, tiếng súng đã im dần trong thị xã, tôi và một số anh em tìm đường vào trung tâm Sư đoàn 23 ngụy để thu chiến lợi phẩm. Sau khi băng qua ngã Sáu, vượt qua một loạt doanh trại xác địch còng queo, đen cháy ngổn ngang dọc đường, chúng tôi tìm được khu kho hậu cần. Lần đầu tiên được thấy một kho đường sữa khổng lồ như vậy, tôi dùng dao găm rạch một bao đường, hứng vào ba lô và nhét thêm hơn chục hộp sữa cho đầy. Khi ra cửa, thấy một đôi giày da sĩ quan mới bóng, tôi nhặt liền. Lúc này đơn vị đang tập kết tại một cánh rừng khộp ngoài khu kho Mai Hắc Đế, đề phòng Mỹ lại dùng B52 trải thảm hủy diệt như hồi đánh thị xã Kon Tum năm 1972.

Khi chúng tôi gùi lặc lè chiến lợi phẩm về tới nơi thì nhóm của Trung đội trưởng Lê Xuân Hạnh bắt được một tù binh giải về. Lúc đầu tên tù binh sợ ta bắn nên van xin liên tục và không chịu ăn uống gì. Sáng hôm sau đói quá hắn ngỏ ý xin ăn. Thấy chúng tôi đối xử tử tế, hắn bình tĩnh trở lại và khai là quê Sài Gòn, tên là Lê Gia Công, sinh viên đại học Luật năm thứ ba, mới đi lính nhưng được đeo lon trung úy và được phiên chế về đơn vị thám sát, chuyên chặn bắt sóng vô tuyến điện của ta. Nhận định tên tù binh này quan trọng, Đại trưởng Vinh trực tiếp lấy cung. Qua thẩm vấn, tên tù binh cho rằng đây chỉ là trận đánh nhỏ, vì theo mật mã chúng dịch được từ sóng điện vô tuyến thì Sư đoàn 316 và các đơn vị chủ lực của ta đang chuẩn bị đánh lớn ở Kon Tum và Play Cu, toàn bộ Sư đoàn 23 của chúng đã hành quân lên đó để ứng chiến. Tên tù binh còn nói nếu sư 23 ở nhà thì ta khó đánh nổi Ban Mê Thuột. Là người lính, chúng tôi đâu có biết mưu kế lừa địch của ta lúc đó mà chỉ lơ mơ biết rằng, trước khi hành quân vòng sang đất bạn áp sát Ban Mê Thuột, Trung Đoàn 40 có để lại một số đơn vị nhỏ nghi binh kiểu lập trận địa pháo giả, dùng bộc pháo nổ cầm chừng như mọi bận vậy thôi. Nhưng với hàng chục ngàn bộ đội, tăng pháo rầm rầm, chuẩn bị cả tháng trời đánh Ban Mê Thuột là vậy, mà kẻ địch không hề hay biết thì quả là quá tuyệt vời về công tác nghi binh và giữ bí mật.

Sau khi tên tù binh đã hoàn hồn, tỉnh táo, tôi tò mò hỏi nếu sau này hết chiến tranh thì làm gì. Hắn trả lời sẽ học tiếp trường luật và làm thương gia vì cả gia đình là thương gia. Tôi lại hỏi hắn biết gì về Miền Bắc XHCN. Hắn thận trọng trả lời rằng trong trường Luật cũng được nghiên cứuqua về chủ nghĩa cộng sản. Hắn cho rằng, mô hình ấy có nhiều điểm hay, nhưngnếu ông Máx có sống lại thì hắn ta sẵn sàng tranh luận rằng, nếu một xã hội không còn buôn bán, không còn tiền tệ thì xã hội không còn lý do tồn tại nữa. Tôi cũng chẳng dám tranh luận thêm vì thực ra mình có hiểu lắm đâu về vấn đề trìu tượng, to tát ấy. Mãi sau này, khi đất nước đã bước sang thời kỳ đổi mới, tôi mới có dịp nghiệm lại lời viên trung úy tù binh ngày ấy, thấy hắn nói có điểm có lý. Thế rồitên tù binh đó được giao cho cấp trên, trước khi người của trên xuống áp giải anh ta đi, tôi còn tranh thủ dặn với rằng dọc đường không nên đối xử tệ với anh ta. Không biết số phận người tù binh ấy bây giờ ra sao.

Vài ngày sau, chúng tôi lên xe cơ động về Khánh Dương chuẩn bị đánh địch nhảy dù hòng tái chiếm Ban Mê Thuột. Trước khi đi, chúng tôi cứ ngỡ sẽ còn quay lại nơi này nên cất dấu lại khá nhiều thứ cho ba lô gọn nhẹ. Dọc đường gặp từng toán tàn quân ngụy quần áo xộc xệch, đói khát, kéo lê trên đường và xin ăn. Chúng tôi đành bớt khẩu phần lương khô của mình dành cho họ và dặn họ nên trở về gia đình, ra trình diện chính quyền cách mạng.

 Đánh địch đổ quân ở đèo Phượng Hoàng xong, cả Trung Đoàn hành tiến xuống Phan Rang đánh địch tháo chạy. Mũi của anh Tâm gọi pháo bắn vào Vịnh Cam ranh khiến tàu há mồm của địch không thể vào được bờ để bốc tàn binh. Ba ngày sau, toàn Trung Đoàn nhận lệnh quay trở lại Ban Mê Thuột để xuôi theo đường 14 tiến về Sài Gòn. Lúc này tin thắng trận khắp nơi dồn dập báo về. Cả Trung đoàn tạm trú quân trong một đồn điền cà phê ven đường 14. Mỗi thân cây cà phê cao vài ba mét, lá to, quả chín mọng đỏ au. Chúng tôi thi nhau vặt cà phê, đổ vào mũ sắt của ngụy dã nhừ vỏ, lấy hạt cho vào nồi quân dụng ninh nhừ như  nấu bánh trưng. Khi nồi cà phê đã chuyển màu đen, sền xệt, bỏ vài cân đường và sữa chiến lợi phẩm vào rồi dùng ca Mỹ múc ra húp xì xụp. Tối đó cả đơn vị trợn tròn mắt lên không tài nào ngủ được. Thì ra lúc này mới biết thế nào là cà phê Ban Mê Thuột, còn kiểu uống cà phê như thế chắc chỉ đời lính chúng tôi mới có.

Những năm sau này tôi có nhiều lần trở lại Đăk Lắc công tác. Có lần tôi nhờ anh em Tỉnh đoàn đưa tôi đến tận núi Chư Duê để nhớ lại cái ngày 10/3/1975 ấy. Tôi còn kể cho họ nghe câu chuyện về viên Trung úy tù binh tên Công cũng như chuyện dấu tạm 10 hộp sữa và đôi giày sĩ quan Mỹ đen bóng  dưới một gốc cây khộp to đùng ven khu kho Mai hắc Đế mà không có dịp quay lại lấy.

                 Xe tăng T54 tiến vào Kho Mai hắc    

        13.TIẾN VỀ SÀI GÒN

Ngày 26/3/1975, Quân Đoàn III được thành lập trên cơ sở đổi tên Binh đoàn Tây Nguyên. Sau khi được thành lập, cả Quân đoàn tăng, pháo rùng rùng hành quân giữa ban ngày dài hàng chục cây số mà không lo sợ máy bay địch bắn phá như những năm trước. Ngồi trên xe GMC lấy được của địch tại Ban Mê Thuột, tôi có cảm giác nâng nâng tự hào chiến thắng và thầm ước gía như có được chiếc máy ảnh hay máy quay phim để ghi lại những hình ảnh hoành tráng của quân ta lúc đó. Xe đưa chúng tôi qua Đức Lập, Gia Nghĩa, Bù Đốp, về Đồng Xoài và dừng chân ở khu vực rừng cao su Dầu Tiếng. Trên đường đi, chúng tôi được tin có một phi công ta, giả lính ngụy cướp máy bay địch, ném bom vào dinh Độc lập, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thoát chết nhưng tin đó làm nức lòng toàn quân.

