GEORGE ORWELL – TRẠI SÚC VẬT (Toàn bộ tác phẩm)

GEORGE ORWELL

George Orwell (1903-1950)

TRẠI SÚC VẬT

Phạm Nguyên Trường dịch

Lời giới thiệu của người dịch

Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và Ukraine. Sau hơn 50 năm, kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31.

Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell xin giới thiệu Trại Súc Vật, một trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông với lời tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Ukraine do chính Orwell viết. Lời tựa này được Orwell viết bằng tiếng Anh (bản gốc đã bị thất lạc), theo đề nghị của người tổ chức dịch thuật và phân phối tác phẩm này cho những người Ukraine chạy trốn chế độ Xô viết và sống trong các trại tạm cư do quân đội Anh và Mĩ thiết lập trên đất Đức. Lời tựa được dịch sang tiếng Ukraine dành cho lần xuất bản đầu tiên vào năm 1947, nhà sách Penguin Classic trong lần xuất bản năm 2000 đã cho dịch lại và in kèm với lời giới thiệu của Malcolm Bradbury.

Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt.

LỜI GIỚI THIỆU CỦA GEORGE ORWELL CHO LẦN XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG UKRAINE

Tôi được yêu cầu viết lời giới thiệu cho bản dịch tác phẩm Trại Súc Vật sang tiếng Ukraine. Tôi nhận thức rõ rằng tôi đang viết cho những độc giả mà tôi không có một chút hiểu biết nào và họ cũng chưa từng có cơ hội tìm hiểu tôi.

Trong lời giới thiệu chắc chắn độc giả muốn tôi kể về quá trình sáng tác tác phẩm Trại Súc Vật, nhưng trước tiên tôi muốn tự kể về mình và những trải nghiệm đã dẫn tôi đến quan điểm chính trị hiện nay.

Tôi sinh năm 1903 tại Ấn Độ. Lúc đó, cha tôi là một viên chức trong bộ máy hành chính Anh quốc ở đấy, gia đình tôi thuộc tầng lớp trung lưu, gồm các quân nhân, tu sĩ, viên chức chính phủ, giáo sư, luật sư, bác sĩ v.v… Tôi tốt nghiệp trung học tại Eton, một trường công lập thuộc loại đắt nhất nước Anh thời đó. Nhưng tôi được vào học ở đây là do được nhận học bổng, chứ cha tôi không thể có tiền để gửi tôi vào học những trường như thế.

Ngay sau khi thôi học (lúc đó tôi chưa đủ 20 tuổi) tôi đi Miến Điện và tham gia lực lượng cảnh sát Hoàng gia tại đây. Tôi làm ở đó năm năm. Việc này hoàn toàn không hợp với tôi, tôi trở nên căm ghét chủ nghĩa đế quốc, mặc dù lúc đó tinh thần quốc gia ở Miến Điện chưa cao và quan hệ giữa người Anh và người Miến cũng chưa đến nỗi nào. Sau khi về lại Anh quốc vào năm 1927, tôi giải ngũ và bắt đầu viết văn: thời gian đầu không có thành công đáng kể nào. Trong những năm 1928-1929, tôi sống ở Paris, chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng không có nhà xuất bản nào chịu in (tôi đã xé bỏ hết). Những năm sau đó tôi phải tay làm hàm nhai, đôi khi phải nhịn đói. Chỉ từ năm 1934 tới nay tôi mới sống được bằng ngòi bút. Trong thời gian này, tôi đã sống nhiều tháng giữa những người nghèo khổ và bất hảo, ăn xin và ăn cắp tại những khu vực tồi tệ nhất của những khu phố nghèo. Lúc đầu tôi phải nhập bọn với họ vì không có tiền, nhưng sau này tôi lại rất thích lối sống đó. Tôi đã dành nhiều tháng trời để nghiên cứu đời sống thợ mỏ ở miền Bắc nước Anh. Cho đến năm 1930, nói chung, tôi vẫn chưa phải là người theo phái xã hội. Thực ra, tôi vẫn chưa xác định được quan điểm chính trị của mình. Tôi trở thành người theo trường phái xã hội vì căm thù cách người ta đàn áp và khinh thường tầng lớp công nhân công nghiệp nghèo khổ chứ không phải vì thán phục xã hội theo kế hoạch hoá về mặt về mặt lí luận.

Tôi lập gia đình năm 1936. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra ngay trong những ngày đó. Hai vợ chồng tôi đều muốn đi Tây Ban Nha để chiến đấu cho chính phủ nước này. Chúng tôi sẵn sàng lên đường, sáu tháng sau đó, khi tôi viết xong cuốn sách mà tôi đã khởi sự từ trước. Tôi đã ở mặt trận Aragon gần Huesca sáu tháng liền, cho đến khi bị một phát đạn bắn tỉa xuyên qua cổ.

Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, những người ngoại quốc hoàn toàn không hiểu được cuộc đấu tranh giữa các đảng phái ủng hộ chính phủ Tây Ban Nha. Do một loạt sự tình cờ, tôi không tham gia các Binh đoàn Quốc tế như đa số những người ngoại quốc khác mà chiến đấu trong hàng ngũ của lực lượng vũ trang POUM, đảng của những người theo phái Troskist Tây Ban Nha.

Vì vậy, giữa năm 1947 khi những người Cộng sản nắm được quyền kiểm soát (hay một phần quyền kiểm soát) chính phủ Tây Ban Nha và bắt đầu săn đuổi những người Troskist thì cả hai vợ chồng tôi đều trở thành nạn nhân. Chúng tôi may mắn đi khỏi được Tây Ban Nha, thậm chí không bị bắt lần nào. Nhiều bạn bè của chúng tôi đã bị bắn bỏ, một số bị tù đày nhiều năm, số khác thì mất tích.

Những cuộc săn người ở Tây Ban Nha xảy ra đồng thời với những cuộc thanh trừng vĩ đại ở Liên Xô. Thực chất những vụ thanh trừng ở Tây Ban Nha và ở Nga chỉ là một (gọi là âm mưu với bọn phát xít) và nếu nói về Tây Ban Nha thì tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đấy là những vụ kết án oan. Qua đó, tôi đã nhận được một bài học đắt giá: nó dạy tôi rằng bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị dễ dàng lèo lái dư luận ở những nước dân chủ đến mức nào.

Hai vợ chồng tôi đã chứng kiến những người vô tội bị quẳng vào nhà giam chỉ vì họ bị nghi là không theo đường lối chính thống. Khi trở về Anh, chúng tôi thấy rất nhiều người thạo tin và nhạy bén tin vào những bản án kì quặc về âm mưu phản bội và phá hoại do báo chí tường thuật từ những vụ án ở Moscow.

Và tôi thực sự hiểu ra ảnh hưởng tiêu cực của huyền thoại Xô viết đối với phong trào xã hội ở phương Tây.

Đến đây tôi xin dừng lại một chút để trình bày thái độ của tôi đối với chế độ Xô viết.

Tôi chưa đến thăm Nga bao giờ và hiểu biết của tôi về nước Nga chỉ là kiến thức do thu lượm được từ báo chí, sách vở. Ngay cả nếu có đủ sức tôi cũng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô: tôi sẽ không kết án Stalin và các cộng sự của ông ta chỉ vì những phương pháp dã man và phi dân chủ của họ. Có thể là trong những điều kiện như thế, dù có muốn, họ cũng không thể hành động khác được.

Nhưng mặt khác, đối với tôi, điều cực kì quan trọng là nhân dân Tây Âu phải nhận rõ chế độ Xô viết như nó đang là. Từ năm 1930, tôi nhìn thấy rất ít bằng chứng là Liên Xô đang tiến đến cái có thể thực sự gọi là Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, có những chỉ dấu rõ ràng rằng xã hội ấy đang chuyển hoá thành xã hội có tôn ti trật tự và những người cầm quyền, cũng như mọi giai cấp cầm quyền khác, chẳng thấy có lí do gì để rời bỏ quyền lực, đã làm tôi choáng váng. Hơn nữa, công nhân và trí thức ở những nước như Anh quốc lại không hiểu rằng Liên Xô hôm nay đã khác hẳn Liên Xô năm 1917. Một phần vì họ không chịu hiểu (nghĩa là họ muốn tin rằng có một nước xã hội chủ nghĩa quả thực đang tồn tại ở đâu đó), một phần vì họ quen với cuộc sống tự do và ôn hoà, họ không biết gì về chủ nghĩa toàn trị.

Cần phải nhớ rằng nước Anh chưa phải là nước hoàn toàn dân chủ. Đây vẫn là nước tư bản với những đặc quyền đặc lợi giai cấp (ngay cả bây giờ, sau cuộc chiến tranh có xu hướng làm cho mọi người bình đẳng hơn) và sự chênh lệch gay gắt về tài sản. Nhưng dù sao, ở đây người dân đã có cuộc sống không có những xáo trộn lớn suốt mấy trăm năm qua, luật pháp tương đối công chính, tin tức và số liệu của chính quyền có thể tin được và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là người ta có thể giữ và ủng hộ quan điểm của thiểu số mà không bị bất kì đe dọa chết người nào. Trong hoàn cảnh như vậy người ta không thể nào hiểu được những hiện tượng như trại tập trung, cưỡng ép di cư hàng lọat, bỏ tù không cần xét xử, kiểm duyệt báo chí v.v… Tất cả những điều đọc được trên báo chí về những nước như Liên Xô được tự động phiên dịch sang các thuật ngữ của nước Anh và họ ngây thơ tin ngay những điều dối trá của bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị đó. Cho đến năm 1939, và cả sau này nữa, đa số người Anh không hiểu được thực chất chế độ phát-xít ở Đức và nay họ cũng có ảo tưởng tương tự như vậy đối với Liên Xô.

Điều đó đặc biệt có hại đối với phong trào Xã hội Anh và gây hậu quả xấu đối với chính sách đối ngoại của nước Anh. Theo tôi, tin rằng nước Nga là nước xã hội chủ nghĩa và mọi hành vi của những người cầm quyền ở đó đều nên được tha thứ, nếu không nói là phải theo, là sự phản bội đối với lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong mười năm gần đây tôi đã đi đến kết luận rằng phá tan huyền thoại Xô viết là việc làm vô cùng cần thiết, nếu ta muốn tái sinh phong trào xã hội chủ nghĩa.

Ngay sau khi trở về từ Tây Ban Nha tôi đã nghĩ đến việc vạch trần huyền thoại Xô viết dưới dạng một câu chuyện dễ hiểu và dễ dịch sang các thứ tiếng khác. Nhưng chi tiết của câu chuyện vẫn chưa có, cho đến một hôm (khi đó tôi sống ở nông thôn) tôi trông thấy một cậu bé, khoảng mười tuổi, đang đánh một chiếc xe ngựa to trên một con đường hẹp, cứ mỗi lần con ngựa định quay ngang là cậu bé lại ra roi. Trong đầu tôi bỗng loé lên ý nghĩ rằng nếu loài vật nhận thức được sức mạnh của chúng thì con người không thể nào còn điều khiển được chúng nữa và con người bóc lột loài vật cũng hệt như các tầng lớp hữu sản bóc lột giai cấp vô sản vậy.

Tôi tiến hành phân tích học thuyết của Marx trên quan điểm của súc vật. Đối với loài vật thì rõ ràng là luận điểm về đấu tranh giai cấp giữa người với người chỉ là một sự lừa mị, vì mỗi khi cần bóc lột súc vật là tất cả mọi người lại đoàn kết với nhau để chống lại chúng: cuộc đấu tranh thực sự là cuộc đấu tranh giữa loài vật và loài người. Từ đây việc tạo ra tác phẩm không còn khó nữa. Tôi bận nhiều việc khác, không có thì giờ, cho nên mãi đến năm 1943 tôi vẫn chưa bắt đầu viết truyện này và cuối cùng tôi đã đưa thêm một số sự kiện, thí dụ như Hội nghị Teheran là sự kiện xảy ra trong thời gian tôi viết. Như vậy là đường hướng chính của câu chuyện đã nằm trong đầu tôi suốt sáu năm, trước khi tôi thực sự đưa nó lên mặt giấy.

Tôi không có ý bình luận tác phẩm, nếu tác phẩm không có sức thuyết phục thì có nghĩa là tác phẩm ấy đã thất bại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai điểm: thứ nhất, mặc dù nhiều tình tiết được lấy từ lịch sử của cuộc Cách mạng Nga, nhưng chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và trật tự đã được thay đổi cho cân đối với cốt truyện. Điểm thứ hai thường bị các nhà phê bình bỏ qua, nguyên nhân có thể là vì tôi chưa nhấn đúng mức. Nhiều độc giả sau khi đọc xong có cảm tưởng rằng cuốn sách đã dừng lại ở sự hoà giải hoàn toàn giữa loài lợn và loài người. Nhưng đấy không phải là ý của tôi, ngược lại, tôi cố ý kết thúc ở chỗ chỉ rõ sự bất hoà, vì tôi viết chuyện này ngay sau Hội nghị Teheran, mọi người lúc đó đều nghĩ rằng Hội nghị này sẽ thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể có giữa Liên Xô và phương Tây. Cá nhân tôi không tin rằng quan hệ tốt đẹp đó có thể kéo dài được lâu, và như các sự kiện cho thấy, tôi đã không lầm.

Tôi không biết phải nói gì thêm nữa. Nếu độc giả nào quan tâm đến cá nhân tôi thì tôi xin nói thêm rằng tôi đã goá vợ, hiện tôi đang sống với con trai ba tuổi, tôi là nhà văn chuyên nghiệp, nhưng từ khi bắt đầu cuộc chiến thì tôi làm việc chủ yếu như một phóng viên.

Tôi thường viết cho tờ Tribune, một tờ tuần báo đại diện cho phái tả của đảng Lao động. Những cuốn sách sau đây của tôi có thể được độc giả quan tâm: Những ngày ở Miến điện (câu chuyện về Miến điện), Tưởng nhớ Catalonia (viết về những trải nghiệm của tôi trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha) và tác phẩm Phê bình (các bài viết về văn học đương đại Anh, được viết chủ yếu từ quan điểm xã hội học hơn là quan điểm thuần tuý văn chương).

1947

Chương I

Ông Jones, chủ Điền Trang đóng cửa chuồng gà, nhưng vì say quá nên quên đóng cửa chuồng lợn. Với chiếc đèn bão trong tay, đung đưa, khi sang phải, khi sang trái, ông lảo đảo đi qua sân, tới cửa sau thì lấy chân đạp ủng ra và bước vào bếp để uống nốt vại bia cuối cùng trong ngày rồi leo lên giường, nơi vợ ông, bà Jones đã ngáy khò khò.

Ngay khi đèn trong phòng ngủ vừa tắt, đây đó bỗng dậy lên những tiếng sột soạt, thì thầm. Ngày hôm đó có tin đồn rằng Thủ Lĩnh, một con lợn đực trắng, từng được huy chương trong một cuộc triển lãm, đêm hôm trước có một giấc mơ kì lạ và muốn kể cho mọi loài cùng nghe. Chúng thoả thuận với nhau là ngay sau khi ông Jones đi ngủ thì sẽ tập trung trong nhà kho lớn. Tất cả các con vật trong trang trại đều kính trọng Thủ Lĩnh (chúng gọi nó như vậy, mặc dù khi đi dự triển lãm nó có tên là Willingdon Điển Trai) và sẵn sàng hi sinh giấc ngủ để được nghe nó nói chuyện.