Sau khi vượt sông Sài Gòn gần Bến Lức bằng phao bơi tự tạo, Trung đội trinh sát chúng tôi do Trung đội trưởng Lê Đình Điệt quê Thái Bình chỉ huy tìm đường tiến qua Hố Bò, vào gần Đồng Dù, Củ Chi. Để vào được khu vực vốn là vành đai trắng, “đất thép” này, chúng tôi phải nhờ du kích và giao liên địa phương dẫn đường. Cô du kích áo bà ba, quàng khăn rằn, nón tai bèo, vai đeo khẩu AR15 rất kiệm lời, thoăn thoát dẫn chúng tôi đi. Thỉnh thoảng cô mới quay đầu lại phía sau, nhắc chúng tôi phải đi đúng lối để tránh vướng mìn. Đường đi vòng vèo, lắt léo, vằn vện quanh những hố bom dày chi chít, cây cối lơ thơ, cỏ mỹ lút đầu, đồng hoang nắng gắt, khác hẳn với Tây Nguyên bao la ngút ngàn.

Tối hôm đó, chúng tôi được giao liên bố trí ng dưới địa đạo Củ Chi. Nửa đêm chúng tôi bò lên mặt đất trinh sát vùng xung quanh, chạm phải ruộng dưa hấu của dân, quả chỉ nhỏ bằng quả bưởi. Đang cơn khát, chúng tôi đành vặt vài quả ăn tạm, rồi chôn vỏ, xóa kỹ dấu vết. Bò tiếp một đoạn gặp miệng một hố bom to, dưới có tiếng bò thở phì phò, chúng tôi ném một hòn đất thử phản ứng, có tiếng người e hèm, không phải địch, chắc là dân vùng ráp gianh ra làm ăn, sau đó chúng tôi lặng lẽ lui quân.

Những ngày tiếp theo, chúng tôi vào sát căn cứ Đồng Dù hơn đề đo đạc các mục tiêu. Trước mắt chúng tôi là một căn cứ khổng lồ, giây kẽm gai dày đặc, nhà mái tôn trắng xóa, cột điện gỗ thông ngâm nhựa đường, dựng tua tủa và các tháp nước cao lênh khênh.Những khẩu pháo 175 ly với biệt danh “Vua chiến trường” ẩn náu dưới những ụ đất to đùng, thỉnh thoảng vươn cái nòng dài ngoẵng lên bắn ra vùng ráp gianh rồi di chuyển nhanh đi chỗ khác tránh pháo của ta.Xung quanh chúng tôi ngổn ngang xác xe tăng M48 đã vàng ố, hoen rỉ bị cỏ Mỹ phủ vùi, dấu tích của những trận chiến giữa du kích Củ Chi và sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới Mỹ trước đây để lại.

Ngày 29/4/1975 ta nổ súng đánh Đồng Dù, chúng tôi đang dựng đài quan sát trên mấy cây thấp cạnh bụi tầm vông thì máy bay địch bổ nhào xuống ném hai trái bom to đùng cách chúng tôi chng vài chục mét. Thật hú vía vì có kịp đào hầm hố gì đâu. Thế là vội đào hầm nhưng đất khô và rắn quá, cuối cùng chỉ đào được hố nông hoen hoẻn, đủ dấu được cái đầu. Gần trưa ta chiếm được Đồng Dù. Khi băng qua rừng cao su để vào thị trấn Củ Chi thì thấy các chiến sĩ đặc công của ta hy sinh nằm rải rác do bị bọn địch phục kích bất ngờ trong rừng cao su. Thật tiếc cho các anh vì đã đến gần ngày chiến thắng. Trong khi đó, toàn đội hình xe pháo của Trung đoàn, do Trung đoàn phó Nguyễn Văn Kính dẫn đầu, ngang nhiên đi qua một bốt của địch ở khu vực Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng mà không hay biết. Khi tới gần, nhìn thấy cờ ba sọc mới tá hỏa quay đầu. Cũng may bọn địch lúc đó cũng biết thân biết phận nên không dám nổ súng .

Nói về thủ trưởng Kính, người sĩ quan pháo binh được đào tạo bài bản, có mái đầu hói và thường đi đôi giầy sĩ quan đen bóng mang từ Liên Xô về để vào trận. Ông có một cuộc đời khá thăng trầm, quê Nghi Lộc Nghệ An, vào Nam từ 1967, sau 1975 lại sang Căm Pu Chia đánh Pôn Pốt, năm 1979 lại ngược lên biên giới phía Bắc cùng Quân đoàn III. Năm 1980 ông về hưu tại Thái nguyên, rồi chuyển gia đình vào Nha Trang, sau đó lại lên Đà Lạt và sống tới nay. Năm 2001 ông in cuốn “Một đời người, một chùm thơ” tặng bạn bè. Đọc thơ ông, dưới dạng nhật ký bằng thơ, tôi hiểu thêm về một người lính già trọn đời quân ngũ, đa tài, đa cảm, đa tình và đa quê. Mới rồi mọi người đồn ông vừa qua đời, nhưng rồi lại bảo không, chắc ông ốm nặng. Đã gần 40 năm tôi chưa được gặp lại ông, cầu mong ông sống thêm cùng gia đình, bạn bè và rừng thông Đà Lạt, nơi chắc rất hợp với tâm hồn đa cảm của ông.

Khí thế tiến công của ta như vũ bão, xe pháo và bộ đội tràn ngập thị trấn Củ Chi, Tân Phú Trung, Hóc Môn, Ngã Tư Bảy Hiền. Với đội hình hành tiến, nhiều khẩu pháo của ta được triển khai ngay trên mặt đường nhựa khiến các pháo thủ loay hoay tìm cách chốt, chèn bánh và càng pháo sao cho khi bắn không bị giật nảy lên. Bọn địch vẫn ngoan cố bắn trả từ các ngôi nhà cao tầng, hẻm phố. Tôi có cậu bạn cùng lớp, cùng phố, chơi với nhau từ nhỏ, tên Khìn, dân tộc Hoa, là pháo thủ Tiểu đoàn 11 bị dính đạn tại trung tâm Hóc Môn – Bà Điểm, may chỉ bị thương. Năm 1979, gia đình Khìn không về bên kia biên giới, vẫn sống bình thường ở Cao bằng, còn Khìn thì lấy vợ tận miền tây Nghệ An và sống luôn ở đó. Đã 37 năm rồi chúng tôi chưa gặp được nhau.

Trưa hôm sau, đúng 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, chúng tôi được tin quân ta đã chiếm được dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Tất cả sung sướng ôm nhau nghẹn ngào mừng vui khôn tả. Hàng loạt tiểu liên AK nổ giòn vang mừng chiến thắng. Ngay chiều hôm đó, tôi cùng một số anh em trong đơn vị đã có mặt trong sân bay Tân Sơn Nhất để chuẩn bị đài quan sát trên tháp chỉ huy bay, sẵn sàng gọi pháo bắn diệt các ổ đề kháng của địch khi cần. Cả khu vực cổng sân bay ngổn ngang như một bãi chiến trường với cơ man quần áo, dày dép, ba lô, xe cộ, hòm tủ do người di tản vứt bỏ lại. Trên đường băng, nhiều máy bay các loại còn nguyên vẹn. Trong khu nhà kho cũng rất nhiều máy bay, thấy một chiếc máy bay nhỏ kiểu thể thao rất đẹp, tôi tìm cách trèo vào khoang lái tò mò tìm dù dưới ghế ngồi của phi công nhưng không thấy, sau đó vào một khu kho lớn tìm thực phẩm. Các thứ khác chúng tôi không dám đụng vào, vì kỷ luật quân đội hồi đó rất nghiêm.

Tấn công Đồng Dù, Củ Chi  29/4/1975

Và sân bay Tân Sơn Nhất 30/4/1975

        14. DÂN VẬN

Vài ngày sau, chúng tôi được lệnh quay về thị trấn Củ Chi và đóng quân tại Ấp Đông. Ngày đầu chúng tôi phải mắc võng nằm ngoài ngõ nhà dân, sau đó làm công tác dân vận, quét dọn sân ngõ sạch sẽ, trò chuyện và dạy hát cho các em nhỏ… dân hiểu dần rồi mời chúng tôi vào nhà ở. Tuy nhiên chỉ có các em nhỏ là vô tư lại gần chúng tôi, còn người lớn và nhất là các cô gái vẫn giữ một khoảng cách xa lạ. Sau khi quen thân rồi có cô   kể rằng rình bộ đội tắm để xem Việt cộng có đuôi hay không.