Thủ Lĩnh ngồi trên một cái bục có nệm rơm phía trong cùng nhà kho, dưới ánh sáng của chiếc đèn bão treo trên xà nhà. Nó đã mười hai tuổi, mặc dù thời gian gần đây có béo thêm, với những chiếc răng nanh thò cả ra, nhưng trông nó vẫn có vẻ tiên phong đạo cốt, phúc hậu. Những con khác bắt đầu lục tục kéo tới, mỗi con tìm một chỗ ngồi thuận lợi. Đầu tiên là ba con chó Bluebell, Jessie và Pincher, sau đó là lũ lợn; chúng ngồi trên đống rơm phía trước bục. Lũ gà leo lên bậu cửa sổ, đám bồ câu đậu trên rui mè, bọn bò và cừu nằm phía sau lũ lợn và bắt đầu công việc nhai lại của chúng. Hai con ngựa kéo xe tên là Chiến Sĩ và Bà Mập cùng vào, từ từ lại gần cái bục, trước mỗi bước, chúng đều thận trọng quan sát để không giẫm bẹp một con thú nhỏ nào ở bên dưới lớp rơm. Bà Mập, một con ngựa cái trung niên hiền lành, thân hình đã sồ sề vì bốn lần sinh nở. Chiến Sĩ, một con tuấn mã cao đến gần hai mét và khoẻ bằng hai con ngựa khác. Vì có một vệt trắng dọc sống mũi nên trông nó có vẻ đần, thực ra cu cậu cũng không thuộc loại thông minh, nhưng bù lại, nó được các con khác tôn trọng vì tính kiên định và hay lam hay làm. Sau đó là đến con dê trắng tên là Mona và con lừa tên là Benjamin. Benjamin là con vật già nhất bọn, nhưng cũng là con xấu tính nhất. Benjamin ít nói, nhưng hễ mở miệng là y như rằng nó tìm cách giễu cợt, ví dụ có lần nó tuyên bố rằng Thượng Đế tạo cho nó cái đuôi để đuổi ruồi, nhưng giá đừng có cả đuôi lẫn ruồi thì còn thích hơn. Nó là con vật duy nhất không bao giờ cười. Nếu hỏi tại sao thì nó bảo: chẳng có lí do gì. Mặc dù vậy và tuy không nói ra, nhưng nó rất trung thành với Chiến Sĩ, chủ nhật nào hai con cũng yên lặng gặm cỏ bên nhau ở bãi giữ ngựa phía sau khu vườn.

Hai con ngựa vừa nằm xuống thì bầy vịt con mồ côi lao vào nhà kho, chúng vừa kêu chiếp chiếp khe khẽ vừa chạy loanh quanh, mong tìm một chỗ an toàn. Bà Mập lấy chân trước khoanh thành một khu cho chúng, lũ vịt con mau chóng chui vào đó rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Ngay trước khi buổi nói chuyện bắt đầu thì Mollie, một ả ngựa cái dốt nát, màu trắng, chuyên kéo chiếc xe nhỏ của ông Jones, vừa đi vừa nhai một cục đường, mới õng ẹo bước vào. Nó lập tức chiếm ngay vị trí phía trước cái bục và lắc lư bờm để mong những con khác chú ý đến dải ruy băng đỏ trang điểm trên đó. Cuối cùng là một con mèo, nó nhìn quanh và vẫn như mọi khi, cố tìm cho mình một chỗ thật ấm, rồi chen vào nằm giữa Chiến Sĩ và Bà Mập, chị chàng sung sướng phát ra những tiếng gừ… gừ… trong cổ họng, mặc Thủ Lĩnh muốn nói gì thì nói.

Thế là tất cả các con vật trong Điền Trang đã có mặt đầy đủ, chỉ trừ con quạ Moses, nó ngủ trên hàng rào ngay bên ngoài cửa sau. Khi Thủ Lĩnh thấy tất cả đã an vị và sẵn sàng lắng nghe thì húng hắng ho lấy giọng và bắt đầu:

“Thưa các đồng chí! Như các đồng chí đã biết, đêm qua tôi có một giấc mơ kì lạ. Nhưng tôi sẽ nói chuyện đó sau. Đầu tiên tôi muốn nói với các đồng chí một số việc hoàn toàn khác. Thưa các đồng chí, tôi nghĩ rằng tôi không ở lại với các đồng chí được bao lâu nữa, vì vậy tôi cho rằng trước khi chết mình phải có trách nhiệm chia sẻ với các đồng chí những kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy được trong suốt cuộc đời mình. Tôi đã có một cuộc đời phải nói là dài và tôi đã suy nghĩ rất nhiều khi nằm một mình trong chuồng, tôi nghĩ rằng tôi có thể nói là tôi hiểu đời không thua bất kì con vật nào trên thế gian này. Đó là điều tôi muốn nói với các đồng chí.

Bây giờ, thưa các đồng chí, thực chất đời sống của chúng ta là gì? Chúng ta hãy nhìn thẳng vào sự thật. Cuộc đời của chúng ta là khổ sai, khốn nạn và yểu mệnh. Chúng ta sinh ra, chúng ta được một khẩu phần vừa đủ để khỏi chết vì đói, những con nào có thể làm thì phải làm đến kiệt sức và khi không làm được nữa thì chúng ta bị giết một cách vô cùng dã man, tàn bạo. Không có con vật nào ở nước Anh này biết đến hạnh phúc và niềm vui ngay khi vừa tròn một tuổi. Không có con vật nào ở nước Anh này được tự do. Cuộc sống của loài vật là cuộc sống nghèo khổ và nô lệ: sự thật trần trụi là như thế đấy.

Nhưng đấy có phải là qui luật của tự nhiên không? Chả lẽ nước ta lại nghèo đến độ không nuôi nổi những động vật sống ở đây ư? Không, ngàn vạn lần không, thưa các đống chí. Đất Anh màu mỡ, thời tiết thuận hòa, thừa sức cung cấp thức ăn cho một số lượng động vật lớn hơn hiện nay rất nhiều. Chỉ nội cái trang trại của chúng ta đã có thể nuôi được một tá ngựa, hai chục bò, hàng trăm cừu và tất cả đều có thể sống trong tiện nghi và phẩm giá mà nay chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi. Thế thì tại sao chúng ta lại cứ tiếp tục sống trong điều kiện khốn nạn thế này? Bởi vì hầu như toàn bộ những gì chúng ta làm ra đều bị con người chiếm đoạt hết. Đấy là nguyên nhân tất cả các vấn nạn của chúng ta. Nói ngắn gọn bằng một từ là: Con Người. Con Người là kẻ thù của chúng ta. Nếu không còn người nữa thì chúng ta vĩnh viễn sẽ không còn bị đói, không còn phải làm công việc khổ sai nữa.

Người là giống vật duy nhất chỉ ăn mà không làm. Người không làm ra sữa, không đẻ ra trứng, người không thể kéo cày, không chạy nhanh bằng thỏ. Nhưng nó lại là chủ của tất cả chúng ta. Nó bắt chúng ta làm việc, cướp lấy mọi thành quả lao động của chúng ta, chỉ cho chúng ta ăn vừa đủ để không chết đói mà thôi. Chúng ta phải cày bừa, phân chúng ta bón ruộng, thế mà chúng ta có gì? Chẳng có gì ngoài da bọc xương. Các đồng chí bò đang ngồi trước mặt tôi đây, năm vừa qua các đồng chí cho bao nhiêu lít sữa? Thế số sữa mà đáng lẽ dùng để nuôi các chú bò con ấy đi đâu? Kẻ thù của chúng ta đã uống đến giọt cuối cùng. Còn các bạn gà, năm vừa qua các bạn đã đẻ bao nhiêu trứng, trong đó có bao nhiêu quả nở thành gà con? Lão Jones và gia nhân đã mang ra chợ bán lấy tiền hết rồi. Bà Mập, bốn đứa con của bà, niềm vui và chốn nương tựa lúc tuổi cao bóng xế của bà đâu rồi? Chúng đã bị đem bán khi vừa tròn một tuổi, bà sẽ không bao giờ được gặp lại chúng nữa. Một khẩu phần ăn chết đói và cái chuồng, công cho bốn lần vượt cạn cũng như công việc đồng áng của bà chỉ có thế mà thôi!

Nhưng dù khốn nạn như thế chúng ta cũng có được sống trọn tuổi trời đâu. Riêng tôi thì chẳng có gì phải phàn nàn, vì thực ra tôi đã gặp may. Năm nay tôi đã mười hai tuổi rồi, tôi có hơn bốn trăm đứa con. Trời đất sinh ra giống lợn là như thế. Nhưng cuối cùng thì cũng chẳng có con vật nào thoát khỏi lưỡi dao oan nghiệt. Tất cả các bạn lợn thịt đang ngồi trước mặt tôi đây, trong vòng một năm nữa tất cả các bạn sẽ phải từ giã cõi đời trên tấm phản mổ. Tất cả chúng ta, bò, lợn, gà, cừu, không ai trong chúng ta tránh khỏi cái kết cục khủng khiếp đó. Số phận của loài ngựa và loài chó cũng chẳng tốt đẹp hơn. Đồng chí Chiến Sĩ nữa, ngay khi cơ bắp của đồng chí vừa yếu đi thì lão Jones sẽ bán đồng chí cho lão mổ ngựa, hắn sẽ cắt cổ đồng chí rồi hầm dừ cho lũ chó săn ăn. Những con chó già, rụng răng sẽ bị lão Jones buộc một viên gạch vào cổ và quăng xuống hồ.

Thưa các đồng chí, chả lẽ các đồng chí không thấy rằng tất cả mọi khổ đau trong cuộc đời này của chúng ta chính là do con người mà ra hay sao? Nếu chúng ta loại bỏ được Con Người thì mọi thành quả lao động của chúng ta sẽ thuộc về chúng ta. Nếu làm được thế thì chỉ sau một đêm chúng ta sẽ trở nên giàu có và tự do. Thế thì chúng ta phải làm gì? Làm việc, không kể ngày đêm, cả bằng sức mạnh và tài năng để lật đổ ách thống trị của loài người! Khởi nghĩa! Các đồng chí – đấy là thông điệp của tôi. Tôi không biết khi nào thì cuộc Khởi Nghĩa sẽ xảy ra, có thể trong tuần tới, cũng có thể là một trăm năm nữa, nhưng tôi biết rõ, như tôi đang nhìn thấy những cọng rơm bên dưới chân tôi đây rằng sớm muộn gì rồi công bằng cũng sẽ được thiết lập. Các đồng chí hãy nghĩ đến điều đó trong suốt cuộc đời còn lại ngắn ngủi của mình! Ngoài ra, hãy chuyển thông điệp của tôi đến các thế hệ tương lai, để các thế hệ đó tiếp tục cuộc đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng.

Các đồng chí hãy kiên định. Không được dao động. Đừng có nghe theo lời tuyên truyền rằng Con Người và các loài vật cùng có chung quyền lợi, rằng sự thịnh vượng của loài này cũng là sự thịnh vượng của loài kia. Bịp bợm hết. Con Người không quan tâm đến quyền lợi của ai, nó chỉ quan tâm đến chính nó mà thôi. Các loài vật chúng ta phải đoàn kết nhất trí, phải có tinh thần đồng chí trong cuộc đấu tranh này. Tất cả loài người đều là kẻ thù. Tất cả các con vật đều là đồng chí.”

Đúng lúc đó thì tiếng ồn ào nổi lên. Chả là trong khi Thủ Lĩnh đang nói thì có bốn con chuột cống bò ra khỏi hang và cũng đến nghe. Mấy con chó đã trông thấy và may là lũ chuột kịp chạy vào hang, không thì đã mất mạng rồi. Thủ Lĩnh phải giơ chân lên đề nghị im lặng.

“Thưa các đồng chí”, nó nói, “có một vấn đề cần phải giải quyết. Những con thú hoang như chuột cống và thỏ, chúng là bạn hay là kẻ thù của chúng ta? Đề nghị biểu quyết. Tôi xin đặt vấn đề với hội nghị như sau: Chuột có phải là đồng chí không?”

Cuộc bỏ phiếu được thực hiện ngay, đa số tán thành coi chuột là đồng chí. Chỉ có bốn phiếu chống, đấy là ba con chó và một con mèo, nhưng sau này mới phát hiện ra rằng mèo ta bỏ cả phiếu thuận lẫn phiếu chống. Thủ Lĩnh tiếp tục:

“Tôi xin nói thêm một chút nữa. Tôi chỉ muốn nhắc lại rằng nhiệm vụ của các đồng chí là phải luôn luôn tranh đấu với Con Người và tất cả những gì do nó tạo ra. Tất cả những loài hai chân đều là kẻ thù. Tất cả những loài bốn chân hoặc có cánh đều là bạn. Các đồng chí lại phải luôn luôn nhớ rằng chúng ta không được bắt chước loài người trong cuộc đấu tranh chống lại chúng. Ngay cả khi đã chiến thắng, chúng ta cũng không được tập nhiễm các thói xấu của chúng. Không có con vật nào được sống trong nhà, ngủ trên giường, mặc quần áo, uống rượu, hút thuốc, sử dụng tiền hoặc tham gia buôn bán. Tất cả phong tục của loài người đều là có hại. Quan trọng nhất là không con nào được áp chế con nào. Khoẻ cũng như yếu, thông minh tài trí cũng như bình thường, tất cả chúng ta đều là anh em. Không được giết hại lẫn nhau. Mọi con vật sinh ra đều bình đẳng.

Và bây giờ, thưa các đồng chí, tôi sẽ kể cho các đồng chí nghe giấc mơ của tôi tối hôm qua. Tôi không thể mô tả được. Tôi mơ thấy trái đất khi con người đã biến đi rồi. Giấc mơ này làm sống dậy trong trí tôi một việc như sau:

Cách đây đã lâu, khi tôi còn là một chú lợn nhỏ, mẹ tôi cùng với các cô bác lợn khác thường hát một bài hát có từ ngày xưa: họ chỉ nhớ nhạc điệu và ba từ đầu tiên thôi. Lúc bé tôi cũng thuộc nhạc điệu, nhưng tôi đã quên từ lâu. Thế mà đêm qua, trong giấc mơ, tôi đã nhớ lại tất cả, hơn thế nữa, tôi còn nhớ lại được cả lời bài hát, tôi tin chắc rằng ngày xưa các loài vật đã từng hát như thế, nhưng sau này họ quên và mấy thế hệ gần đây thì hoàn toàn không biết hát nữa. Bây giờ tôi sẽ hát cho các đồng chí nghe. Tôi đã già, giọng không còn trong, nhưng khi tôi dạy nhạc điệu cho các đồng chí thì các đồng chí sẽ hát hay hơn. Bài hát tên là: Súc Sinh Anh quốc”.

Thủ lĩnh già hắng giọng và bắt đầu hát. Giọng đúng là đã khàn, nhưng nó hát cũng không đến nỗi tồi, giai điệu hỗn hợp giữa kiểu “Clementine” và “La Cucuracha”. Lời bài hát như sau:
“Súc sinh Anh quốc
Súc sinh muôn nơi
Lắng nghe niềm vui mới
Của một ngày mai sáng tươi

Đồng cỏ núi đồi
Mãi mãi xanh ngời
Khi lũ người
Không còn là ách trên vai

Chạc, chạc không còn
Cương, cương cũng không
Roi vọt, chửi mắng
Chỉ là quá khứ tối tăm

Ta giàu, ta có
Vườn cây, đồng lúa
Đậu, sắn, ngô, khoai
Là của chúng ta từ đây

Mặt trời sáng soi
Nước càng ngọt tươi
Gió mát muôn đời
Là ngày tự do tương lai

Súc sinh Anh quốc
Súc sinh muôn nơi
Lắng nghe niềm vui mới
Của một ngày mai sáng tươi”

Bài hát đã làm cho lũ súc vật kích động tột độ. Một số con kịp bắt theo ngay trước khi Thủ lĩnh hát hết bài. Ngay những con ngu dốt nhất cũng nắm được nhạc điệu và thuộc mấy từ, còn những con thông minh hơn, như lũ chó và lũ lợn, thì thuộc lòng cả bài ngay trong vài phút đầu. Sau vài lần tập, cả trang trại đã cùng đồng ca được bài Súc Sinh Anh quốc. Mỗi loài hát một giọng, bò rống, chó sủa, cừu kêu be be, ngựa hí, vịt kêu cạp cạp. Chúng khoái bài hát đến độ hát liền một mạch năm lần và chúng có thể hát mãi như thế suốt đêm nếu không bị ngăn trở.

Đáng tiếc là tiềng ồn ào đã làm ông Jones thức giấc, ông bước xuống giường vì tin chắc là có một con cáo đã lọt vào sân. Ông tìm khẩu súng vẫn thường dựng ở góc phòng và bắn một lọat đạn ghém lên trời. Có mấy viên găm vào tường nhà kho và cuộc họp mau chóng kết thúc. Từng con quay về chỗ ngủ của mình. Gia cầm nhảy lên ổ, còn gia súc thì nằm xuống đống rơm và chẳng bao lâu sau cả trang trại đã chìm vào giấc ngủ.

Chương II

Ba đêm sau, Thủ Lĩnh già bình thản ra đi. Xác nó được chôn ở cuối khu vườn.

Chuyện đó xảy ra vào đầu tháng ba. Lũ súc vật tăng cường hoạt động ngầm liên tục trong ba tháng tiếp theo. Bài diễn văn của Thủ Lĩnh đã tạo ra một quan niệm sống hoàn toàn mới nơi những con thông minh. Chúng không biết khi nào thì cuộc Khởi Nghĩa mà Thủ Lĩnh tiên đoán sẽ xảy ra, chúng cũng không nghĩ sẽ được chứng kiến cảnh tượng đó, nhưng chúng biết rõ một điều là có trách nhiệm tiến hành công việc chuẩn bị. Công tác giáo dục và tổ chức dĩ nhiên là được giao cho bọn lợn vì chúng vốn được coi là loài thông minh nhất. Hai con lợn đực giống trẻ tên là Tuyết Tròn và Napoleon đang được ông Jones vỗ béo để bán là hai con nổi tiếng nhất. Napoleon là một con lợn đực, trông hung dữ, giống Berkshire duy nhất trong Điền Trang, nó vốn kiệm lời nhưng nổi tiếng kiên nhẫn. Tuyết Tròn thì hoạt bát, dẻo miệng hơn, có nhiều sáng kiến hơn, nhưng đa số cho rằng tính cách không được sâu sắc bằng Napoleon. Số còn lại đều là lợn thịt. Con nổi bật nhất trong số đó tên là Chỉ Điểm, một con lợn nhỏ, khá béo nhưng lanh lợi, hai má phính, đôi mắt đảo lia lịa, còn giọng nói thì the thé. Nó là một diễn giả có hạng, khi cần chứng minh một vấn đề khó khăn thì nó nhảy qua nhảy lại và vẫy đuôi, trông rất thuyết phục. Đồn rằng nó có thể biến đen thành trắng dễ như chơi.

Trại Súc Vật, Phạm Nguyên Trường dịch

Ba con này đã phát triển học thuyết của Thủ Lĩnh già thành một hệ thống triết học hoàn chỉnh mà chúng gọi là Súc Sinh Kinh. Đêm nào cũng vậy, cứ sau khi ông Jones đi ngủ là chúng bí mật tụ họp trong nhà kho để giảng giải cho những con khác các luận điểm chủ yếu của Súc Sinh Kinh. Thoạt đầu quả là có nhiều khó khăn vì lũ súc vật tỏ ra hờ hững và rất ngu dốt. Có con nói rằng có nghĩa vụ trung thành với ông Jones mà nó gọi là ông chủ, có con còn phát biểu một cách thiếu ý thức: “Ông Jones nuôi chúng ta. Không có ông ấy thì ta chết đói rã họng ra ấy chứ”. Một số con còn đặt câu hỏi đại loại: “Quan tâm đến chuyện sau khi ta chết để làm gì?” hoặc “Đằng nào thì cuộc khởi nghĩa cũng sẽ diễn ra, ta làm hay không làm thì cũng thế thôi”. Mấy con lợn phải khó khăn lắm mới thuyết phục được chúng rằng những luận điệu như thế là hoàn toàn trái với tinh thần của Súc Sinh Kinh. Nhưng những câu hỏi ngu xuẩn nhất lại là của ả ngựa cái màu trắng tên là Mollie. Đầu tiên ả hỏi Tuyết Tròn:

“Thế sau khi khởi nghĩa thì có đường không?”

“Không”, Tuyết Tròn ngắt lời, “Chúng ta không sản xuất đường. Thực ra đồng chí sẽ không cần đường. Đồng chí sẽ có đủ yến mạch và rơm mà đồng chí cần.”

“Thế tôi có còn được đeo ruy băng nữa không?”

“Đồng chí”, Tuyết Tròn nói, “Cái ruy băng mà đồng chí yêu thích đó chính là biểu tượng của tinh thần nô lệ. Chả lẽ đồng chí không thấy rằng tự do đáng quí hơn cái ruy băng hay sao?”

Mollie đồng ý, nhưng trông nó có vẻ không tin tưởng lắm.

Bọn lợn còn gặp nhiều khó khăn hơn trong việc bác bỏ những luận điệu do con quạ Moses đưa ra. Moses là con vật cưng của ông Jones, nó chuyên đi rình rập nhưng lại nhớ rất nhiều chuyện cổ tích và cũng là một diễn giả có hạng. Nó bảo rằng có biết một vương quốc thần thoại tên là Núi Xôi, nơi linh hồn các con vật sẽ tới sau khi chầu trời. Moses nói rằng vùng đó nằm không xa, sau các đám mây. Ở đó cả bảy ngày trong tuần đều là chủ nhật hết, còn cỏ ba lá thì xanh quanh năm, đường phèn và bánh khô thì mọc ngay trên bờ dậu. Lũ súc vật rất ghét Moses vì nó chỉ nói chứ không làm, nhưng có vài con lại tin là có miền cực lạc Núi Xôi của nó, thành ra bọn lợn phải vất vả lắm mới thuyết phục được chúng rằng không thể nào có một miền như thế được.

Tông đồ tin cậy nhất của chúng là hai con ngựa kéo xe, Chiến Sĩ và Bà Mập. Hai con này vốn dĩ chậm hiểu, nhưng khi chúng đã coi lũ lợn là sư phụ rồi thì nuốt lấy từng lời giáo huấn rồi giảng giải lại cho những con khác bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu hơn. Hai con này không bỏ bất cứ một buổi họp nào và thường là những kẻ cầm càng bài Súc Sinh Anh quốc mỗi khi cuộc họp kết thúc.

Cuộc Khởi Nghĩa xảy ra sớm hơn và dễ dàng hơn chúng tưởng rất nhiều. Trong những năm gần đây, ông Jones, vốn là một điền chủ giỏi và nghiêm khắc, đã gặp nhiều sự cố. Sau khi bị mất nhiều tiền vào việc kiện tụng, ông trở nên ủ dột và uống nhiều rượu hơn bình thường. Ông thường ngồi cả ngày trên chiếc ghế bành trong bếp, vừa đọc báo vừa uống bia, thỉnh thoảng lại cho con Moses những mẩu vỏ bánh mì chấm bia. Gia nhân thành ra một lũ lười nhác, trộm cắp, đồng nội thành bãi đất hoang, nhà cửa dột nát, rào dậu nghiêng đổ, súc vật thường xuyên bị bỏ đói.

Đã sang tháng sáu, đây là mùa cắt cỏ. Trước ngày Hạ chí , hôm ấy là thứ bảy, ông Jones đi Willingdon và uống đến say khướt tại nhà hàng Sư Tử Đỏ, trưa chủ nhật mới về. Bọn gia nhân thì vội vàng vắt sữa từ sáng sớm rồi bỏ đi săn thỏ mà không thèm cho súc vật ăn tí nào. Vừa về đến nhà là ông Jones leo ngay lên ghế sopha trong phòng khách rồi lấy tờ “News of the World” phủ lên mặt và ngủ, súc vật bị bỏ đói cho đến tận chiều tối. Cuối cùng chúng hết chịu nổi. Một con bò cái húc đổ cửa nhà kho và thế là tất cả mọi con vật cùng lao vào các thùng chứa ngũ cốc. Đúng lúc đó thì ông Jones thức giấc. Ông và bốn người làm công lập tức vồ lấy roi và lao vào kho, họ cứ thế quật túi bụi lên lưng lũ súc vật khốn nạn. Lũ súc vật đói khát không thể chịu đựng thêm được nữa. Dù không hẹn trước, chúng cùng xông lên và lao thẳng vào những kẻ áp bức. Ông Jones và gia nhân bất ngờ bị đá, bị húc từ mọi hướng. Tình hình trở nên không thể kiểm soát được. Họ chưa từng gặp chuyện như thế bao giờ, cuộc nổi loạn bất thình lình của lũ súc vật mà trước đây muốn đánh đập, muốn hành hạ thế nào mặc lòng, đã làm họ hoảng loạn. Họ chỉ cầm cự được vài phút rồi phải bỏ chạy. Cả năm người vội vã lao ra con đường nhỏ để chạy lên đường làng, trong khi lũ súc vật hào hứng truy kích theo.

Qua cửa sổ phòng ngủ, bà Jones đã nhìn thấy hết mọi chuyện, bà vội vàng cho một vài thứ vào cái túi vải rồi luồn theo cửa sau trốn khỏi Điền Trang. Moses cũng kịp lao ra khỏi tổ rồi vừa kêu vừa bay theo bà chủ. Lũ súc vật sau khi truy kích thắng lợi đã quay về và đóng cổng. Thế là cuộc Khởi Nghĩa đã toàn thắng, ông Jones bị đuổi đi, Điền Trang là của bọn súc vật ngay trước khi chúng kịp hiểu mọi chuyện.

Ban đầu chúng không tin là số phận đã mỉm cười với chúng. Việc làm đầu tiên của chúng là tập trung lại và chạy vòng quanh khu nhà để tìm xem có còn sót người nào bên trong không, sau đó chúng lao vào các toà nhà để phá hủy tàn tích của chế độ cai trị độc tài của ông Jones. Kho công cụ ở phía cuối chuồng ngựa bị đập phá, thế là bao nhiêu hàm thiếc ngựa, vòng đeo mũi bò, xích chó, dao hoạn lợn và cừu bị ném hết xuống giếng. Còn dây cương, dây thòng lọng, các miếng da che mắt ngựa, giỏ thức ăn cũ thường treo ở cổ ngựa thì bị quăng vào đống lửa giữa sân. Những chiếc roi cũng cùng chung số phận. Mọi con vật cùng nhảy cỡn lên khi trông thấy những cái roi bắt lửa. Tuyết Tròn còn vất luôn vào lửa những cái ruy băng vẫn thường buộc trên bờm và đuôi ngựa mỗi kì hội chợ.

“Ruy băng”, nó tuyên bố, “phải được coi là quần áo, cũng là biểu tượng của loài người. Mọi con vật đều phải khỏa thân.”

Nghe thấy thế Chiến Sĩ vội tháo cái mũ rơm mà nó thường mang trong mùa hè để ngăn ruồi khỏi lọt vào tai và ném vào lửa.

Chẳng mấy chốc lũ súc vật đã phá hủy tất cả những thứ có liên quan đến ông Jones. Napoleon dẫn cả bọn vào kho và phát gấp đôi khẩu phần ăn hàng ngày, mỗi con chó được hai bánh qui bơ. Sau đó chúng hát bài Súc Sinh Anh quốc bảy lần liền, rồi cả bọn đi ngủ, chưa bao giờ chúng ngủ ngon như hôm ấy.

Như thường lệ, chúng thức dậy khi trời vừa rạng sáng, nhưng chúng lập tức nhớ ngay đến sự kiện vinh quang vừa xảy ra và thế là cả bọn cùng lao ra đồng cỏ. Trên đồng cỏ có một cái gò nhỏ, từ đây có thể nhìn thấy hầu khắp trang trại. Lũ súc vật chạy lên đó và ngắm nhìn khung cảnh trong ánh hồng của một ngày mới. Tất cả, tất cả những gì trước mắt kia giờ đây đã thuộc về chúng! Trong trạng thái ngất ngây, chúng cứ chạy quanh, chạy quanh mãi, thỉnh thoảng chúng lại nhảy lên vì sung sướng! Chúng lăn mình trên sương ướt, chúng gặm đầy mồm cỏ ngọt mùa hè, chúng hất tung lên những nắm đất đen và hít hà mùi vị ấm nồng của nó. Sau đó chúng đi kiểm tra một vòng khắp trang trại, chúng yên lặng ngắm nhìn khu ruộng lúa, đồng cỏ, vuờn quả, ao cá, lùm cây. Chúng ngắm nhìn như chưa từng nhìn thấy những thứ ấy bao giờ, và ngay cả lúc này chúng cũng chưa tin rằng tất cả những thứ đó đã là của chúng.

Sau đó cả bọn lại cùng nhau quay về và yên lặng tập trung trước ngôi nhà chính. Ngôi nhà này cũng đã thuộc về chúng, nhưng chúng còn ngại, chưa dám vào ngay. Nhưng Tuyết Tròn và Napoleon đã mau chóng lấy lại được bình tĩnh và dùng vai phá cửa, rồi từng con lục tục, thận trọng bước vào, tránh không làm xáo trộn các đồ vật bên trong. Chúng nhón gót đi từ phòng nọ sang phòng kia, thì thào, hồi hộp ngắm nhìn cảnh xa hoa không thể nào tin được đang bày ra trước mắt, nào giường nệm lông vịt, nào gương soi, nào ghế nệm lông ngựa, nào thảm nhung , rồi ảnh nữ hòang Vitoria treo trên lò sưởi trong phòng khách. Nhưng khi xuống đến bậc tam cấp thì chúng bỗng phát hiện ra là thiếu mất Mollie. Chúng quay vào và thấy Mollie còn đứng trong căn phòng ngủ đẹp nhất nhà. Hoá ra cô nàng đã lấy một dải ruy băng màu xanh trên bàn trang điểm của bà Jones, vắt lên vai và đang thẫn thờ soi gương. Những con khác túm ngay lấy nó và lôi ra khỏi nhà. Mấy cái đùi lợn muối treo trong bếp được đem đi chôn, thùng bia trong phòng rửa bát thì bị Chiến Sĩ đá thủng, những thứ khác hầu như được giữ nguyên chỗ cũ. Một nghị quyết về việc giữ toà nhà chính làm viện bảo tàng được nhất trí thông qua ngay tại chỗ. Tất cả đều đồng ý là không con nào có quyền sống trong toà nhà này.

Chúng đi ăn sáng và sau đó Tuyết Tròn và Napoleon mời tất cả tập trung.

“Thưa các đồng chí”, Tuyết Tròn nói, “Bây giờ là bảy giờ rưỡi, chúng ta còn cả một ngày nữa cơ. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu cắt cỏ, nhưng chúng ta còn một việc phải làm trước đã.”