Dân vùng này đa phần có chồng con tham gia chính quyền ngụy. Một hôm, tôi đang ngồi kể chuyện miền Bắc cho gia đình chú Hai Thuấn nghe thì có một người đàn ông đeo kính râm, đội mũ phớt bước vào chào hỏi lễ phép. Thấy khách vào, gia đình chú Hai lảng ra để tôi tiếp chuyện. Người đàn ông chạc ba lăm, ăn nói phải phép và hiểu biết. Ông ta dò hỏi chúng tôi về chính sách của ta đối với vùng giải phóng. Sau khi khách lạ ra về, chú Hai mới nói với tôi rằng người đó là viên thiếu tá đặc vụ Ngụy. Tôi trách chú  không cho biết ngay, giờ biết đâu mà truy tìm hắn.

Nơi Trung đội tôi ở nhờ là nhà bà Hai cũng thuộc dạng gia đình theo “Chính phủ Quốc gia” thực sự. Hình ảnh đầu tiên mà chúng tôi bắt gặp khi vừa đến trọ là bàn thờ hương khói nghi ngút, hai bên là hai câu đối: Chồng về âm phủ ngàn thu biệt/Vợ con trần thế bội lòng thương. Vài hôm sau hàng xóm mới cho chúng tôi hay, chồng bà Năm vốn là công chức chính quyền ngụy quận Củ Chi và con rể đầu là sĩ quan ngụy, cả hai cha con sợ ta bắt trả thù đã bỏ chạy và bị trúng pháo chết hôm 29/4. Thảo nào, những ngày đầu gia đình im lặng, lạnh lùng đến khó hiểu và có ý xa lánh chúng tôi. Thế rồi, nhờ công tác dân vận, lâu dần giữa chúng tôi và gia đình đã trở thành thân quen. Cháu gái 13 tuổi tên là Bảy Hường, là con áp út của bà Hai, thân hình ốm eo, tóc tai đỏ quạch, cứ mỗi chiều đi chăn bò về là vứt vội cái nón te tua, chạy lại đòi tôi dạy hát. Tôi tận tình dạy cháu bài “Trông cây lại nhớ đến Người”. Hường có chất giọng tốt nên hội diễn năm đó của địa phương, cháu đã hát bài hát tôi dạy và được giải thưởng.

Tết năm đó chúng tôi đón xuân tại căn cứ Đồng Dù. Cái tết thứ năm của đời lính và là cái tết đầu của độc lập, tự do. Sáng mồng 2 tết, chúng tôi ra chúc tết các gia đình ở Củ Chi. Giữa nhà bà Hai, trước ban thờ và bàn ghế tiếp khách có một chậu hoa mai. Trên cành mai có nhiều tờ thiếp chúc mừng năm mới, chúng tôi không ai dám đụng vào. Cháu Hường nhanh nhn ra chào và đòi chúng tôi lì xì. Chúng tôi ngớ người nhìn nhau mà không biết lì xì là gì. Cháu phụng phịu đi vào trong. Bà Hai, sai cô Năm, lúc đó 19 tuổi ra mời chúng tôi uống nước, ăn bánh tét và hút thuốc. Cô Năm khá xinh, đầy đặn và khỏe mạnh. Mặc dù chúng tôi đã biết cô từ ngày mới giải phóng, nhưng hôm nay cô xuất hiện trong bộ áo quần thật mới và đẹp, má đỏ hây hây. Cô ngượng ngùng tiếp chúng tôi cho phải phép rồi vội lùi vào trong nhà. Bà Hai nhìn chúng tôi ý nhị và nói “Chú nào ưng thì má cho đó”. Bà nói vui vậy thôi chứ chúng tôi thừa biết rằng, giữa chúng tôi và gia đình bà lúc đó có khoảng cách rất lớn, cộng với kỷ luật quân đội cực nghiêm thì chuyện bà Hai nói sẽ mãi chỉ là nói cho vui mà thôi. Sau khi ra dân chúc tết về, anh em trong đơn vị kể cho nhau nghe tình huống khó xử khi các cháu bé đòi các chú bộ đội li xì, mà lúc đó chúng tôi làm gì đã có tiền. Lần sau ra chơi, chúng tôi được nghe kể cô Năm hôm ấy buồn lắm vì theo phong tục, nhà có con gái đến tuổi lấy chồng, trên cành mai ngày tết có những tờ thiệp để không, chàng trai nào có tình cảm hoặc tình ý với cô gái đó thì ghi vào tờ thiếp… Nghĩ lại, thấy hồi đó chúng tôi tồ quá. Nhưng rồi sau đó, có một chàng đẹp trai trong đơn vị chúng tôi đã thường xuyên lui tới gia đình cô Năm. Hai người quấn quýt nhau lắm, đến nỗi Chính trị viên trưởng Nguyễn Văn Tỵ và Đại đội trưởng Vinh phải yêu cầu tôi, với tư cách là cán bộ Trung đội nhắc nhở anh em thận trọng đừng để chuyện gì đáng tiếc xảy ra.

Những năm sau này, do điều kiện công tác nên tôi có nhiều dịp trở lại thăm gia đình bà Hai và bà con lối xóm ở Củ Chi. Bà Hai vẫn khỏe mạnh, vẫn ở trên mảnh đất cũ với ngôi nhà khang trang to đẹp hơn. Mỗi khi gặp tôi, bà vẫn nhắc đúng tên từng đứa chúng tôi như: Điền, Ý, Ngọc, Thế, Đức, Dư, Thắng, Bình… những chiến sĩ trinh sát pháo binh của C17 ngày ấy. Cô Năm và các cháu Bảy Hường, Út Trinh, Hai Thuấn ngày ấy nay đã thành bà nội, bà ngoại. Vài năm trước con gái út của cô Năm ra Hà Nội thực tập ngành du lịch đã ghé thăm gia đình tôi. Đó chính là kết quả công tác dân vận của bộ đội Cụ Hồ những năm đánh Mỹ, khiến một gia đình của “Chính phủ Quốc gia” như bà Hai mấy chục năm sau vẫn còn nhắc nhớ đến chúng tôi với tình cảm chân thành, quý trọng và không chút vụ lợi.

Tác giả (ngồi bên phải) tại Củ Chi sau 30/4/1975

15.   GẶP LẠI ĐỒNG ĐỘI

Thấm thoát gần 40 năm trôi qua, do hoàn cảnh của cuộc sống bộn bề, hơn sáu chục con người của Đại đội trinh sát C17 pháo binh Tây Nguyên ngày ấy và những đồng đội ngày đầu nhập ngũ với tôi vẫn chưa có được một lần gặp nhau đông đủ.

Năm nay, nhân sự kiện 40 năm giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh và 37 năm giải phóng Miền Nam, Trung đội trưởng trinh sát C17 mà ngày xưa chúng tôi quen gọi là Cường “liều”, ở Võng Xuyên, Sơn Tây, nay là một ông chủ xưởng mộc làm ăn khấm khá, nhận đăng cai. Hơn ba chục anh em xa gần về dự, đây là lần đông đủ nhất, mặc dù cũng chỉ được non nửa đại đội. Nhân dịp này, tôi gửi tặng mỗi đồng đội một cuốn bản thảo ghi chép về C17 những năm đánh Mỹ mà tôi cấp tốc viết trong vòng một tuần. Cuộc gặp mặt lần này có thêm vợ chồng anh Thiêm từ Sài Gòn và anh Thạch từ Gia Lai ra. Đặc biệt là sự có mặt lần đầu của Chính trị viên trưởng Vũ Văn Muống và Đại đội phó Bùi Minh Tâm sau nhiều năm bặt tin tức. Mặc dù 40 năm sau tôi và anh Muống mới gặp lại nhau nhưng chúng tôi đều nhận ra nhau ngay từ cái bắt tay đầu tiên. Anh bảo năm 1979 có vào nhà tôi ở thị xã Cao Bằng nhưng không gặp. Lúc đó anh cùng Quân đoàn III từ Căm Pu Chia hành quân cấp tốc ra chiến đấu trên đó.