Thế là hai con lợn nói rằng nhờ những cuốn sách vỡ lòng của con ông Jones, tìm được trong đống rác, mà suốt ba tháng qua chúng đã học và nay chúng đã biết đọc, biết viết. Napoleon sai đi lấy một lọ sơn đỏ, một lọ sơn trắng rồi dẫn cả bọn đi ra cổng lớn. Tuyết Tròn (vì nó là con viết đẹp nhất) kẹp cái chổi sơn giữa hai móng chân, xoá chữ Điền Trang và viết chữ Trại Súc Vật lên cái thanh trên cùng của cánh cổng. Từ nay trở đi đấy sẽ là tên chính thức của trại này. Sau đó cả bọn quay lại khu nhà, Tuyết Tròn và Napoleon lại ra lệnh tìm một cái thang rồi dựng sát vào đầu hồi nhà kho. Chúng giải thích rằng sau một thời kì khổ công nghiên cứu, ba tháng gần đây chúng đã đúc kết các luận điểm của Súc Sinh Kinh thành Bảy Điều Răn. Bảy Điều Răn sẽ được kẻ lên tường và sẽ là luật vĩnh viễn bất di bất dịch của tất cả các thành viên Trại Súc Vật. Tuyết Tròn leo lên thang một cách khó nhọc (vì lợn khó giữ thăng bằng khi đứng trên thang) và bắt đầu viết, trong khi Chỉ Điểm cầm hộp sơn đứng bên dưới mấy bậc. Các điều răn được viết bằng sơn trắng trên bức tường quét hắc ín, đứng xa cả ba chục mét cũng đọc rõ. Nội dung như sau:

BẢY ĐIỀU RĂN
1. Tất cả các loài hai chân đều là kẻ thù.
2. Tất cả các loài bốn chân hoặc có cánh đều là bạn.
3. Không con vật nào được mặc quần áo.
4. Không con vật nào được ngủ trên giường.
5. Không con vật nào được uống rượu.
6. Loài vật không được giết hại lẫn nhau.
7. Mọi con vật sinh ra đều bình đẳng.

Các chữ đều được viết rõ ràng và cả đoạn chỉ có hai lỗi chính tả mà thôi, đấy là chữ “giường” bị viết thành “gưìơng” và một chữ S bị viết ngược. Tuyết Tròn đọc to lên cho tất cả cùng nghe. Tất cả đều gật đầu đồng ý, những con thông minh hơn lập tức học thuộc lòng các Điều Răn.

“Bây giờ, thưa các đồng chí” Tuyết Tròn vừa ném cái chổi sơn xuống đất vừa gào lên, “tất cả ra đồng cắt cỏ! Chúng ta phải thu hoạch nhanh hơn lão Jones và lũ gia nhân của hắn.”

Đúng lúc đó thì ba con bò cái vốn cảm thấy khó chịu từ trước bỗng rống lên. Suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ qua chúng chưa được vắt sữa, vú của chúng căng mọng như muốn nổ ra đến nơi. Sau một chút đắn đo, lũ lợn sai mang xô tới và đã thực hiện công việc khá thành thạo, chân chúng tỏ ra phù hợp với công việc này. Chẳng mấy chốc đã vắt được năm xô đầy sữa béo, một số con tò mò đến xem.

“Làm gì với số sữa này nhỉ”, có con hỏi.

“Lão Jones thỉnh thoảng có trộn sữa vào thức ăn của chúng tôi đấy”, một chị gà mái lên tiếng.

“Các đồng chí, để ý đến sữa làm gì!”, Napoleon vừa gào lên vừa bước ra đằng trước mấy xô sữa, “Để đấy rồi tính sau. Thu hoạch quan trọng hơn. Đồng chí Tuyết Tròn sẽ dẫn đầu. Tôi sẽ ra sau một lúc. Các đồng chí, tiến lên! Vụ thu hoạch đang cần chúng ta.”

Các con vật tiến ra cánh đồng và bắt đầu cắt cỏ, nhưng chiều về thì chúng không thấy mấy xô sữa đâu nữa.

Chương III

Phải công nhận là chúng làm việc rất chăm, không quản mệt mỏi, chỉ cốt thu hoạch cho xong! Công khó của chúng đã được đền bù, chúng thu được nhiều hơn dự kiến.

Đôi khi chúng cũng gặp một số khó khăn vì tất cả công cụ đều được làm để dành cho người chứ không phải cho súc vật, mà muốn sử dụng công cụ đó thì phải đứng được trên hai chân sau. Nhưng phải nói bọn lợn là một giống thông minh – khó đến đâu chúng cũng có cách. Còn lũ ngựa thì hiểu rõ từng thửa ruộng, mà cắt và vun cỏ thành đống thì chúng làm thạo hơn ông Jones và gia nhân nhiều. Bọn lợn không làm mà chỉ hướng dẫn và kiểm tra các con khác. Với kiến thức như thế thì việc chúng nắm vai trò lãnh đạo là đương nhiên. Chiến Sĩ và Bà Mập tự khoác lên mình máy cắt hoặc máy bừa cỏ (dĩ nhiên là không cần hàm thiếc, cũng chẳng cần cương) và kiên nhẫn đi khắp cách đồng, trong khi một con lợn nào đó bước theo sau, thỉnh thoảng lại kêu “Đi thẳng, đồng chí!” hoặc “Quay lại, đồng chí!”. Tất cả các con vật, không kể lớn nhỏ, đều tham gia cắt và xếp cỏ. Ngay đến bọn gà vịt cũng phơi mình dưới nắng suốt ngày để tham gia vận chuyển từng lọn cỏ nhỏ bằng mỏ. Chúng đã hoàn tất công việc một cách nhanh chóng, phải nói là nhanh hơn người, nếu ông Jones và gia nhân làm thì phải hai ngày nữa mới xong. Hơn nữa, đấy lại là một vụ mùa năng suất nhất từ trước đến nay. Không có chuyện rơi vãi vì bọn gà, vịt rất tinh mắt, chúng nhặt đến từng cọng một. Và cũng không có con nào ăn vụng, dù chỉ một miếng ngoạm.

Animal Farm, bản dịch của An Lý

Công việc của trang trại diễn ra thuận lợi trong suốt mùa hè năm đó. Bọn súc vật cảm thấy vô cùng sung sướng, chúng chưa bao giờ nghĩ rằng chuyện đó lại có thể xảy ra. Ăn là cả một niềm vui, vì bây giờ thức ăn là của chúng, do chúng và vì chúng chứ không phải là thứ do một ông chủ keo bẩn bố thí cho nữa. Sau khi chúng đã tống khứ được lũ người ăn bám vô tích sự đi rồi thì khẩu phần mỗi con dĩ nhiên là nhiều hơn. Và mặc dù chưa có kinh nghiệm, chúng vẫn có nhiều thời gian thư giãn hơn. Chúng có gặp một số khó khăn, ví dụ khi thu hoạch ngũ cốc thì phải dùng sức để thổi trấu đi vì trang trại không có máy đập, nhưng với trí thông minh của lũ lợn và sức khoẻ của Chiến Sĩ thì việc gì mà chúng chẳng làm được. Chiến Sĩ rất được kính trọng. Ngay khi còn ông Jones nó đã chăm chỉ rồi, nhưng bây giờ nó làm việc bằng ba, có ngày tưởng chừng như toàn bộ công việc của trại đều đổ dồn lên vai nó. Nó kéo rồi đẩy từ sáng đến tối và bao giờ cũng có mặt ở những chỗ khó khăn nhất. Nó nhờ một con gà trống đánh thức trước nửa tiếng và tự nguyện làm một số việc cần kíp nhất trước khi ngày làm việc chính thức bắt đầu. Trước bất cứ khó khăn, trở ngại nào nó đều nói: “Tôi sẽ cố gắng hơn nữa!”, câu ấy đã trở thành phương châm hành động của chính nó.

Những con khác cũng làm việc hết mình. Thí dụ lũ gà và vịt đã mót được đến hai tạ ngũ cốc. Thói ăn cắp vặt; những tiếng ỉ eo về miếng ăn, miếng uống; chuyện cãi vã, cắn xé; thói ghen tị – những thói xấu đó của quá khứ đã biến mất hẳn. Không con nào trốn việc – đúng ra là gần như không con nào. Mollie không thích dậy sớm và tìm cách chuồn trước, nại rằng có hòn đá nhỏ dắt vào móng. Thái độ của con mèo cũng đáng ngờ. Cứ khi nào cần là y như rằng nó đã bỏ đi đâu mất từ trước rồi. Chị chàng thường bỏ đi đâu đó rất lâu và chỉ xuất hiện, như chưa có chuyện gì xảy ra, ngay trước bữa ăn hay vào buổi chiều, khi công việc đã hoàn tất. Nhưng nó luôn luôn tìm được cách giải thích và kêu gừ gừ một cách đáng yêu, thành ra khó mà nghi ngờ được thiện chí của nó. Chỉ có con lừa già Benjamin là vẫn như cũ. Nó vẫn làm công việc một cách chậm chạm cố hữu như thời còn ông Jones, không bao giờ trốn việc, cũng chẳng bao giờ làm hơn. Nó không nói gì về cuộc Khởi Nghĩa cũng như những đổi thay sau đó. Nếu được hỏi có cảm thấy vui hơn thời còn ông Jones không, thì nó bảo: “Đời lừa dài lắm. Các vị chưa thấy lừa chết bao giờ cơ mà” – bao giờ nó cũng nói một câu bí hiểm như vậy.

Ngày chủ nhật nghỉ. Bữa sáng ăn muộn hơn một tiếng và sau đó bao giờ cũng có một cuộc họp mặt long trọng. Trước hết là lễ kéo cờ. Tuyết Tròn tìm được trong kho dụng cụ một tấm khăn trải bàn cũ màu xanh của bà Jones rồi vẽ một cái móng và một cái sừng màu trắng lên trên. Và thế là buổi sáng chủ nhật nào chiếc khăn trải bàn cũng tung bay trên cột cờ trong vườn hoa. Tuyết Tròn giải thích rằng màu xanh tượng trưng cho đồng ruộng Anh quốc, còn sừng và móng là biểu tượng của nước Cộng Hòa Súc Vật tương lai, khi đã lật đổ được toàn bộ giống người rồi. Sau khi kéo cờ, tất cả các con vật cùng đến tập trung trong nhà kho lớn, chúng gọi đấy là Họp. Chúng lập kế họach cho tuần sau cũng như thảo luận và ra nghị quyết về các kiến nghị khác nhau tại đây. Chỉ có bọn lợn đưa ra kiến nghị mà thôi. Những con khác chỉ biết biểu quyết chứ không kiến nghị gì bao giờ. Tuyết Tròn và Napoleon thảo luận hăng nhất. Nhưng hai con này luôn luôn chống đối nhau: hễ con này đưa ra ý kiến gì là con kia lập tức phản đối. Ngay cả khi vấn đề đã được quyết định rồi, như việc dành một miếng đất nhỏ phía sau khu vườn làm chỗ dưỡng già, không ai có thể phản đối chuyện đó, thì hai con này lại tranh luận gay gắt về việc loài nào, đến bao nhiêu tuổi thì được nghỉ hưu. Các buổi Họp bao giờ cũng kết thúc bằng bài đồng ca ” Súc Sinh Anh quốc”, còn buổi chiều thì chúng được nghỉ tự do.

Bọn lợn dành cái kho dụng cũ làm tổng hành dinh. Buổi tối chúng học nghề mộc, nghề rèn và những nghề khác, qua những cuốn sách nhặt được trong toà nhà chính. Tuyết Tròn còn đưa những con khác vào các tổ chức mà nó gọi là Ủy Hội Súc Sinh. Nó làm việc này một cách say sưa, không biết mệt là gì. Nó đã thiết lập được Ủy Ban Trứng cho lũ gà mái, Ủy Ban Chăm Sóc Đuôi cho lũ bò, Hiệp Hội cải huấn các đồng chí thú hoang (mục đích là cải tạo bọn chuột và thỏ rừng); Phong Trào giữ lông thật trắng cho bọn cừu, vân vân và vân vân, đấy là chưa kể các tổ xoá nạn mù chữ nữa. Nói chung, các dự án của Tuyết Tròn đều không có kết quả. Việc cải tạo lũ thú hoang thất bại gần như ngay từ đầu. Thái độ của chúng chẳng thay đổi tí nào, mà cư xử tốt thì chúng lại càng láo thêm. Con mèo cũng có chân trong Hiệp Hội cải huấn và đã họat động rất tích cực trong mấy ngày đầu. Có lần, nó còn lên tận mái nhà nói chuyện với mấy con chim sẻ đậu ngoài tầm với của nó. Nó bảo rằng bây giờ mọi loài đều là đồng chí và nếu con sẻ nào muốn thì có thể đậu ngay lên chân trước nó, nhưng bọn sẻ không dám lại gần.

Các lớp học đọc, học viết thu được kết quả khả quan. Trước khi mùa thu, về đa số các con vật trong trại đều đã thoát nạn mù chữ ở những mức độ nhất định.

Bọn lợn đọc thông viết thạo. Lũ chó cũng biết đọc, nhưng chúng chỉ đọc mỗi Bảy Điều Răn mà thôi. Con dê tên là Muriel đọc thông hơn lũ chó nên buổi tối nó thường đọc cho những con khác nghe các mẩu báo nhặt được trên đống rác. Lừa Benjamin đọc nhanh không kém gì lũ lợn, nhưng nó chẳng đọc cái gì bao giờ. Nó bảo chẳng thấy có gì đáng đọc. Bà Mập học thuộc cả bảng chữ cái nhưng không biết ghép vần. Chiến Sĩ không vượt qua được chữ D. Nó thường lấy những cái móng to kềnh của mình để viết lên cát những chữ cái A, B, C, D rồi đứng ngắm, tai cụp lại phía sau, thỉnh thoảng lại vẫy vẫy bờm, cố gắng nhớ xem sau đó là chữ gì, nhưng chẳng bao giờ nhớ ra. Đôi khi nó cũng thuộc được các chữ cái E, F, G, H, nhưng bao giờ cũng vậy, hễ thuộc mấy chữ đó thì lại quên các chữ A, B, C, D. Cuối cùng nó đành thoả mãn với bốn chữ cái đó và ngày nào cũng viết một hai lần để rèn trí nhớ. Mollie chỉ học năm chữ cái ghi đủ tên nó mà thôi. Nó thường lấy cành cây nhỏ để xếp các chữ đó rồi trang trí thêm bằng một vài bông hoa, sau đó đi vòng quanh để ngắm.

Những con khác không vượt qua chữ A. Những loài ngu hơn như cừu, gà và vịt không thể thuộc được Bảy Điều Răn. Sau khi suy nghĩ, Tuyết Tròn tuyên bố rằng có thể rút Bảy Điều Răn thành một cách ngôn như sau: “Bốn chân tốt, hai chân xấu”. Nó bảo đấy chính là nguyên lí cơ bản của Súc Sinh Kinh. Chỉ cần nắm vững cách ngôn này thì không còn sợ gì ảnh hưởng của con người nữa. Bọn gà vịt phản đối vì cho rằng chúng chỉ có hai chân, nhưng Tuyết Tròn đã chứng minh không phải như vậy.

“Cánh chim, thưa các đồng chí”, Tuyết Tròn nói, “là cơ quan để vận động chứ không phải để cầm nắm. Cánh cũng là chân thôi. Đặc trưng để phân biệt với Giống Người là bàn tay, mọi việc xấu xa đều do đôi bàn tay của chúng làm hết.”

Bọn gà vịt không hiểu hết bài thuyết pháp tràng giang đại hải đó, nhưng chúng đồng ý với cách giải thích của Tuyết Tròn và tất cả những con vật ngu si hơn lại phải học thuộc lòng cách ngôn mới. BỐN CHÂN TỐT, HAI CHÂN XẤU được viết to hơn, bên trên Bảy Điều Răn. Khi đã thuộc lòng rồi thì lũ cừu tỏ ra rất khoái cách ngôn này, mỗi khi nằm nghỉ là chúng lại đồng thanh tụng “Bốn chân tốt, hai chân xấu! Bốn chân tốt, hai chân xấu!” và cứ thế hàng giờ liền không biết mệt.

Napoleon không quan tâm đến các ủy hội của Tuyết Tròn. Nó bảo rằng giáo dục thế hệ trẻ quan trọng hơn công tác vận động những con đã trưởng thành. Hai con chó cái Jessie và Bluebell đẻ được chín con chó con khoẻ mạnh ngay sau vụ thu hoạch. Napoleon bắt lũ chó con ngay khi chúng vừa cai sữa, nó bảo sẽ chịu trách nhiệm giáo dục bọn trẻ. Nó đem lũ chó con giấu trên gác xép, bên trên kho dụng cụ, phải có thang mới trèo lên được, và giữ chúng ở đó kín đến nỗi dần dần không con nào còn nhớ đến lũ chó con ấy nữa.

Chuyện mất sữa không còn là bí mật. Bọn lợn đem trộn vào cám ăn hàng ngày. Những quả táo đầu mùa đã chín, ngày nào cũng có quả rụng trên đám cỏ trong vườn. Mọi con vật đều nghĩ là sẽ đem chia đều, nhưng một hôm có lệnh nhặt táo rụng rồi đem vào nhà kho dụng cụ để dành riêng cho lũ lợn. Có mấy con phàn nàn về chuyện này, nhưng không đi đến đâu. Về vấn đề này thì lũ lợn, kể cả Tuyết Tròn và Napoleon, đều thống nhất quan điểm. Chỉ Điểm được cử đi làm công tác tư tưởng.

“Thưa các đồng chí”, Nó nói, “Tôi hy vọng là các đồng chí không nghĩ rằng loài lợn chúng tôi làm như thế là do ích kỉ và đặc quyền đặc lợi chứ? Nhiều đồng chí lợn cũng ngán sữa và táo lắm. Tôi cũng chẳng thích gì hai thứ đó. Mục đích của chúng tôi khi ăn những thứ đó chỉ là nhằm bảo vệ sức khoẻ mà thôi. Sữa và táo (Thưa các đồng chí, khoa học đã chứng minh) có chứa nhiều chất cực kì cần thiết cho sức khoẻ loài lợn. Loài lợn chúng tôi làm công việc trí óc. Chúng tôi nắm toàn bộ công tác tổ chức và quản lí trang trại này. Vì sự phồn vinh của các đồng chí mà chúng tôi phải làm việc cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi uống sữa và ăn táo vì lợi ích của chính các đồng chí đấy. Các đồng chí có tưởng tượng được chuyện gì sẽ xảy ra nếu loài lợn chúng tôi không cáng đáng nổi nhiệm vụ không? Lão Jones sẽ quay về! Vâng, lão Jones sẽ quay về! Chắc chắn là như thế, thưa các đồng chí”, Nó van vỉ gào to, vừa gào vừa nhảy từ phải sang trái, đuôi vẫy nhặng lên, “Chắc chắn là không ai trong chúng ta muốn lão Jones quay về rồi, có phải thế không ạ?”

Chắc chắn là không một con vật nào muốn lão Jones quay về rồi. Đặt vấn đề theo cách đó thì không con nào dám mở miệng ra nữa. Sức khoẻ loài lợn là việc hệ trọng, chuyện đó không cần phải bàn. Thế là chúng đi đến thống nhất mà không bàn cãi thêm là sữa và táo rụng (khi vào mùa thì toàn bộ) chỉ để dành cho riêng loài lợn dùng mà thôi.

Chương IV

Đến cuối mùa hè thì tin tức về Trại Súc Vật đã bay ra khắp nửa nước. Ngày nào Tuyết Tròn và Napoleon cũng cử từng đàn bồ câu thâm nhập vào các trang trại khác để tuyên truyền về cuộc Khởi Nghĩa và dạy hát bài “Súc Sinh Anh quốc”.

Trong khi đó ông Jones hầu như ngày nào cũng ngồi trong nhà hàng Sư tử Đỏ ở Willingdon để than van với bất cứ người chịu chuyện nào về việc bị lũ súc vật vô tích sự cướp đoạt mất tài sản. Các chủ trại khác tỏ ra thông cảm, nhưng chẳng chịu giúp đỡ gì cả. Không những thế, trong thâm tâm bọn đó lại còn tìm cách lợi dụng tai hoạ của lão nữa. May là chủ hai điền trang tiếp giáp với Trại Súc Vật luôn luôn bất hoà với nhau. Một trại có tên là Trại Cáo, một trại lớn nhưng bị bỏ bê, canh tác theo lối cũ, nhiều chỗ cây mọc um tùm, các bãi chăn thả bị dẫm nát, hàng rào thì xiêu vẹo. Chủ trang trại này, ông Pilkington là một người vô lo, dùng phần lớn thì giờ vào việc săn bắn và câu cá. Trang trại thứ hai tên là Trại Keo, nhỏ hơn, nhưng được chăm sóc kĩ lưỡng hơn. Chủ trang trại này là ông Frederick, một người thô bạo, sắc sảo, thường xuyên dính líu vào các vụ kiện cáo và nổi tiếng là một tay lừa gạt có hạng. Hai vị này ghét nhau đến nỗi không thể tìm được tiếng nói chung, ngay cả trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình.

Nhưng cuộc Khởi Nghĩa ở Trại Súc Vật đã làm cả hai hoảng sợ và họ tìm mọi cách ngă, cản, không cho tin tức ở đó lọt vào trang trại của mình. Đầu tiên họ giả vờ chế giễu chuyện bọn súc vật tự điều hành trang trại. “Chỉ ba bảy hai mốt ngày, là toi”, họ bảo. Họ tung tin là lũ súc vật trong Điền Trang (họ khăng khăng gọi là Điền Trang chứ không chịu chấp nhận tên Trại Súc Vật) suốt ngày tranh giành nhau và chẳng mấy nữa rồi sẽ chết đói thôi. Một thời gian sau, thấy lũ súc vật không chết đói, Frederick và Pilkington liền đổi giọng và bắt đầu nói về những cảnh tượng vô luân không thể tưởng tượng được đang diễn ra trong Trại Súc Vật. Họ bảo rằng lũ súc vật ăn thịt lẫn nhau, chúng tra tấn nhau bằng móng sắt nung đỏ, còn những con cái thì thành vợ chung. “Chống lại qui luật của Tự Nhiên thì kết quả như vậy đấy”, Frederick và Pilkington nói.

Nhưng chuyện đó cũng chẳng có mấy người tin. Lời đồn về một trang trại kì lạ, nơi con người bị đuổi đi và các con vật tự điều hành lấy công việc tiếp tục được truyền tụng một cách tù mù và xuyên tạc, suốt năm đó làn sóng bạo động lan tràn khắp cả vùng nông thôn. Những con bò đực vốn dễ bảo bỗng trở nên hung dữ, cừu thì phá đổ hàng rào và dẫm nát đồng cỏ, bò cái hất đổ xô sữa, ngựa đua thì không chịu nhảy qua hàng rào mà hất tung kị sĩ lên cao. Nhạc điệu và lời của bài “Súc Sinh Anh quốc” phổ biến đến tận hang cùng ngõ hẻm. Nó được truyền bá với một tốc độ nhanh chưa từng thấy. Bài hát làm cho con người phát điên lên được, nhưng họ lại giả đò như đấy chỉ là một trò lố bịch. Ngay cả súc vật cũng không thể nào lại hát một thứ rác rưởi đê tiện như thế được, họ bảo. Con vật nào bị bắt quả tang đang hát bài đó lập tức bị đánh đòn tại trận. Thế mà vẫn không cấm tuyệt được. Sáo hót bài đó trên hàng rào, bồ câu gù trên cây, bài hát đi vào tiếng dế nỉ non, vào cả tiếng chuông nhà thờ nữa. Con người run lên mỗi lần nghe thấy nó, họ như nghe thấy điềm báo trước tai họa của chính mình.

Đầu tháng mười, khi đã thu hoạch và đưa hết ngũ cốc vào kho, một số đã được đập thì có một đàn bồ câu bất ngờ xé không khí lao tới đậu xuống sân trang trại, dáng vẻ vô cùng xúc động. Ông Jones cùng với gia nhân và khoảng nửa tá thanh niên của Trại Cáo và Trại Keo đã vượt qua cổng lớn và đang tiến vào trang trại này. Ông Jones lăm lăm khẩu súng đã lên đạn, còn những người khác đều được trang bị bằng gậy gộc. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ muốn tái chiếm trang trại.

Nhưng lũ súc vật không bị bất ngờ, ngược lại, chúng đã chuẩn bị cho sự kiện này từ lâu. Tuyết Tròn, trước đây đã từng nghiên cứu kĩ lưỡng cuốn sách viết về các chiến dịch của Julius Ceasar , mà nó tìm thấy trong ngôi nhà chính, được phân công tổ chức phòng vệ. Nó lập tức đưa ra các mệnh lệnh và lũ súc vật mau chóng chiếm lĩnh các vị trí được phân công.

Tuyết Tròn ra lệnh tấn công ngay khi nhóm người kia vừa tiến gần đến dãy nhà trong trang trại. Ba mươi lăm con bồ câu xuất kích, chúng bay qua bay lại và ỉa vào đầu đám người phía dưới, trong khi họ mải tránh và phủi thì lũ ngỗng, phục kích sẵn sau hàng rào xông ra và cắn vào chân. Nhưng đấy mới chỉ là đòn chiến thuật, có tác dụng làm rối loạn hàng ngũ đối phương, bởi vì người ta dễ dàng dùng gậy để xua lũ ngỗng đi. Mũi tấn công thứ hai được đưa ra mặt trận. Muriel, Benjamin và toàn thể bầy cừu do chính Tuyết Tròn dẫn đầu xông lên vây chặt đám người, rồi lao vào húc lấy húc để trong khi Benjamin quay lưng về phía họ và đá vung vít. Nhưng lần này lũ súc vật cũng không thắng, gậy và giày đinh mà con người sử dụng là những vũ khí quá mạnh đối với chúng. Thấy tình thế bất lợi, Tuyết Tròn hí lên một tiếng và đấy chính là tín hiệu tạm lui binh, lũ súc vật vội tháo chạy vào trong sân.

Tiếng hò reo chiến thắng vang lên. Những người tấn công thấy quân thù đã bỏ chạy như dự kiến nên chẳng cần chỉnh đốn hàng ngũ, vội vàng xông lên truy kích. Đúng như Tuyết Tròn đã dự liệu. Khi người đã vào hết trong sân thì ba con ngựa, ba con bò và tất cả lũ lợn còn lại trước đó đã nằm mai phục sẵn trong chuồng bò liền lao ra cắt đứt đường rút lui. Tuyết Tròn hạ lệnh tổng công kích. Chính nó lao thẳng vào ông Jones. Ông Jones trông thấy nó lao tới liền bóp cò. Phát đạn ghém đã làm Tuyết Tròn bị thương dọc sống lưng, máu chảy lênh láng và làm chết một con cừu. Không lưỡng lự một giây, Tuyết Tròn cứ thế đâm thẳng tấm thân tạ rưỡi của nó vào chân ông Jones. Ông ngã sóng soài lên đống phân, súng văng ra xa. Nhưng khủng khiếp nhất là Chiến Sĩ, nó đứng trên hai chân sau và giáng xuống đầu người bằng những chiếc móng sắt. Cú nện đầu tiên của nó khiến anh chàng dọn chuồng ngựa của Trại Cáo ngã vật ra đất, bất tỉnh nhân sự. Có mấy người vứt gậy và bỏ chạy. Không bỏ lỡ thời cơ, lũ súc vật liền đuổi theo vòng quanh sân. Chúng húc bổng họ lên, rồi cắn, đá, đạp. Không có con nào trong trại là không tham gia báo thù theo cách của mình. Ngay con mèo cũng nhảy từ mái chuồng bò xuống vai anh chăn bò rồi vừa cắn vào cổ vừa gào như lên cơn động cỡn. Vừa thấy có thể rút lui được là mọi người vội chạy khỏi sân để ra đường lớn. Thế là thâm nhập chưa được năm phút, họ đã phải tháo chạy, phía sau là lũ ngỗng vừa cắn vào đùi vừa rú rít đuổi theo.

Có một người không chạy thoát. Trong sân, Chiến Sĩ đang cố lật anh dọn chuồng ngựa vẫn nằm úp mặt xuống bùn lên. Anh chàng không hề động đậy.

“Hắn chết rồi!”, Chiến Sĩ buồn bã thốt lên, “Tôi đâu có định làm như vậy. Tôi quên mất là mình đeo móng sắt. Bây giờ ai mà tin là tôi không chủ ý chứ?”

“Thôi đừng có ủy mị, đồng chí!”, Tuyết Tròn nói, máu trên lưng nó vẫn rỉ ra từng lúc, “Chiến tranh là chiến tranh. Người tốt là người đã chết.”

“Tôi không có ý giết, ngay cả giết người”, Chiến Sĩ cứ nhắc đi nhắc lại như thế, mắt đẫm lệ.

“Thế Mollie đâu nhỉ?”, Có con nào đó hỏi.

Đúng là không thấy Mollie đâu. Ban đầu chúng rất lo, chúng sợ rằng Mollie có thể đã bị thương hoặc bị bọn người kia bắt theo cũng nên. Cuối cùng chúng cũng tìm được cô nàng, hóa ra là nó trốn trong chuồng ngựa, đầu rúc trong đống rơm. Nó đã bỏ trốn ngay khi vừa nghe thấy tiếng súng nổ. Trong khi các con vật đi tìm Mollie thì anh chàng dọn chuồng ngựa hồi tỉnh và trốn mất.

Lũ súc vật đã tụ tập lại đầy đủ, chúng vô cùng phấn khích, tranh nhau nói. Lễ mừng chiến thắng được tổ chức ngay lập tức. Cờ được kéo lên và chúng hát bài “Súc Sinh Anh quốc” mấy lần liền, sau đó chúng làm lễ mai táng con cừu tử trận và trồng trên mộ của nó một bụi táo gai. Tuyết Tròn đọc một bài diễn văn ngay bên cạnh mộ chiến sĩ trận vong, nhấn mạnh rằng mọi con vật đều phải sẵn sàng hi sinh cho Trại Súc Vật, khi cần.

Lũ súc vật nhất trí lập ra phần thưởng cho những chiến công vừa qua, đấy là danh hiệu Súc vật Anh hùng hạng nhất, danh hiệu này được trao ngay cho Tuyết Tròn và Chiến Sĩ. Phần thưởng là một chiếc huy chương đồng (chính là tấm đồng trang trí yên ngựa tìm được trong kho dụng cụ) được đeo vào ngày lễ và chủ nhật. Danh hiệu Súc vật Anh hùng hạng hai được trao cho con cừu đã hy sinh.

Chúng tranh cãi rất lâu về chuyện đặt tên cho chiến thắng. Cuối cùng chúng quyết định gọi là Chiến dịch Chuồng bò vì cuộc phục kích diễn ra trong chuồng bò. Chúng tìm được khẩu súng của ông Jones trong đám bùn, đạn thì trong trại vẫn có sẵn. Khẩu súng được mang ra đặt dưới chân cột cờ, giả như súng đại bác ở các nơi khác, chúng sẽ bắn súng mừng hai lần trong một năm, một lần vào dịp hạ chí để mừng ngày Khởi Nghĩa, lần khác vào ngày hai mươi tháng mười để mừng Chiến Thắng.

Chương V

Càng đến gần mùa đông thì Mollie càng trở nên khó chịu. Sáng nào cô nàng cũng đi làm muộn, viện cớ là ngủ quên; ngoài ra, nó còn phàn nàn là bị những căn bệnh lạ, mặc dù vẫn ăn như thuồng luồng vậy. Nó thường tìm mọi cách để trốn việc và chạy ra hồ nước, thẫn thờ đứng ngắm bóng mình. Nhưng cứ như tin đồn thì nó còn mắc những khuyết điểm nghiêm trọng hơn nhiều. Một hôm, nó đang đi dạo trong sân, vô tư vẫy cái đuôi dài, miệng nhai một nắm cỏ thì Bà Mập kéo sang một bên và bảo:

“Mollie, chị có vài điều cần nói với em. Sáng nay chị trông thấy em đứng bên hàng rào giữa Trại Súc Vật và Trại Cáo. Bên kia hàng rào là người của nhà Pilkington. Dù đứng rất xa nhưng chị chắc chắn là lúc đó hắn ta đang nói chuyện với em, chị nhìn thấy rõ như thế, còn em thì đã cho nó vỗ vỗ vào hai bên má. Mollie, chuyện đó là thế nào?”