 Tại buổi gặp mặt lần này, anh Bùi Minh Tâm bỗng trở thành tâm điểm chú ý bởi bộ quân phục sĩ quan cấp tá của người cháu cho nom rất chỉnh tề, nhưng anh để râu dài như bô lão ngày xưa và hàm răng chỉ còn vài chiếc nên nhiều người không nhận ra. Sau lời phát biểu ngắn gọn và đấy chất lính cụ Hồ, anh tếu táo chuyển tiết mục : Ngày xưa tôi thổi sáo ngang/ đến nay răng rụng tôi chuyển sang sáo này, rồi rút cây sáo dọc ra thổi bài “Ai yêu Miền Nam” rất hay. Chỉ có điều, cái chiến công binh vận ngày 27/1/1973 hồi đó của anh thì chỉ có chúng tôi biết và nhớ đến. Anh chưa có được một tấm huy chương nào về sự kiện ấy.

Cũng tại lần gặp gỡ đặc biệt này, anh Lê Việt Cường đã huy động toàn bộ gia đình, họ hàng và đội văn nghệ quê nhà đón tiếp chúng tôi rất nồng hậu và chu đáo. Qua một số anh lớn tuổi hơn, tôi còn được biết câu chuyện tình “kỳ ngộ” . Ngày ấy, Trung đội trưởng trinh sát Lê Việt Cường và một số đồng đội cùng trang lứa được cử ra Bắc học trường sĩ quan pháo binh 400 ở thị xã Sơn Tây. Với lợi thế gần nhà, Cường “liều” liền tính chuyện vợ con. Một cô gái đã lọt vào tầm ngắm của anh. Không ngần ngại dài dòng anh hỏi thẳng cô gái rằng có muốn làm vợ của anh không, 15 phút sau trả lời nhé. Cô gái ngỡ ngàng dù rằng “tình trong như đã mà ngoài còn e”. Trong ngày cưới, đến giờ cô dâu phải xuất hiện mà mọi người hốt hoảng chẳng thấy cô đâu. Hỏi ra mới hay cô sợ anh Cường chưa chắc thật lòng yêu cô, bởi cách ngỏ lời kỳ cục đó. Đám phù rể hôm đó toàn dân trinh sát C17, nhưng họ đều phải bái phục cách hỏi vợ đầy hiệu quả của Cường “liều”

Để có thêm thông tin cho cuốn sách này, tôi trở lại Cao Bằng gặp bạn bè cùng nhập ngũ và số đồng đội C17. Người tôi tìm đến đầu tiên là Hoàng Văn Thuật. Sau khi phục viên cuối 1976, Thuật được đi Bun học nghề, về nước Thuật vào cơ quan nhà nước rồi nhanh chóng bỏ ra làm ngoài. Nhờ ham tìm hiểu, giàu óc sáng tạo nên mọi chi tiết về cơ khí, phụ tùng ô tô máy móc cậu ta đều chế được nên khá nổi tiếng và có một cơ ngơi khang trang bên dòng sông Bằng thơ mộng. Nhưng đáng quý hơn cả ở Thuật là sống có nghĩa tình và trách nhiệm với đồng đội. Thấy tôi lên, Thuật bỏ cả khách hàng để đưa tôi đi khắp nơi tìm gặp đồng đội. Trước khi đi nhậu cùng bạn bè, Thuật không quên xuống hầm nhà moi lên bình rượu quý để đem theo.

Rồi chúng tôi kéo đến nhà Nguyễn Văn Đức, một con người vẻ ngoài thô ráp, nhưng nhẹ nhàng và đa cảm. Đức vào C17 đầu năm 1974, sau chuyển về thị đội thị xã Cao Bằng, rồi phục viên  chuyển sang lái xe kiếm sống. Tôi còn nhớ, sau ngày toàn thắng 30/4/1975, chúng tôi vào đóng quân tại căn cứ Đồng Dù, Củ Chi. Một hôm đến phiên tôi trực gác, ngồi trên chòi cao, nắng gắt, gió thôi hây hây, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, đại trưởng Vinh đi kiểm tra đã trèo lên lấy súng của tôi mang về. Sự kiện ấy đã trở thành đề tài hấp dẫn cho Đức viết tiểu phẩm kịch vui biểu diễn trước đơn vị… Trong lần gặp gỡ này, Đức trao tôi bản chép tay bài hát truyền thống của Trung đoàn pháo binh 40 anh hùng mà lâu nay tôi tìm mãi để đưa vào cuốn sách này. Sau nhiều năm làm nghề lái xe, nay Đức lui về trang trại, trong một khu đồi yên vắng ven dòng sông Hiến, đến nỗi buộc cô vợ chuyên gõ đầu trẻ của một trường trọng điểm trong Thành phố Cao Bằng, khi hết giờ cũng phải vào chăm lo đàn gia súc luôn nháo nhác inh ỏi ấy. Bận rộn là vậy nhưng Đức luôn hết mình vì đồng đội. Không lần nào họp mặt C17 ở Hà Nội, Thái nguyên, Hải Phòng… là thiếu Đức. Nhiều khi cậu ta vừa là người vận động, tổ chức kiêm luôn lái xe đưa anh em đi đến nơi về đến chốn.

Hôm tiếp tôi tại nhà Đức, em gái cậu ta trực tiếp cùng chồng vào bếp trổ tài chế các món ăn từ trang trại mang về. Khi nghe chúng tôi kể về thời hoa lửa, cô ấy bất ngờ kế rằng ngày trước mỗi khi nghe chiến thắng từ chiến trường là cô ta reo to và khóc. Nhiều khi sợ bạn bè bảo hâm nên cô ấy chạy ra bờ sông Bằng hét thật to và khóc cho đã. Cuối cùng cô ấy bảo rằng em thật tự hào về các anh. Nghe vậy, tôi thật ấm lòng và thầm nghĩ giá như những người lính chúng tôi được nghe nhiều hơn những tấm lòng chân thật ấy.

Tôi ngược lên Cao Bình, quê hương của huyền thoại Thạch Sanh đánh trăn tinh cứu công chúa và kinh đô 3 đời của nhà Mạc, tìm đến nhà Bùi Nguyên Văn, một trinh sát khá nhanh nhẹn trong tính toán xác định tọa độ. Có lẽ sau khi phục viên, duy nhất chỉ có Văn giữ được nghề đo đạc bản đồ và lên tới chức Đoàn trưởng điều tra quy hoạch rừng của Sở NNPTNT tỉnh Cao Bằng. Văn cũng mới xin nghỉ theo Nghị định 132 trước tuổi như tôi và quay về với ruộng sâu trâu nái. Thảo nào cả sân và trong nhà đầy thóc, cả người đẫm mồ hôi như thuở nương rẫy ở Tây Nguyên. Bữa cơm tiếp tôi Văn gọi cả 2 người em họ sát vách, cũng đều lính pháo binh 40 và lính Tây nguyên xưa. Cả Đàm Thanh mà ngày xưa chúng tôi gọi là Thanh “thầy cúng” bởi cậu ta phán trúng thời tiết trong nhiều lần đi trinh sát. Khi về hưu với lon Đại úy, Thanh nhiệt tâm dành phần còn lại cho công tác xã hội và chính quyền xã mấy chục năm qua.

Tuy không cùng C17, nhưng các bạn cùng trang lứa cùng nhập ngũ với tôi ngày ấy đều là lính của E40, trong đó có Vương Bá Hùng. Sau khi phục viên, chuyển ngành,cả tôi và Hùng được cử về Hà Nội đào tạo cơ bản. Tôi Cao Đẳng Thanh vận (Trường Đoàn Trung Ương), còn Hùng là cao đẳng Pháp lý, sau đổi thành Đại học Luật. Hai trường đối diện và cách nhau một con đường “đau khổ” như đường Trường Sơn. Vì vậy không tuần nào là chúng tôi không gặp nhau, chia nhau từng điếu thuốc, từng chút quà từ trên quê gửi về và cùng nhau lượn lờ xem Hà Nội trong ngày nghỉ học. Ra trường, tôi về Tỉnh Đoàn công tác, Hùng về Tòa án huyện rồi lên Tòa tỉnh và bây giờ nghỉ hưu thì mở văn phòng Luật sư Vương Hùng.