“Anh ta không vỗ! Em không đứng ở đó! Làm gì có chuyện đó!” – Mollie gào lên , hai chân nhảy dựng và nện ầm ầm xuống mặt đất.

“Mollie, hãy nhìn thẳng vào mắt chị đây! Em có dám thề với chị là gã đó chưa từng vỗ vào má em không?”

“Không có chuyện đó!”, Mollie nhắc lại, nhưng nó không dám nhìn Bà Mập và lập tức phóng ra đồng.

Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu Bà Mập. Không nói cho con nào biết, nó từ từ tiến lại phía chuồng của Mollie và lấy móng lật đống rơm trong chuồng lên. Bên dưới đống rơm có một cục đường và mấy sợi ruy băng đủ màu sắc.

Ba ngày sau Mollie biến mất. Sau mấy tuần vẫn chưa có tin tức gì, nhưng rồi lũ bồ câu báo cáo lại là đã nhìn thấy Mollie ở bên ngòai Willingdon. Nó kéo một cái xe nhỏ, sơn hai màu đen-đỏ lộng lẫy, đứng nghỉ gần một quán bia. Một gã đàn ông béo tốt, mặt đỏ gay, mặc quần ca rô, ống chẽn, đi ghệt; có vẻ như là chủ quán; đang vừa vỗ về vừa đút cho nó miếng đường. Bờm nó mới được cắt chải cẩn thận, đám bờm trên trán có thắt một dải ruy băng màu đỏ tươi. Theo những con bồ câu nói lại thì trông nó có vẻ thoả mãn. Từ đó không con nào nhắc đến nó nữa.

Bước sang tháng giêng, thời tiết trở nên vô cùng khắc nghiệt. Đất rắn như đá, không thể làm được việc gì nữa. Các cuộc Họp được chuyển vào nhà kho lớn, lũ lợn chuyên tâm vào việc lập kế hoạch cho vụ tới. Chúng nhất trí rằng vì lũ lợn thông minh nhất nên sẽ chịu trách nhiệm về đường lối chung của trại, nhưng quyết định của chúng phải được thông qua với đa số tuyệt đối. Mọi việc sẽ vô cùng hoàn hảo nếu như Tuyết Tròn và Napoleon không thường xuyên chống đối nhau. Hai con này bất đồng nhau về mọi vấn đề, mỗi khi có dịp. Nếu con này bảo phải gieo nhiều lúa mạch hơn thì con kia nhất định sẽ nói phải gieo nhiều yến mạch hơn; nếu một con nói cánh đồng nào đó hợp với bắp cải thì con kia nhất định sẽ bảo vùng đó chỉ có thể trồng củ cải. Con nào cũng có một số ủng hộ viên cho nên các cuộc tranh luận thường diễn ra rất quyết liệt. Do biết ăn nói nên Tuyết Tròn thường giành được đa số trong các cuộc Họp, còn ở bên ngoài thì đa số lại ủng hộ Napoleon. Trung thành nhất với Napoleon là bầy cừu. Thời gian gần đây lũ cừu thường tụng “Bốn chân tốt, hai chân xấu” khi có lí do cũng như chẳng cần lí do gì và các cuộc Họp cũng thường bị gián đoạn là vì thế. Đặc biệt là cứ đến những đoạn quan trọng nhất trong các bài phát biểu của Tuyết Tròn là y như rằng lũ cừu lại gào lên “Bốn chân tốt, hai chân xấu”. Tuyết Tròn đã nghiên cứu kĩ tạp chí “Trồng trọt và chăn nuôi” tìm được trong ngôi nhà chính, trong đầu nó có cả một mớ kế hoạch cải cách và hiện đại hóa công tác sản xuất. Nó kể về hệ thống thoát nước cho đồng ruộng, lò ủ chua, phân phốt phát, cho cả trại nghe, nó còn soạn ra một sơ đồ đi vệ sinh, sao cho từng con “đi” mỗi lần ở một nơi khác nhau cho đỡ tốn công vận chuyển sau này. Napoleon thì ngược lại, không soạn gì cả, nhưng lại rỉ tai những con khác rằng Tuyết Tròn chỉ nói nhảm và có vẻ như đang đợi thời cơ để ra tay. Nhưng cuộc tranh chấp dữ dội nhất giữa hai con là về việc xây dựng cối xay gió.

Trên cánh đồng cỏ, không xa những dãy nhà của trại là mấy, có một cái gò nhỏ, cũng là chỗ cao nhất trong trại. Sau khi đã khảo sát, Tuyết Tròn tuyên bố rằng đây là khu vực tốt nhất để xây dựng một chiếc cối xay gió, chúng sẽ lắp lên đó một máy phát điện để cung cấp điện cho toàn trại. Các chuồng rồi sẽ có đèn điện, mùa đông thì sẽ có lò sưởi, chưa nói đến việc sẽ dùng điện để chạy máy cưa, máy thái cỏ, máy thái củ cải đỏ, máy vắt sữa nữa. Lũ súc vật chưa từng được nghe chuyện như thế bao giờ (trại này vốn thuộc loại lạc hậu, chỉ có các máy móc đơn giản nhất), chúng vô cùng kinh ngạc lắng nghe Tuyết Tròn thao thao bất tuyệt về những chiếc máy kì diệu sẽ thay chúng làm việc trong khi chúng có thể ung dung gặm cỏ ngoài đồng hoặc ngồi đọc sách và tranh luận để nâng cao dần trí óc.

Chỉ vài tuần sau, Tuyết Tròn đã hoàn tất các tài liệu kĩ thuật về dự án cối xay gió. Các bản vẽ chi tiết phần cơ khí được soạn thảo dựa trên ba cuốn sách của ông Jones: “Một ngàn đồ vật hữu dụng trong gia đình”, “Tự làm thợ xây” và “Người bắt đầu làm thợ điện cần biết”. Tuyết Tròn dùng cái nhà kho, trước đây vốn là khu ấp trứng, làm văn phòng vì ở đó có một cái nền phẳng bằng gỗ rất thích hợp cho việc vẽ kĩ thuật. Tuyết Tròn ngồi trong đó hàng giờ liền. Nó lấy một hòn đá đè lên trang sách cần thiết, một chân kẹp viên phấn; nó nhảy qua nhảy lại, vừa nhảy vừa vẽ, đôi khi khoái quá lại rít lên khe khẽ. Dần dần, các bản vẽ bao gồm rất nhiều trục và bánh răng xoắn xuýt lấy nhau xếp kín gần nửa gian nhà kho, các con khác tuy chẳng hiểu gì nhưng vô cùng thán phục. Ngày nào lũ súc vật cũng đến xem các bản vẽ của Tuyết Tròn ít nhất một lần. Ngay cả lũ gà, vịt cũng tới, nhưng đứng xa xa dòm vào để không đạp phải các hình vẽ bằng phấn. Chỉ có Napoleon là không hề bận tâm. Nó phản đối ngay từ đầu. Mặc dù vậy, một hôm nó đã đến kiểm tra dự án mà không báo cho con nào biết trước. Nó đi xung quanh khu kho, rồi vào xem xét kĩ lưỡng các bản vẽ, hít chỗ này chỗ kia, rồi nhấc chân lên tè vào đấy một bãi, sau đó nó bình thản đi ra mà không thèm nói một lời nào.

Vì việc xây dựng cối xay gió mà trại chia làm hai phái đối địch nhau. Tuyết Tròn không giấu giếm rằng việc xây cối xay gió sẽ đòi hỏi một sự hy sinh to lớn. Phải khai thác, vận chuyển đá đến công trường, rồi xây, sau đó mới lắp cánh quạt, động cơ và dây điện (làm sao kiếm được những thứ đó thì Tuyết Tròn không nói). Nhưng nó vẫn khẳng định rằng có thể hoàn tất công trình trong vòng một năm. Còn sau đó, nó tuyên bố, công việc sẽ bớt đi rất nhiều và chúng sẽ chỉ phải làm ba buổi một tuần mà thôi. Ngược lại, Napoleon cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là sản xuất lương thực, nếu chúng phí thì giờ vào việc xây dựng cối xay gió thì chúng sẽ bị chết đói. Lũ súc vật chia thành hai phe; một phe đưa ra khẩu hiệu: “Ủng hộ Tuyết Tròn và ba ngày làm việc một tuần”; phe kia đưa ra khẩu hiệu: “Ủng hộ Napoleon và no bụng”. Chỉ có Benjamin là không tham gia phe phái nào. Nó không tin là rồi đây thức ăn sẽ dư thừa, cũng chẳng tin là cối xay gió sẽ giúp giảm công việc chân tay. Có cối xay hay không cối xay thì cũng thế thôi, chúng đã sống thế nào thì rồi cũng sẽ sống như vậy, nghĩa là còn khổ.

Ngoài cối xay gió thì chúng còn tranh cãi về việc phòng vệ nữa. Tất cả đều hiểu rằng tuy con người bị thua trong Chiến dịch Chuồng bò nhưng nhất định họ sẽ đánh một trận nữa, trận này sẽ dữ dội hơn, để giành lại trang trại cho ông Jones. Người ta nhất định sẽ làm như thế vì tin đồn về trận đại bại của con người đã lan khắp vùng thôn quê và lũ súc vật trong các trang trại khác đã trở nên ra bướng bỉnh hơn bao giờ hết. Cũng như mọi khi, Tuyết Tròn và Napoleon không tìm được tiếng nói chung. Theo Napoleon thì việc cần làm trước hết là tìm mua và tập sử dụng vũ khí nóng. Theo Tuyết Tròn thì việc cấp bách hiện nay là cử những đàn bồ câu đến các trang trại khác để kêu gọi khởi nghĩa ở đó. Một con cho rằng nếu chúng không tự phòng vệ được thì chúng nhất định sẽ bị người ta chinh phục, con kia thì nói rằng nếu khởi nghĩa nổ ra khắp nơi thì không cần phòng vệ nữa. Lũ súc vật nghe Napoleon rồi nghe Tuyết Tròn, nhưng không quyết định được là con nào đúng, thực ra cứ con nào đang nói là con ấy đúng, chúng chẳng có chính kiến gì hết.

Cuối cùng Tuyết Tròn đã hoàn tất toàn bộ bản vẽ đồ án của mình. Trong cuộc Họp vào hôm chủ nhật, vấn đề xây dựng cối xay gió được đưa ra biểu quyết. Tất cả lũ súc vật tập hợp đầy đủ trong nhà kho lớn, Tuyết Tròn phát biểu trước và mặc dù thỉnh thoảng lại bị bầy cừu chẹn họng, nó đã trình bày một cách đầy thuyết phục những lợi ích của cối xay gió. Sau đó đến lượt Napoleon. Nó tuyên bố một cách nhẹ nhàng rằng cối xay gió là chuyện nhảm nhí và khuyên mọi con chớ có ủng hộ dự án này; nó chỉ nói chừng ba mươi giây rồi bình thản ngồi xuống, có vẻ như nó cũng chẳng thèm quan tâm đến hiệu quả vừa tạo ra nơi thính giả. Tuyết Tròn đứng lên trên hai chân sau và lập tức ứng khẩu một bài diễn văn hùng hồn nhằm thuyết phục những con khác biểu quyết xây dựng cối xay gió, nó nói to đến nỗi át được cả bầy cừu. Trước đó trang trại vốn chia làm hai phe đều nhau, nhưng lần này Tuyết Tròn đã thuyết phục được đa số ủng hộ. Nó nói về tương lai của Trại Súc Vật, một tương lai vô cùng tươi sáng, khi lao động chân tay không còn đè nặng lên lưng chúng nữa. Trí tưởng tượng của nó còn đi xa hơn những máy thái rơm, máy thái củ cải. Điện, nó nói, có thể chạy máy gặt đập, máy cày, máy bừa, máy cán; ngoài ra còn cung cấp điện chiếu sáng, nước nóng, nước lạnh và lò sưởi cho tất cả các chuồng nữa. Có thể thấy kết quả biểu quyết ngay trước khi Tuyết Tròn kết thúc bài diễn văn. Nhưng đúng lúc đó thì Napoleon đứng lên, nó liếc xéo về phía Tuyết Tròn rồi rít lên lanh lảnh như tiếng còi, chưa con nào nghe thấy tiếng rít như thế bao giờ.

Có tiếng chó sủa dữ dội ở bên ngoài, rồi một bày chín con chó cực to, cổ đeo vòng đồng lao vào nhà kho. Chúng xông thẳng vào Tuyết Tròn, may mà cu cậu tránh được cú táp của lũ chó. Tuyết Tròn vội chạy ra ngoài, còn bầy chó thì rượt theo sau. Lũ súc vật còn lại vô cùng ngạc nhiên và hoảng sợ, cùng kéo nhau ra cửa để xem cuộc rượt đuổi. Tuyết Tròn chạy băng qua đồng cỏ để ra đường cái lớn. Nó chạy thục mạng, còn bày chó cũng luôn bám sát ngay sau. Bất thình lình cu cậu bị trượt chân, cứ tưởng bầy chó sẽ nhai nó đến nơi. Nhưng cu cậu lại gượng dậy được, lần này nó còn chạy nhanh hơn và bầy chó vẫn bám sát. Tưởng chừng như một con chó đã đớp được đuôi Tuyết Tròn rồi, may mà lúc ấy cu cậu kịp vẫy sang hướng khác. Nó lại tăng tốc và lần này bỏ xa lũ chó được một đoạn, rồi nó chui qua được một lỗ thủng bên hàng rào. Không con nào còn nhìn thấy Tuyết Tròn nữa.

Vô cùng hoảng sợ, lũ súc vật im lặng quay lại nhà kho. Lũ chó săn cũng trở về ngay sau đó. Lúc đầu con nào cũng tự hỏi: mấy con chó ấy ở đâu ra thế nhỉ? Nhưng sau đó thì điều ấy cũng chẳng phải là bí mật nữa: mấy con này đã bị Napoleon bắt từ lúc còn bé rồi mang đi nuôi riêng. Dù chưa phát triển hoàn toàn, nhưng trông chúng đã to và dữ không khác gì chó sói. Chúng đứng ngay cạnh Napoleon. Chúng cũng vẫy đuôi mừng Napoleon như những con khác thường mừng ông Jones vậy.

Napoleon, được lũ chó hộ tống, bước lên cái bục mà trước đây Thủ Lĩnh từng đứng nói chuyện. Nó tuyên bố rằng từ nay các cuộc Họp vào ngày chủ nhật hàng tuần sẽ bị hủy bỏ. Nó nói rằng những cuộc Họp đó là vô bổ, chỉ mất thì giờ. Từ nay các vấn đề liên quan đến công việc của trang trại sẽ do một ủy ban toàn lợn và chủ tịch là Napoleon giải quyết. Đấy sẽ là các cuộc Họp kín, nghị quyết sẽ được thông báo cho toàn trại sau. Các con vật sẽ vẫn tiếp tục tập họp vào sáng chủ nhật để chào cờ, hát “Súc Sinh Anh quốc” và nhận công việc sẽ làm trong tuần sau nhưng không còn các cuộc thảo luận nữa.

Mặc dù bị sốc vì vụ trục xuất Tuyết Tròn, quyết định hủy bỏ các cuộc thảo luận làm cả bọn thất vọng hoàn toàn. Một số con chắc chắn sẽ phản đối nếu chúng tìm được lí lẽ khả dĩ. Ngay Võ Sĩ cũng cảm thấy bất an. Nó dựng tai lên, rung rung bờm mấy lần, ý nghĩ cứ nhảy lung tung và dù rất cố gắng nó vẫn chẳng biết phải nói thế nào. Nhưng mấy con lợn thì dẻo miệng hơn. Bốn con lợn thịt ở hàng đầu gào lên phản đối, rồi cả bốn con cùng nhảy dựng lên đồng thanh nói. Nhưng những con chó đứng quanh Napoleon đã sủa vang và mấy con lợn đó đành phải ngậm miệng, im lặng về chỗ. Sau đó là lũ cừu với bài tụng “Bốn chân tốt, hai chân xấu” kéo dài khoảng mười lăm phút, chấm hết mọi cuộc bàn thảo. Chỉ Điểm được cử đi giải thích cho những con khác.

“Thưa các đồng chí”, Chỉ Điểm nói, “Tôi hy vọng rằng tất cả các đồng chí đều đánh giá cao sự hy sinh của đồng chí Napoleon khi đồng chí ấy đứng ra cáng đáng công việc lãnh đạo trại. Các đồng chí đừng nghĩ rằng lãnh đạo là việc dễ! Ngược lại, đấy là trách nhiệm cực kì nặng nề và khó khăn. Không có ai trong chúng ta tin tưởng một cách sâu sắc bằng đồng chí Napoleon rằng tất cả các con vật sinh ra đều bình đẳng. Đồng chí ấy sẽ rất sung sướng nếu các bạn có thể tự quyết định lấy số phận của mình. Nhưng ai có thể đảm bảo rằng đôi khi các đồng chí sẽ không có quyết định sai, khi đó trại của chúng ta sẽ ra sao? Ví dụ các đồng chí có thể đi theo tên Tuyết Tròn với cái cối xay gió hão huyền của nó, đi theo một tên mà hành tung không khác gì một tên tội phạm thì sao?”

“Anh ta đã chiến đấu một cách dũng cảm trong Chiến dịch Chuồng bò”, có con lên tiếng.

“Dũng cảm không chưa đủ”, Chỉ Điểm nói, “Lòng trung thành và sự phục tùng còn quan trọng hơn. Nói về Chiến dịch Chuồng bò, tôi tin rằng sẽ đến lúc chúng ta thấy vai trò của Tuyết Tròn đã bị thổi phồng một cách quá đáng. Kỉ luật, thưa các đồng chí, kỉ luật sắt! Đấy là khẩu hiệu của chúng ta trong giai đoạn hiện nay. Chỉ một bước đi sai lầm là kẻ thù sẽ tấn công ngay. Chắc chắn là các đồng chí không muốn lão Jones quay lại chứ?”

Lí lẽ của nó quả là khó bác bỏ được. Chắc chắn là không có con nào muốn lão Jones quay về rồi, nếu những cuộc tranh cãi vào các ngày chủ nhật tạo cớ cho lão Jones trở về thì chúng sẽ không tranh cãi nữa. Chiến Sĩ đã suy nghĩ kĩ, nó thay mặt tất cả phát biểu:

“Đồng chí Napoleon nói gì cũng đúng. Đồng chí Napoleon không bao giờ sai.”

Từ đó ngoài “Tôi sẽ cố gắng hơn nữa”, Chiến Sĩ còn có thêm một khẩu hiệu mới: “Đồng chí Napoleon lúc nào cũng đúng”.

Thời tiết đã ấm dần lên, bắt đầu một mùa cày mới. Khu kho, nơi Tuyết Tròn vẽ thiết kế cối xay gió đã bị đóng cửa và có lẽ các bản vẽ cũng bị xoá rồi. Cứ mười giờ sáng chủ nhật là lũ súc vật lại tụ tập trong nhà kho lớn để nhận nhiệm vụ sản xuất cho cả tuần sau. Sọ của Thủ Lĩnh, nay chỉ còn xương được đào lên và đặt trên một gốc cây, cạnh khẩu súng, dưới chân cột cờ. Sau khi dự lễ kéo cờ, lũ súc vật phải trịnh trọng bước đều ngang qua nơi đặt sọ Thủ Lĩnh rồi mới đi vào nhà kho. Nay chúng cũng không còn ngồi lẫn lộn với nhau như mọi khi nữa. Napoleon, Chỉ Điểm và Kế Tục, một con heo có biệt tài trong việc soạn bài hát và làm thơ ngồi trên cái bục gỗ, chín con chó làm thành nửa vòng tròn bao quanh, những con lợn khác ngồi ở phía sau. Những con vật còn lại ngồi trên nền nhà. Napoleon đọc bản phân công công việc cho tuần sau, rồi chúng hát một lần bài “Súc Sinh Anh quốc” và giải tán.

Ngày chủ nhật thứ ba, kể từ khi trục xuất Tuyết Tròn, lũ súc vật bỗng nghe Napoleon tuyên bố rằng nhất định phải xây dựng cối xay gió. Nó không giải thích vì sao lại thay đổi quyết định, nhưng bảo rằng nhiệm vụ này đòi hỏi mọi con phải cố gắng, hi sinh rất nhiều, không lọai trừ khả năng là phải cắt bớt khẩu phần ăn hàng ngày nữa. Dự án đã được lập đến từng chi tiết. Một ủy ban toàn lợn đã nghiên cứu dự án này suốt ba tuần qua. Việc xây dựng cối xay gió và các công trình phụ trợ khác có thể kéo dài trong hai năm.

Buổi chiều, Chỉ Điểm đến giải thích cho từng con rằng thực ra Napoleon không chống đối việc xây dựng cối xay gió. Ngược lại, ngay từ đầu nó đã ủng hộ dự án và những bản vẽ mà chúng thấy trong khu ấp trứng chính là do Tuyết Tròn đánh cắp của Napoleon. Cối xay gió là sáng kiến riêng của Napoleon. Thế thì tại sao – một số con hỏi – trước đây Napoleon lại kiên quyết chống? Chỉ Điểm tỏ ra rất ranh mãnh. Đấy – nó giải thích – đấy là sự khôn khéo của đồng chí Napoleon. Đồng chí ấy chỉ giả vờ chống để có thể tống khứ Tuyết Tròn, kẻ thù nguy hiểm có thể dẫn chúng vào con đường lầm lạc bất cứ lúc nào. Bây giờ, khi Tuyết Tròn không còn thì chúng có thể tiến hành mà không sợ nó gây rối nữa. Đấy gọi là chiến thuật, Chỉ Điểm nói. Nó nhắc đi nhắc lại: “Chiến thuật, các đồng chí, đấy chính là chiến thuật” rồi vừa mỉm cười vừa nhảy xung quanh, đuôi ngoáy tít. Lũ súc vật chẳng hiểu gì, nhưng Chỉ Điểm nói rất hùng hồn đồng thời ba con chó đi cùng với nó bỗng sủa ầm lên, nên chúng đành chấp nhận mà không hỏi gì thêm nữa.

Chương VI

Suốt năm đó lũ súc vật phải làm lụng quần quật không khác gì nô lệ. Nhưng làm việc đối với chúng là một niềm vui, chúng không tiếc sức, chúng sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh vì chúng biết rằng chúng đang làm việc cho mình và cho con cháu mình chứ không phải cho một lũ người lười biếng, trộm cắp nữa.

Suốt mùa xuân và mùa hè chúng đã làm việc sáu mươi tư tiếng một tuần, nhưng sang tháng tám thì Napoleon tuyên bố là sẽ làm cả chiều chủ nhật. Công việc này là hoàn toàn tự nguyện, nhưng con nào vắng mặt sẽ bị cắt một nửa khẩu phần. Mặc dù vậy, chúng vẫn không hoàn thành được kế hoạch đã đề ra. Năm nay thu hoạch kém hơn năm ngoái, chúng cũng không kịp trồng củ cải trên hai khu ruộng vì cày bừa quá chậm. Có thể thấy trước rằng mùa đông tới sẽ có nhiều khó khăn.

Việc xây dựng cối xay gió cũng gặp không ít rắc rối. Ngay trong trang trại đã có một mỏ đá vôi tốt, cát cũng không thiếu, còn xi măng thì sẵn trong kho; mọi vật tư xây dựng đều có đủ. Nhưng có một vấn đề mà lũ súc vật không thể giải quyết ngay được, đấy là làm thế nào đập được đá thành những viên có kích thước như ý. Có vẻ như chỉ có một cách là dùng cuốc chim và xà beng; nhưng không con nào biết sử dụng những thứ ấy vì chúng không thể đứng trên hai chân sau được. Phải mất mấy tuần lễ mày mò chúng mới biết cách lợi dụng lực hút của trái đất. Những tảng đá lớn, không thể dùng được nằm dưới đáy mỏ đá vôi. Lũ súc vật lấy dây quấn xung quanh những hòn đá, sau đó cả bọn, nào bò, nào ngựa, nào cừu, bất cứ con nào có thể bám vào dây đều có mặt, khi khẩn cấp cả bọn lợn cũng nắm lấy dây và kéo từ từ theo bờ dốc, rồi chúng thả rơi hòn đá xuống đáy cho vỡ thành những mảnh nhỏ. Việc vận chuyển những viên đá vỡ không phải là khó. Ngựa vận chuyển bằng xe con, cừu thì mang từng viên một, ngay cả Muriel và Benjamin cũng tự thắng vào chiếc xe hai chỗ và tham gia chuyên chở. Đến cuối mùa hè thì chúng đã kiếm được đủ đá, công việc xây dựng bắt đầu, lũ lợn đóng vai giám sát và đốc công.

Nhưng việc xây dựng tiến hành rất chậm, tốn rất nhiều công sức. Chúng thường mất cả ngày mới kéo được một hòn đá lên đến đỉnh, nhưng khi thả xuống thì nó lại không vỡ. Không có Chiến Sĩ thì chẳng có việc gì nên hồn, một mình nó làm bằng tất cả những con khác cộng lại. Nếu hòn đá nặng quá, cả lũ bị nó lôi xuống thì bao giờ Chiến Sĩ cũng gắng hết sức để kéo lên. Ai cũng phải thán phục khi nhìn thấy nó, chân bám chặt vào đất, hơi thở gấp gáp, hai bên sườn đẫm mồ hôi, gắng sức kéo những hòn đá lên từng bước một. Bà Mập thỉnh thoảng lại nhắc nó đừng có lao lực quá, nhưng nó không nghe. Có vẻ như đối với nó thì hai câu khẩu hiệu: “Tôi sẽ cố gắng hơn nữa” và “Đồng chí Napoleon lúc nào cũng đúng” chính là đáp án cho mọi vấn đề. Nó lại nhờ con gà trống gọi dậy trước bốn mươi lăm phút chứ không phải nửa tiếng như trước đây. Những lúc rảnh rỗi, phải nói là bây giờ chúng không có nhiều thời giờ rỗi nữa, nó đi một mình ra mỏ đá, xếp những hòn vỡ lại và kéo lên chỗ xây cối xay gió mà không cần con nào giúp.

Dù có phải làm việc vất vả nhưng đời sống lũ súc vật trong mùa hè cũng không đến nỗi nào. Chúng không được ăn nhiều hơn thời còn ông Jones, nhưng cũng không ít hơn. Bù lại, chúng chỉ phải làm để tự nuôi mình, chúng không phải nuôi lũ người gồm những năm tên tham ăn nữa, chỉ riêng điều này đã đủ động viên chúng vượt qua mọi khó khăn chồng chất. Thêm nữa, cách làm của lũ súc vật nhiều khi lại hiệu quả và nhanh. Ví dụ việc làm cỏ được chúng thực hiện nhanh, gọn hơn người nhiều. Bây giờ không còn con nào ăn cắp nên cũng không cần chữa hàng rào và cổng giữa khu đồng cỏ và khu canh tác nữa. Nhưng từ mùa hè đó bắt đầu có sự thiếu hụt, nay thứ này, mai thứ khác. Chúng cần dầu đốt, đinh, dây thừng, bánh cho chó, sắt để làm móng ngựa, Trại Súc Vật không sản xuất được những thứ này. Sau đó là đến hạt giống, phân hóa học, các lọai công cụ như cuốc, xẻng, rồi còn thiết bị cho cối xay gió nữa. Không con nào biết cách mua những thứ đó.

Một sáng chủ nhật, khi lũ súc vật tập trung nhận nhiệm vụ cho tuần tới, Napoleon bỗng tuyên bố rằng nó đã quyết định tiến hành một chính sách mới. Từ nay trở đi Trại Súc Vật sẽ buôn bán với các trại lân cận: dĩ nhiên là không phải vì lợi nhuận mà chỉ để mua một số vật dụng thật sự cần thiết thôi. Nhiệm vụ xây dựng cối xay gió là tối cần thiết đối với chúng ta, nó nói như thế. Vì vậy mà nó đã thương thảo về việc bán cỏ và một phần lúa mì vụ vừa rồi, sau này, nếu cần tiền nữa thì có thể phải bán trứng, nhu cầu về trứng ở Willingdon là rất cao. Các bạn gà, Napoleon nói, phải lấy làm tự hào vì đã có những đóng góp đặc biệt trong việc xây dựng cối xay gió.

Một lần nữa lũ súc vật lại cảm thấy lo lắng. Không quan hệ với con người, không tham gia buôn bán, không sử dụng tiền – chả lẽ đấy không phải là những quyết định được thông qua trong cuộc Họp đầu tiên mừng chiến thắng sau khi đuổi được lão Jones ư? Tất cả mọi con vật đều nhớ là chúng đã từng thông qua những quyết định ấy, hay ít nhất chúng nghĩ rằng chúng nhớ là như thế. Bốn con lợn, những con đã đứng lên phản đối khi Napoleon tuyên bố hủy bỏ những cuộc Họp cuối tuần lại định lên tiếng, nhưng chúng phải vội vã ngậm miệng vì bầy chó đã sủa ầm ĩ lên rồi. Cũng như mọi khi, lũ cừu lại tụng “Bốn chân tốt, hai chân xấu!” và mọi sự đâu vẫn hoàn đấy. Cuối cùng, Napoleon giơ chân lên đề nghị trật tự và tuyên bố là nó đã giải quyết ổn thỏa mọi chuyện rồi. Không con nào phải tiếp xúc với loài người, việc đó thật chẳng hay ho gì. Nó sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về công việc nặng nề đó. Một luật sư hiện sống ở Willingdon tên là Whymper đã đồng ý làm trung gian giữa Trại Súc Vật và các trang trại lân cận, ông ta sẽ đến nhận nhiệm vụ vào các buổi sáng thứ hai hàng tuần. Giống như mọi khi, Napoleon kết thúc bài diễn văn bằng cách hô khẩu hiệu “Trại Súc Vật muôn năm” và sau khi hát bài “Súc Sinh Anh quốc”, lũ súc vật giải tán.

Sau đó Chỉ Điểm lại đi một vòng quanh trại để làm công tác tư tưởng. Nó cam đoan rằng quyết định không buôn bán và không sử dụng tiền chưa hề được đưa ra biểu quyết chứ đừng nói là thông qua. Đấy chỉ là chuyện bịa đặt, mà nếu theo dõi từ khởi kì thủy thì có thể do Tuyết Tròn bịa ra cũng nên. Nhưng một số con vẫn còn chưa tin, thế là Chỉ Điểm hỏi: “Đồng chí có chắc là không tưởng tượng ra như thế chứ? Đồng chí có tài liệu nào khẳng định chuyện đó không? Quyết định đó được ghi ở đâu ?”. Chắc chắn là những quyết định đó không được ghi chép ở đâu cả, cho nên cuối cùng lũ súc vật tin là chúng đã lầm.