Theo đề nghị của tôi, Thuật đã đưa tôi đến thăm Việt, Vũ, Sơn, cũng  lính E40. Cả ba đứa đều là lính 14,5 ly, bị thương nặng trong chiến dịch xuân hè 1972 ở Kon Tum và phải ra Bắc ngay cuối năm đó. Nghe các bạn kể lại lúc bị thương và quá trình vượt Trường Sơn ra Bắc điều trị vết thương, tôi mới thấu hiểu thêm nỗi chuân chuyên của những đồng đội thiếu may mắn, không chỉ trong chiến tranh mà ngay cả trong thời bình.

Việt kể trong trận đánh phía Nam Kontum, khẩu đội 14,5 ly của Việt bị trúng bom, 3 đứa chết, còn lại bị thương cả, Việt bị khá nặng vào đầu, tay, chân dẫn đến teo cơ và phải cáng ra Bắc điều trị. Trong thời gian điều dưỡng, Việt đã học được nghề cắt may. Khi phục viên, Việt mở hiệu may kiếm sống, rồi lấy vợ, sinh con. Vợ Việt là cô bạn cùng phố và cùng học cấp II với tôi.

Còn Sơn thì bị địch phục kích, mặc dù đã bắn trả quyết liệt, diệt được một số tên nhưng vẫn bị đạn địch găm thẳng vào đùi, đứt động mạnh chủ nên bước thấp bước cao và tọp đi trông thấy. Bù lại Sơn giỏi tính toán, không sống nhờ bao cấp, lập doanh nghiệp xây dựng, tậu được khá nhiều nhà đất và sống đàng hoàng nhưng kín đáo, khiêm nhường. Vũ thì bị thương nhiều chỗ, nặng nhất là vào đầu, sống bằng nghề cửu vạn nặng nhọc. Vừa rồi các tổ chức hảo tâm hỗ trợ được 30 triệu để cậu ta xây một căn nhà cấp 4 nhỏ thó và nằm sâu trong mộ hẻm ngõ khó tìm. Ấy vậy mà Vũ cũng nuôi được hai con ăn học nên y\người…

Trở lại Cao Bằng lần này, tôi có ý tìm hiểu về hoàn cảnh hy sinh của Đinh Việt Trung, người bạn thân thiết mà tôi đã kể ở trên. Nhà Trung vẫn chỗ cũ, nhưng là một căn nhà  xập xệ, cũ nát, một ban thờ và di ảnh Trung mờ ảo, nguội lạnh và tạm bợ. Bố Trung vẫn còn sống với tuổi gần chín mươi, cụ nghẹn ngào không nói nên lời khi biết tôi từ xa đến thăm nhân dịp 65 năm kỷ niệm ngày 27/7. Gạt nhanh nỗi lòng trắc ẩn, tôi bảo cụ cho xem giấy báo tử của Trung thì mới vỡ ra rằng, Trung đã tới chiến trường, vào đơn vị bộ binh sư 10, tham gia trận Đắc Tô, Tân Cảnh và hy sinh ngày 29/4/1972, ngay cạnh đường 14. Hóa ra ngày đó chúng tôi rất gần nhau mà không biết, như vậy tin đồn Trung hy sinh do trúng B52 trên Trường Sơn là sai. Gần đây gia đình Trung mới biết được phần mộ và đưa hài cốt Trung từ Kon Tum về.

Mừng quá, tôi liền tìm đến nghĩa trang liệt sĩ Thanh Sơn để thăm viếng Trung.Một mình trong nghĩa trang hoang vắng,  nhưng không hiểu sao tôi lại nhanh chóng tìm được mộ Trung.Bất ngờ hơn, ngay cạnh mộ Trung lại là mộ Đàm Việt Hùng, cũng là bạn cùng phố, cùng nhập ngũ. Khi vào bộ đội Hùng được chọn đi huấn luyện thành cán bộ khung nên vào Nam sau tôi. Hùng là cán bộ một đơn vị bộ binh, trong trận truy đuổi địch chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng, Hùng bắt sống được tên Chuẩn tướng ngụy tại sân bay Thành Sơn. Nó đánh rất hăng, nhiều chiến công nhưng không chịu làm báo cáo thành tích mà đơn vị xây dựng đề nghị phong Anh hùng. Thế rồi trong chiến tranh biên giới tháng 2/1979, Trung úy Đàm Việt Hùng đã ngã xuống ngay trên quê hương mình, tại mặt trận Hà Quảng. Sự gặp gỡ như xếp đặt của định mệnh sau 40 năm giữa tôi với hai người bạn ấy khiến tôi thao thức nhiều đêm

      

Bên mộ Trung và Hùng tại Cao Bằng

Sáu năm làm lính trinh sát pháo binh C17 giữa chiến trường mịt mùng khói lửa và bao la xanh của Tây Nguyên ngày ấy, nhiều khi cứ ngỡ chỉ như một sân trường thưở nào, khiến sui tôi gặp được khá nhiều người quen biết trên các cung đường ra trận. Đó là lần gặp thày Minh, chủ nhiệm lớp 10B của tôi, trong lần đi đánh Kon Rốc đầu năm 1974. Thày đi sau tôi hai năm, vào một đơn vị bộ binh của Trung đoàn 66. Thày trò gặp nhau giữa chiến trường là điều hiếm gặp. Sau ngày giải phóng, tôi nghe tin thày đã hy sinh.Nông Hòa, người Nà Cạn, lính trinh sát E66 mà tôi đã gặp trong lần đi trinh sát Đức Lập, Đắc Lắc tháng 2/1975, cùng đơn vị với thày Minh cho biết, một lần thày bị sốt rét, người ta đưa vào viện và không biết tin gì về người thày ấy nữa.

Lần đi hội diễn văn nghệ ở H3 đầu 1993, trên báo động có biệt kích thâm nhập, khiến chúng tôi phải bỏ hội diễn đi làm nhiệm vụ.Trên đường đi gặp Hiệp, người cùng phố, bạn học em trai tôi. Nhìn nó thất thểu, dặt dẹo, tôi đoán ngay là mới vào chiến trường, tôi san sẻ cho nó ít lương khô, đường sữa. Sau này phục viên, không hiểu vì sao nó có vẻ bất mãn, sống vật vờ, gia đình ly tán. Thấy vậy, anh em tôi tìm cách giúp nó có việc làm ở Hà Nội. Nhưng thời gian sau Hiệp bỏ về, rồi chết trong đơn côi, bệnh tật.

Trở lại Cao bằnggặp mặt đồng đội lần này, tôi được tin một số đồng đội đã mất. Trong đó có Công ở Cao Bình, Liên ở Thanh Sơn, Đàm Vượng ở Sở Văn hóa, Đàm Sáo ở Nà Cạn, Nông Văn Bối ở Trùng Khánh… Sự ra đi quá sớm của các bạn, tôi thầm nghĩ chắc có phần ảnh hưởng bởi những năm tháng chiến đấu gian khổ, ốm đau bệnh tật từ chiến trường xưa để lại.

                        16. LỜI TRI ÂN

Lịch sử cứ trôi dần vào miền sâu ký ức, nhạt nhòa theo tháng năm và tuổi tác. Hiện tại cứ ắp đầy những lo toan, bươn trải, cuốn người ta vào vòng quay của cuộc đời để tồn tại và sinh sôi. Còn tương lai dẫu lúc tỏ, lúc mờ nhưng vẫn vẫy gọi những niềm tin vào những điều tốt đẹp.

Mọi hy sinh mất mát đã, đang và sẽ tiếp tục được ghi nhận, đền đáp. Nhưng đời người lính là vô giá, không gì so sánh đánh đổi được, không thể đo đếm bằng sự được mất của đời thường. Chính vì thế, cái tình của người lính là thứ tình cảm bền bỉ, thủy chung và trong sáng nhất, mặc cho chuẩn mực đạo đức, lý tưởng và thước đo giá trị cuộc đời đang có nhiều đổi thay, băn khoăntrăn trở.

Với tôi, cả tập thể đại đội C17 trinh sát, những “đôi mắt” của pháo binh Tây Nguyên 40 năm về trước, với những đồng đội cùng nhập ngũ ngày xưa, tôi còn nhớ hoặc đã quên, họ còn sống hay đã mất, vất vả hay tản nhàn, là quan hay là dân, ở quê hay trên phố…đều đã trở thành một phần máu thịt của đời tôi. Những gì liên quan đến họ và tôi, trong những năm tháng đỏ trời đỏ đất ấy, sẽ mãi mãi không phai mờ trong tôi và trong đồng đội của tôi. Giá như một ngày nào đó, chúng tôi được gặp nhau đông đủ hơn, được cùng nhau trở lại chiến trường xưa để nhớ và thương về một thời hoa lửa ấy. Bởi vì, có một người lính của Tây Nguyên đã viết thế này:

“Tây Nguyên ơi ai một lần qua đó

 Sẽ trọn đời ta mãi nhớ thương nhau.”                                                                                                                                                                 

                                            Hà Nội, Tháng 8 năm 2012

                            Phần II

NGƯỢC THỜI GIAN

(Thơ)

                     Có một thời

                         Có một thời phượng đỏ sắc chia ly

Mẹ thầm khóc ngõ nghèo leo lét nhớ

Em thầm trao chiếc khăn thêu dang dở

Anh thầm yêu màu sim tím diệu kỳ

 

Có một thời chẳng toan tính nghĩ suy

Tiền tuyến gọi gói trống trường ra trận

Vở học trò lưu đầy tình thầy bạn

Nửa lớp đi để lại nửa lớp chờ…

 

Có một thời lòng tin lớn vô bờ

Sức trẻ nghiêng sông, khiêng rừng, vác núi

Đạp nắng mưa bom rền pháo dội

Ngực căng tràn  náo nức khúc hành quân

 

Có một thời giành nhau nỗi gian truân

Trước giờ G chung nhau từng hơi thuốc

Một đứa ngã cả chiến hào quặn thắt

Tan trận về không ai nỡ điểm danh

 

Có một thời dâng hiến trọn tuổi xuân

Đứa nằm lại vô danh và bất tử

Đứa trở về vinh quang và tất tả

Chỉ thầm mong sống xứng một kiếp người./.

 

                                                                            

Bãi khách Trường Sơn

 

Gậy trường Sơn đẩy trạm trước dần xa

Kìa bãi khách gốc cây rừng nhẵn bóng

Đồng đội trước để quên …nơi mắc võng

Cơn mơ chiều thấy bóng bạn vừa qua

 

Nối hai đầu của những chặng đường xa

Trăng lưỡi liềm soi cong ngàn cánh võng

Ru ta ngủ giữa Trường Sơn gió lộng

Mây giăng mùng cột võng thức trầm ngâm

 

Lệnh lên đường chúng tôi lại hành quân

Gấp mái nhà, ba lô, súng ống

Cuộn hai đầu nhớ thương vào cánh võng

Lại vô tình để quên chỗ dừng chân./.

                                                     T5 12/1972

 

                   Cánh võng trao tình 

 

Trên cánh võng mềm anh viết cho em

Lá thư đầu tiên của người ra trận

Trăng Trường Sơn rọi tình anh vương vấn

Sáng tên em dưới ngòi bút dạt dào

 

Ngọn gió đêm nay thổn thức ngọt ngào

Như mang cả bóng em vào trang giấy

Như mang cả màu má em đỏ dậy

Để bừng lên sức sống quân hành

 

Đường Trường Sơn đẹp tựa một bức tranh

Viết thư đêm trăng tên em thành nét vẽ

Tình yêu đầu giành cho em tuổi trẻ

Hóa diệu kỳ từ một lẽ nguyên sơ

 

Người lính nào ra trận chả ước mơ

Túi cóc trong tim căng đầy tình yêu dấu

Mỗi chằng đường nhẹ ba lô chiến đấu

Vơi làm sao kỷ niệm buổi lên đường

 

Ấp trang thư trong nỗi nhớ tận cùng

Anh thấy nóng căng lồng ngực trẻ

Có phải tên em từ trong thư bén rễ

Vào tim anh một tình yêu không phai

 

Tiếng gà rừng gọi thức một sớm mai

Trường Sơn quân đi ào ào gió thổi

Lại lên đường hành quân xa bận vội

Vẫn không quên một cánh võng trao tình./

 

                               Đôi mắt của Trường Sơn *

                                                      

Chợt gặp em trên đường ra trận

Giữa Trường Sơn ầm ào, tất bật

Vai em gầy, eo lượn, gùi cao

Gạo muối trên vai em tới chiến trường nào

 

Đời xông pha đâu dám mơ đến má đào

Chỉ tại em  hiện ra như cô Tấm

Thương em quá áo lưng ướt đẫm

Anh mơ làm ngọn gió hong khô

 

                          Em mỉm cười như cánh võng đung đưa

Khiến cả hàng quân rung rinh, xao động

Trường Sơn đang đi như sững lại

Nhìn em xa khuất… sau gùi

 

Anh nhận ra đôi mắt em trẻ hơn cả nụ cười

Như trao riêng anh một niềm tin rất lạ

Anh vội gói đôi mắt hình chiếc lá

Cất dấu vào túi cóc trái tim xuân

 

Cứ mỗi lần nhìn lên chiếc lá xanh

Anh thầm ước có một ngày gặp lại

Trả về em nụ cười thời con gái

Và đôi mắt hiền như chiêc lá của Trường Sơn./.

 

 

Mùa măng dậy

(Tặng Đội điều trị 25)

 

Em đi hái cái măng rừng

Cửa rừng lấp ló mấy tầng mây giăng

Mái rừng bát ngát màu xanh

Gió rừng đậu cả lên vành mũ xinh

Long lanh giữa buổi bình minh

Giọt sương chớp nhẹ vô tình hàng mi

Đường rừng đâu cũng lối đi

Ngàn hương hoa chụm thầm thì đón em

Đất rừng bỗng mở măng lên

Ngược em ngực đất căng dềnh hương đưa

Tay trần dãi nắng dầm mưa

Vẫn mười ngọn búp đón mùa măng trao

Tinh khôi giữa vỏ vây bao

Màu măng nhuốm cả xôn xao nắng hồng

Bóc áo măng má thẹn thùng

Nhẹ nương pha chút ngại ngùng đôi tay

Áo anh màu áo măng đây

Thoảng thương măng dậy nhớ ngày anh qua./.

                                                                                                              

 

Dưới hầm chữ A

 

Sáng ở hầm

đỉnh chốt hóa nên thơ

Mây ôm ấp bồng bềnh nôi trắng xóa

Mặt đất trụi trần trộn nhào chắp vá

Để lòng sâu chắc khỏe cánh tay rừng

 

Tối ở hầm

đèn dầu vắt sáng bừng

Bấc ống tiêm tạo từ đầu đạn lửa

Sức sáng tạo bật lò so điểm tựa

Soi lòng người lính giữ chốt ung dung

 

Đêm ở hầm

đỉnh chốt cứ rung rinh

Như buồng lái con tàu vũ trụ

Khi bom nổ đất trằn mình không ngủ

Chớp nhoằng không át nổi ánh sao trời

 

Từ hầm sâu những dáng đứng tuyệt vời

Những cánh tay của rừng vạm vỡ

Mặc trên ấy bom rơi đạn nổ

Từng vần thơ nhật ký vẫn sáng đèn.

 

                                                Bắc Kon Tum 1972             

                   

                                  Mắt của pháo

                          Vạch lá rừng chạm phải đẫm sương đêm

Bám phương vị tìm đường voi chiếm lĩnh

Vạc lưỡi dao vào rừng sâu yên tĩnh

Chấm bản đồ một nét nữa  luồn sâu.

 

Chỉ lặng thầm trao ánh mắt cho nhau

Trinh sát thuộc từng lối mòn con suối                                

Dẫu Chư Mom Ray mưa dầm mất lối

Ngọc Bờ Biêng chất độc trụi trơ đồi

 

Khênh lên cao bắn thẳng giữa lưng trời

Điểm giao hội nhằm lá cờ ba sọc

Pháo đối kính chỉnh hướng tầm gang tấc

Bàn đạc xoay đường đạn vút cầu vồng

 

Hầm chữ A đèn dầu vắt sáng bừng

Bom tọa độ pháo đài bay cũng mặc           

Cả tiểu đội xúm quanh bài “càn trọc” *

Đạn liều nguyên từng phát lập chiến công

 

Muỗi vắt nhiều máu lính nhạt khó đông

Sau trận đánh lại phát rừng làm rẫy

Tìm hạt gạo thay lương khô gạo sấy

Nóc nhà âm ấm lại khói Hoàng Cầm

 

B3 ơi ai qua đó một lần

Quên sao được những tháng ngày đánh Mỹ

Mắt của pháo là những người chiến sĩ

Trinh sát hiền như voi quý Tây Nguyên./.

                                                          

                      Đêm kéo pháo *

Trăm cánh tay

Gìm chặt một sợi dây

Gìm chặt lòng căm thù chực cháy

Tiếng hai…ba…lặn sâu vào tận đáy

Lồng ngực như trái đạn chờ bung

Phá nát đồn thù

Bánh pháo nhích từng ly

Chợt loé sáng đèn dù

Đồi gianh níu chân người rạp xuống

Môi mím chặt, tay gồng căng sức nóng

Vít giữ ngàn cân bằng chiến thắng ngày mai.

Hai…ba…nào…

Ta chung sức kề vai./.

       * Kỷ niệm trận Đăk Pét Tháng 5/1974

 

                Qua Hố Bò *

Hành quân qua xóm Hố Bò

Lạ chưa chỉ thấy xác xơ cỗi cằn

Vít vành mũ vải băn khoăn

Giật mình vội tránh vện vằn hố bom

 

Phút dừng chân bóc nắm cơm

Sạn rơi chạm những mảnh bom ố vàng

Nhìn quanh chẳng thấy xóm làng

Mênh mang chỉ thấy tan hoang ruộng vườn

 

Kia rồi một nếp nhà con

Nép mình dưới đáy hố bom sâu dày

Và tiếng bò ấm mê say

Vọng lên cũng ở sâu dày hố bom

 

Giật giành giẻ lúa cọng rơm

Hố Bò sống giữa hố bom quân thù

Xa xa pháo sáng Đồng Dù

Lóe lên rồi lại tối mù trong đêm

 

Pháo ta mai nhé gầm lên

Củ Chi đất thép trung kiên đợi chờ

Một đêm thức với Hố Bò

Thương dân chín đợi mười chờ tự do./.

                                       Kỷ niệm trận Đồng Dù 29/4/1975

                                                       

* Một địa danh gần Củ Chi

 

                        Trận đánh cuối cùng

                              (Tưởng nhớ các liệt sĩ trận Đồng dù 29/4/1975)

 

Trận đánh cuối cùng thần tốc lao nhanh

Lòng địa đạo từng đoàn quân bật nắp

Dàn pháo lớn gầm lên như sấm

Xích xe tăng cuộn tung cát đỏ trời

 

Sư Hai Lăm “Tia chớp” một thời*

Bỗng hoảng loạn rụng rời tháo chạy

Cầu Sáng, cầu Bông quân ta giăng bẫy

Cửa ô bung rộng đón cả quân đoàn

 

Không được đi tới  phút huy hoàng

Không thấy được năm cánh quân rợp đỏ

Anh ngã xuống trước cửa ô Thành phố

Hóa tượng đài chiến dịch sáng ngàn năm

 

Đất thép lại mềm khoai sắn lên xanh

Lòng địa đạo đón từng tua thăm viếng

Rừng cao su phủ Đồng Dù danh tiếng                      

Trận đánh cuối cùng còn nhắc mãi tên anh./.

                                                                                   29/4/2005

                       * Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ

 

Ngã ba hồng

                                     ( Kỷ niệm 40 năm ngày hy sinh của 10 nữ TNXP Đồng Lộc)

Em đi rồi

Mười nón trắng bay lên

Chở mười linh hồn rất trẻ

Chở mười lời thề lặng lẽ

Chở mười nụ hôn trinh nguyên

 

Hố bom thì to dáng em thì nhỏ

Lòng đất đón em như mẹ đón con về

Đường thông rồi xe lại nối đuôi xe

Để lại đằng sau Ngã ba nghẹn ngào thương nhớ

 

Những binh đoàn ngày đêm vẫn đi qua

Nhớ mười cánh tay em vẫy

Thương mười vành nón em nghiêng

Chỉ đồi sim tím mãi nỗi niềm riêng

 

Em chưa một lần yêu, chưa được một lần ghen

Và chưa một lần nói dối

Mười mái tóc đen giữa ngã ba đỏ bụi

Mơ khoả trần tắm gội giữa dòng La

 

Anh trở về xây lại ngã ba xưa

Mười nấm mồ xinh như mười nốt nhạc thanh tân

Tấu lên trời xanh khúc tráng ca bất tử

Mười liệt nữ TNXP bên cây đèn đỏ lửa

Soi ngàn năm huyền thoại Ngã ba Hồng

 

                                                 24/7/2007
     Hành trang hồng

                      (Cảm xúc khi đọc Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc)

Đọc tìm bạn qua từng trang nhật ký

Gặp lại mình năm tháng đã từng qua

Ký ức của một thời chiến sĩ

Hành trang hồng vượt muôn nẻo đường xa

 

Nhớ về một thời tuổi trẻ xông pha

Dép lốp mòn quai mưa dầm gió bấc

Miếng lương khô trộn canh toàn quốc*

Cất cao bài “Anh vẫn hành quân”

 

Nhật ký của bạn Hai mươi tuổi xuân

Hận mảnh đạn cắt ngang đời quân ngũ

Nhưng sao cắt được đời trai hoa lửa

Từng trang hồng như thể mãi hồi sinh

 

Nhật ký chúng mình một thời chiến chinh

Nhuộm triệu bông hồng bằng màu máu đỏ

Xin hãy truyền cho mai sau ngọn lửa

Tuổi hai mươi bất tử núi sông này./.

                                                         4/2005

       * Ý thơ Lê Đức Thọ          

                        Dòng sông đỏ*

Có một dòng sông

Năm tháng vẫn đầy vơi

Nhưng tháng Bảy lại đỏ trào nỗi nhớ

Sông thương ai mà lòng sâu nức nở

Hoa thẫn thờ trôi hương chưa cháy đã tàn

 

Có một dòng sông

Như dòng lệ ắp tràn

Mặn thắt thuyền ai xuôi ngược

Cát đáy sông trộn cốt hình non nước

Xin mang về xây thành cổ giữa lòng ta

 

Có một dòng sông

Đẫm vọng khúc tráng ca

Những nốt nhạc rơi vào lòng  tê buốt

Trời Thạch Hãn soi mặt sông man mác

Cỏ đôi bờ ướt lạnh nỗi…người ơi

 

Có một dòng sông

Như thế vẫn chảy xuôi

Nhận hết về mình bao lở bồi thác lũ

Để đêm ru những linh hồn không ngủ

Gió ngàn năm vỗ mãi khúc sông này./.

                                                        27/7/2007

                                  * Sông Thạch Hãn ở Quảng Trị

 

                Tìm tên cho anh

Tôi đi giữa những hàng bia mộ

Sao vẫn nhiều “liệt sĩ chưa biết tên” ?

Im lặng quá mà lòng như giông tố

Khói hương trầm xin  khấn những hồn thiêng

 

Mộ thẳng hàng tiểu đội vẫn tiến lên

Nhưng chẳng biết ai là A trưởng

Chẳng biết đâu quê cha đất tổ

Chỉ giống nhau ngôi sao đỏ trên đầu

 

Bao nghĩa trang mưa nắng dãi dầu

Bao hàng mộ khuyết danh khuyết quán

Cho nỗi đau trĩu lòng người thăm viếng

Cho tình thương chôn chặt ở chốn này

 

Tôi ước thầm mai này ở nơi đây

Không còn nữa mộ bia chưa tên tuổi*

Chỉ còn một cái tên chung bất tử

Tên anh là : Dáng đứng Việt Nam**./.

                                                                Quảng Trị tháng 7/2011

                      *Hiện còn 35 vạn liệt sĩ chưa xác định được tên tuổi

                      ** Thơ Lê Anh Xuân

Khóc bạn *

                                    

Thế là mày đã đi,

Để lại những tháng năm

Để lại những buồn, vui, lo toan, bươn trải

Để lại ngày xưa vai sần gianh, củi

Để lại đồi sim tím biếc tuổi học trò

Mày đã đi để lại trong tao một thời

Đồng đội thương nhau nơi chiến trường gian khổ

Ngọc Bờ Biêng máu mày nhuốm đỏ **

Chư Mom Ray – ngày sinh nhật tao – hai đứa suýt chẳng về…***

Mày đã đi mang theo cả những lời thề

Trước trận mở màn đánh Ban Mê Thuột

Trước cuộc hành quân về thành phố mang tên Bác

Dưới địa đạo Củ Chi chuân bị đánh Đồng Dù

Mày đã đi, để lại đáy ba lô những xấp thư tình

Để lại ngày xưa câu chuyện về  “cô hàng xóm”

Tao ghen với mày vì được cái ngày xưa ấy

Cả cái ngày tao trở về, không được như mày đi học chốn trời Tây …

Nhưng phận mày lại lận đận đó đây

Bỏ kiếp tha hương trở về gần con gần vợ

Mày tần tảo đong cuộc đời duyên nợ

Vẫn ấm nồng bè bạn thuở hàn vi

Bây giờ thì mày đã đi xa

Vào cõi vĩnh hằng không còn biết lo biết sợ

Chỉ mang theo một ước mơ sau cùng, nho nhỏ

“Trái tim hồng chồng vợ chẳng lìa nhau”

Tao không khóc thành lời, nuốt nước mắt vào trong

Để  nhìn đài hoá thân đưa mày về cõi ấy

Hợp rồi tan sống chết là như vậy

Chốn trần ai thương quá một kiếp người.

Hãy yên bình cõi ấy

Hiệp ơi !                                      

                                           Đội Cấn đêm 23/10/2007

*Nguyễn Văn Hiệp là đồng hương, đồng đội mất vì ung thư 23/10/2007

** Hiệp bị thương trận Đắc Tô – Tân Cảnh 4/1972

*** Ngày 1/1/1973 hai đứa thoát chết sau trận bom chỉ điểm (7 người khác hy sinh)

 

 Anh nằm  nơi nao

Khi chưa cất tiếng chào đời

Lòng mẹ ấm áp là nơi anh nằm

Khi vừa đủ tháng đầy năm

Nôi tre chõng trúc trăng rằm ru anh

Khi vừa độ tuổi xuân xanh

Ru anh cánh võng khúc hành quân xa

Chiến trường lửa đạn xông pha

Trường Sơn đâu cũng là nhà của anh

Làng Vây, Lao Bảo, Khe Sanh

Nam Lào, đường Chín nỡ đành quên sao

Giờ anh nằm ở nơi nao

Rừng hoang hay giữa lao xao gió ngàn

Giữa vô danh gốc bạch đàn

Giữa mộ bia trắng xếp hàng đợi tên

Cầu mong anh được bình yên

Giữa lòng đất Mẹ tuổi tên đâu cần./.

                                                  Tháng 8.2011

 

Phượng đỏ ở Trường Sơn

 

Có một hè rực đỏ

Em dụi chút bụi đường

Làn môi hồng mím chặt

Mắt mọng trào nhớ thương

 

Nơi anh nằm gió sương

Rêu trơn mềm lối vắng

Em nhẹ hơn tia nắng

Sợ thức hồn cố nhân

 

Đường xưa nhão dấu chân

Đường nay nhoè trang viết

Những nấm mồ thân thiết

Nâng gót em tìm về

 

Em hay là mùa hè

Hoá anh thành phượng đỏ

Bừng một màu hoa lửa          

Rụng đầy trang thơ buồn./.

 

                               Nghĩa trang Trường Sơn, Hè 2005

 

Những nốt nhạc trầm

 

Bản nhạc của Trai – Cốp-xki

Hay nhạc của Bétôvel

Có hàng trăm nốt nhạc

Thành bản hòa tấu tuyệt vời

Để biểu diễn chỗ đông người

Và nơi có khán phòng lộng lẫy

 

Bản nhạc của đồng đội tôi

Có hàng ngàn nốt nhạc

Của hàng ngàn số phận

Từ hàng trăm miền quê

Những nốt nhạc như từng giọt thời gian

Xếp thẳng hàng không bao giờ hoen ố

 

Những nốt nhạc đỏ hồng như giọt máu

Chợt bừng lên trong ráng đỏ nắng chiều

Những nốt nhạc luyện từ lửa cháy

Thành từng viên xá lị của đời trai

 

Những nốt trầm bay cao tít trời mây

Tạc vào trời xanh một thời đáng nhớ

Để khuyên nhủ những ai toan tráo trở

Để ru người đừng quên điệu dân ca

 

 

Những nốt trầm trong hương khói cỏ hoa

Im lặng thẳng hàng một màu tinh khiết

Có phải các anh không bao giờ chết

 Khúc quân hành đọng mãi những đồi hoang./.

                                                                Tháng 7/2011

 

Về Quảng Trị

 

Đi gần cuối con đường huyền thoại

Gặp Đông Hà  đỏ nhuyễn trong mưa

Phố mới lấn chen rừng hoa dại

Nhà cao tầng lấp bãi bom xưa

 

Cờ Hiền Lương, đỏ triệu ước mơ

Sông Bến Hải, chở vòng hoa thương nhớ

Dốc Miếu dựng thành tượng đài bất tử

Vịnh Mốc sâu cất giữ kỷ nguyên hùng

 

Đường Chín cong như dáng hạc rồng

Sông ĐăkRông xuân vẫn tràn nhung nhớ

Khe Sanh thắm trời biên giới mở

Lao Bảo bừng phố núi gọi đời lên

 

Thị xã Đông Hà như lạ như quen

Nhà Cổ , phố Xưa, quán Phương Xa đợi

Sông Thạch Hãn vẫn đỏ lòng vẫy gọi

Thành cổ thiêng  nên ngọn cỏ rờn xanh

 

Làng Thanh niên em đến cùng anh

Đất thép Vĩnh Linh  nay thành tổ ấm*

Trường Sơn gọi hay tiếng người xưa dục

Quảng Trị anh hùng vẫn mãi tuổi Hai mươi

 

                                                        22/12/2006

*Làng Thanh niên lập nghiệp Tây Vĩnh Linh

Màu cờ đỏ cháy  

       (Kỷ niệm ngày vào Đảng 29/4/1974)

 

Ngày ấy chúng tôi đi đất nước cháy màu cờ

Tạm biệt bút nghiên những binh đoàn ra trận

Tuổi mười tám nghe tiếng “Tiền tuyến gọi”

Tiếng Bác Hồ và hai tiếng “Miền Nam”

 

Chúng tôi vượt Trường Sơn với sức trẻ bền gan

Mỗi cung đường một trang đời viết vội

Vách chiến hào cờ búa liềm đón đợi

Từng cánh tay lem luốc chắc lời thề

 

Đến với chúng tôi Đảng là những con người

Nhường áo xẻ cơm giữa chiến trường khói lửa

Là ước vọng non sông không còn chia cắt nữa

Là độc lập tự do chân lý sáng ngời

 

Đảng lại bên tôi những năm tháng  cuộc đời

Xuống biển lên rừng áo xanh tình nguyện

Đội ngũ xưa cùng nay hành tiến

Gió phong trào trẻ mãi tuổi hai mươi

 

37 năm qua có nước mắt và nụ cười

Đảng ngày ấy vẫn trong tôi son sắt

Nay được – mất dẫu chỉ trong gang tấc

Kỷ niệm xưa chẳng dễ  phai mờ./.

                                                       

                                                           Tháng 4/2007  

 

                          Ngược thời gian

Ngược thời gian

Gặp lại những con đường

Gặp lại những đoàn quân vẫn đi trong mây gió

Gặp lại những dấu chân của  một thời hoa đỏ

Gặp mộ bia hóa thạch giữa đất trời

 

Ngược thời gian

Gặp lại tuổi hai mươi

Gặp lại giấc mơ trên võng mềm mắc vội

Gặp lại trang thư tình bối rối

Gặp niềm tin son sắt đợi chờ 

 

Ngược thời gian

Sẽ gặp lại những lời thề

Nhọn và sắc như lưỡi lê bật sáng

Những mái đầu xanh bên mái đầu bạc trắng

Chung chiến hào không so tính thiệt hơn

 

Ngược thời gian

Vẫn gặp nhữngnỗi đau thịt da

Nhưng không thấy nỗi buồn nhân thế

Đồng đội ơi  hãy quên đi dâu bể

Tựa vào ngày xưa hát mãi khúc quân hành./.                 

                                                      2012