Thứ hai nào ông Whymper cũng đến trang trại. Ông là một luật sư, dáng người nhỏ nhắn, để tóc mai dài, mới bắt đầu đi vào làm ăn, nhưng khá ranh mãnh, nhận ngay ra rằng nhất định Trại Súc Vật sẽ cần một người môi giới và tiền hoa hồng dĩ nhiên là phải “đậm”. Lũ súc vật sợ Whymper và tìm cách tránh càng xa càng tốt. Dù sao thì việc Napoleon đứng trên bốn chân ra lệnh cho Whymper đứng trên hai chân cũng tạo ra trong lòng chúng niềm tự hào chính đáng và phần nào xoa dịu được phản ứng đối với chính sách mới. Quan hệ của chúng với giống người đã không hoàn toàn như trước đây nữa. Lòng thù hận của giống người đối với Trại Súc Vật không những không giảm mà còn tăng vì nó ngày càng thịnh vượng hơn. Ai cũng tin là trước sau gì thì cái trại này cũng phá sản, còn cối xay gió thì thất bại là cái chắc. Họ thường tụ tập trong các quán bia rồi vẽ sơ đồ để chứng minh rằng cối xay gió nhất định sẽ sập, mà nếu không sập thì cũng sẽ chẳng hoạt động được. Nhưng dù không thích, họ vẫn phải nể lũ súc vật vì chúng quản lí trang trại khá hiệu quả. Chứng cớ là họ đã bắt đầu gọi trại này là Trại Súc Vật và đã thôi giả đò là nó vẫn mang tên là Điền Trang. Họ cũng không còn ủng hộ ông Jones nữa, ông này đã mất hết hy vọng chiếm lại được trang trại và đã đi làm ăn ở nơi khác rồi. Tuy hiện nay mọi quan hệ giữa Trại Súc Vật với thế giới bên ngoài đều thông qua Whymper, nhưng người ta đồn rằng Napoleon sắp sửa kí kết hợp đồng thương mại hoặc là với Trại Cáo của Pilkington hoặc là với Trại Keo của Frederick, nhưng thiên hạ cũng nói rằng sẽ không có chuyện kí với cả hai trại cùng một lúc.

Cũng khoảng thời gian đó lũ lợn đột ngột chuyển vào sống trong toà nhà chính. Lần này lũ súc vật cũng cho rằng ngay từ những ngày đầu tiên chúng đã thông qua quyết định là không con nào được dọn vào sống trong ngôi nhà chính. Chỉ Điểm lại thuyết phục được chúng rằng chúng đã lầm. Loài lợn là bộ óc của cả trại, nó nói, cho nên cần phải dành cho các đồng chí ấy những chỗ yên tĩnh để làm việc. Lãnh tụ (thời gian gần đây nó bắt đầu gọi Napoleon là lãnh tụ) phải sống ở một nơi xứng đáng chứ không thể cứ sống mãi trong chuồng heo được. Tuy vậy, một số con tỏ ra lo lắng khi nghe nói rằng lũ lợn không những ăn trong bếp và nghỉ trong phòng khách mà còn ngủ cả trên giường nữa. Chiến Sĩ vẫn nói “Đồng chí Napoleon lúc nào cũng đúng”, nhưng Bà Mập thì cho rằng chắc chắn là có qui định cấm ngủ trên giường nên đã đi ra đầu hồi nhà kho để xem Bảy Điều Răn. Nhưng nó chỉ nhận được mặt chữ chứ không thể ghép vần được, nó đành đi tìm Muriel.

“Muriel”, Bà Mập bảo, “đọc cho tôi nghe Điều Răn Thứ Tư. Có phải là không bao giờ được ngủ trên giường không?”

Muriel phải đánh vần mãi mới xong.

“Điều Răn này viết: Không con vật nào được ngủ trên giường có trải dra”, Muriel nói.

Thật là kì, Bà Mập nhớ là Điều Răn Thứ Tư đâu có nói khăn trải giường, nhưng nếu đã ghi rõ trên tường như thế thì chắc là thế thôi. Đúng lúc đó thì Chỉ Điểm cùng với hai hay ba con chó vô tình đi ngang qua.

“Thưa các đồng chí”, nó nói, “tôi nghĩ rằng các đồng chí biết là loài lợn chúng tôi đã ngủ trên giường rồi? Tại sao lại không nhỉ? Chả lẽ các đồng chí lại cho rằng có qui định cấm ngủ trên giường à? Giường là gì, chỉ là chỗ để nằm ngủ mà thôi. Nói đúng ra thì một ổ rơm trong chuồng cũng là giường. Qui định là cấm ngủ trên khăn trải, vì đấy là sản phẩm của con người. Chúng tôi đã bỏ hết khăn trải giường đi rồi, bây giờ chúng tôi chỉ dùng chăn thôi. Giường phải nói là rất tiện! Nhưng cũng không phải là quá xa xỉ, tôi có thể nói với các đồng chí rằng đấy chính là thứ cần cho những người làm việc trí óc như chúng tôi. Chả lẽ các đồng chí lại không muốn cho chúng tôi được nghỉ ngơi hay sao? Chả lẽ các đồng chí lại muốn chúng tôi kiệt sức hay sao? Chắc chắn là không có ai trong các đồng chí muốn lão Jones quay lại chứ?”

Bọn súc vật khẳng định với nó rằng chúng không nghĩ như vậy và từ đó cũng không con nào còn nhắc đến việc lũ lợn ngủ trên giường nữa. Mấy ngày sau có thông báo rằng từ nay trở đi loài lợn sẽ dậy muộn hơn những loài khác một tiếng, lần này thì không có con nào phàn nàn gì cả.

Mùa thu tới, lũ súc vật tuy mệt nhưng vui. Năm qua là một năm vất vả, phải bán một phần cỏ và ngũ cốc nên dự trữ cho mùa đông không được dư giả lắm, nhưng cối xay gió đã đền bù mọi công khó của chúng. Cối xay gió đã xây dựng được gần một nửa rồi. Sau vụ thu hoạch thời tiết rất thuận lợi, lũ súc vật làm việc miệt mài chưa từng thấy, chúng sẵn sàng đi lại, khuân vác suốt ngày miễn là bức tường cứ ngày một cao thêm, dù chỉ một ít. Ban đêm Chiến Sĩ còn tranh thủ làm thêm một, hai tiếng dưới ánh trăng. Lúc rảnh rỗi lũ súc vật thường đi dạo xung quanh cái công trình xây dựng đó; chúng ngắm nhìn những bức tường đứng thẳng và chắc chắn, rồi tự hỏi chả lẽ chúng đã xây được cái công trình tráng lệ như thế này ư. Chỉ có Benjamin là vẫn như cũ, nó chẳng nói gì, ngoại trừ câu cửa miệng là lừa sống dai lắm.

Tháng mười một bắt đầu có gió tây nam. Việc xây dựng bị ngưng trệ vì trời ẩm quá, không thể trộn vữa được. Một đêm gió mạnh đến nỗi mái nhà tốc ngói, tường cũng như muốn lung lay sắp đổ. Lũ gà thức giấc và kêu quang quác vì cả bọn cùng mơ thấy như có tiếng súng nổ ở đâu đó. Buổi sáng, khi lũ súc vật đi ra khỏi chuồng thì thấy cột cờ đã đổ từ bao giờ, còn cây du ở cuối vườn thì đã bị trốc gốc không khác gì người ta nhổ cây củ cải. Nhưng đấy chưa phải đã hết, trước mặt chúng còn một cảnh tượng khủng khiếp hơn nhiều. Cối xay gió đã bị đổ sập hoàn toàn. Tất cả cùng đồng thanh thét lên vì thất vọng.

Chúng lao về phía công trường. Napoleon vốn vẫn cho rằng chạy là việc hạ đẳng cũng ba chân bốn cẳng chạy ngay đầu đoàn. Thế là xong, tất cả đã thành công toi, những viên đá mà chúng phải khó nhọc mới đập vỡ và vận chuyển tới được nay nằm ngổn ngang khắp nơi. Không nói nên lời, chúng đứng lặng, đau khổ ngắm nhìn đống đá đổ. Napoleon im lặng đi đi lại lại, thỉnh thoảng gí mũi xuống đất để ngửi. Đuôi nó duỗi thẳng, đập qua đập lại rất mạnh, chứng tỏ nó đang suy nghĩ rất lung. Nó bỗng dừng lại, có nghĩa là nó đã tìm được giải pháp.

“Thưa các đồng chí”, nó bình tĩnh nói, “các đồng chí có biết ai phải chịu trách nhiệm về việc này không? Kẻ nào đã phá hoại, kẻ nào đã phá sập cối xay gió của chúng ta đêm qua? Tuyết Tròn!”, nó bỗng gào lên, “chính Tuyết Tròn chứ không ai. Tên phản bội đầy thù hận đó đã nhẫn tâm tìm cách phá chúng ta và trả thù về việc nó bị trục xuất một cách nhục nhã, nó đã lợi dụng đêm tối để mò vào và phá hủy toàn bộ thành quả lao động suốt một năm trời nay của chúng ta. Hôm nay, tại đây, tôi tuyên bố kết án tử hình Tuyết Tròn. Ai giết được nó sẽ được phong Súc Vật Anh Hùng hạng hai và được thưởng một nửa thùng táo. Ai bắt sống được nó sẽ được thưởng một thùng táo.”

Con nào cũng vô cùng căm tức khi biết tin Tuyết Tròn đã phạm tội ác tày trời như thế. Hờn căm bộc phát thành tiếng thét, con nào cũng nghĩ cách bắt sống Tuyết Tròn nếu nó còn lảng vảng đâu đây. Chúng còn phát hiện ra dấu chân lợn ở trên đám cỏ ngay gần khu đồi. Dấu chân kéo dài khoảng chục mét, có vẻ như hướng về chỗ có lỗ thủng trên hàng rào. Napoleon hít lấy hít để những dấu chân ấy và sau đó tuyên bố rằng đấy là chân Tuyết Tròn. Napoleon nói rằng có thể Tuyết Tròn đi từ hướng Trại Cáo tới.

“Chậm nghĩa là chết”, Napoleon tuyên bố sau khi xem dấu chân xong, “phải tiếp tục công việc, thưa các đồng chí! Chúng ta sẽ bắt đầu khôi phục cối xay gió ngay từ sáng hôm nay, chúng ta sẽ làm trong suốt mùa đông này, mặc cho gió mưa, giá rét. Chúng ta sẽ dạy cho tên phản bội khốn nạn đó một bài học là nó không thể ngăn cản được chúng ta. Xin các đồng chí nhớ cho: kế hoạch của chúng ta vẫn không thay đổi. Chúng ta nhất định sẽ hoàn thành việc xây dựng cối xay gió đúng thời hạn. Các đồng chí, tiến lên! Cối xay gió muôn năm! Trại Súc vật muôn năm!”.

Chương VII

Mùa đông năm đó rất khắc nghiệt. Bão rồi đến mưa, sau đó là tuyết và băng giá, sang tháng hai mà băng chưa tan. Thế mà lũ súc vật vẫn miệt mài xây dựng lại cối xay gió, chúng biết rằng người ta đang theo dõi chúng và bọn người độc ác ấy sẽ có cớ để vui mừng nếu chúng không hoàn thành công trình đúng hạn.

Để trêu tức chúng, người ta còn làm ra vẻ không tin là Tuyết Tròn đã phá cối xay gió, họ bảo rằng nó sập là do tường mỏng quá. Nhưng lũ súc vật thì tin chắc là không phải thế. Dù sao chúng cũng quyết định sẽ xây tường dày một mét chứ không phải bốn mươi phân như trước đây nữa, và như vậy thì cần phải khai thác nhiều đá hơn trước. Mỏ đá chìm dưới tuyết trong một thời gian dài nên không thể bắt đầu được. Sau đó thì trời tuy có lạnh nhưng khô ráo, nhưng công việc quả là khủng khiếp, lũ súc vật không còn hăng hái như xưa nữa. Chúng không những bị lạnh mà còn thường xuyên bị đói. Chỉ có Chiến Sĩ và Bà Mập là vẫn nhiệt tình. Chỉ Điểm động viên phong trào bằng những buổi nói chuyện, nó chứng minh một cách hùng hồn rằng lao động là hạnh phúc và vinh quang. Nhưng những buổi nói chuyện của Chỉ Điểm cũng không có tác dụng, chính sức khoẻ và câu “Tôi sẽ cố gắng hơn nữa” của Chiến Sĩ là nguồn động viên rất lớn đối với những con khác.

Lương thực bắt đầu cạn vào tháng giêng. Khẩu phần bằng ngũ cốc bị cắt bớt, thay vào đó là khoai tây. Khi đó lại phát hiện ra là đa số khoai tây đánh đống đã bị nhũn vì không được che đậy cẩn thận, số ăn được còn lại chẳng đáng là bao. Nhiều hôm chúng chỉ được ăn mỗi cỏ và củ cải. Nạn đói bắt đầu đe doạ.

Tin này dứt khoát phải giữ kín, không được để cho người xung quanh biết. Phấn chấn vì vụ sập cối xay gió người ta càng tung nhiều tin thất thiệt về Trại Súc Vật hơn. Người ta đồn nào là lũ súc vật sắp sửa chết vì đói và bệnh đến nơi, nào là chúng đánh nhau suốt ngày, nào là chúng đang ăn thịt lẫn nhau, rồi giết cả những con non nữa. Napoleon hiểu rằng sẽ có nhiều phiền toái nếu người ngoài biết trại đang gặp khó khăn về lương thực nên nó quyết định dùng Whymper làm công cụ phản tuyên truyền. Trước đây lũ súc vật thường đứng xa xa mỗi khi Whymper ghé vào trại, nhưng bây giờ một số con được chọn, chủ yếu là cừu, được phép đến gần và làm như vô tình, nói rằng dạo này khẩu phần có tăng. Ngoài ra, Napoleon còn ra lệnh đổ cát cho gần đầy bồ bịch trong kho rồi lấy ngũ cốc và bột phủ lên trên. Mỗi khi có dịp là chúng lại dẫn Whymper đi ngang qua nhà kho để ông ta có thể nhìn thấy lương thực chứa trong đó. Whymper đã bị xỏ mũi và thường nói với mọi người là Trại Súc Vật vẫn đủ lương thực.

Mặc dù vậy, đến cuối tháng giêng thì thấy rõ là phải tìm cách mua thêm ngũ cốc. Dạo này Napoleon ít khi đi ra ngoài, nó ngồi lì trong ngôi nhà chính, các cửa ra vào đều có những con chó dữ canh phòng nghiêm ngặt. Nếu nó đi ra ngoài thì bao giờ cũng có sáu con chó hộ tống xung quanh, bọn này lập tức nhe nanh gầm gừ, đe dọa khi thấy những con khác đến gần. Nó cũng không còn tham gia các buổi Họp ngày chủ nhật nữa mà giao cho một con lợn khác, thường là Chỉ Điểm, đọc bảng phân công công việc.

Một lần, vào chủ nhật, Chỉ Điểm tuyên bố là lũ gà mái, bọn này vừa bắt đầu đẻ, phải giao nộp trứng. Thông qua Whymper, Napoleon đã kí hợp đồng cung cấp bốn trăm quả trứng mỗi tuần. Tiền bán trứng đủ mua lương thực cho đến mùa hè và khi đó mọi sự sẽ dễ dàng hơn.

Lũ gà mái gào toáng lên. Trước đây chúng cũng đã được nhắc nhở là cần phải hy sinh, nhưng không ngờ mọi sự lại tồi tệ đến như vậy. Chúng đã chuẩn bị tổ cho vụ ấp xuân, chúng tuyên bố là bây giờ mà lấy trứng thì khác gì sát sinh. Kể từ ngày trục xuất ông Jones, đây là lần đầu tiên có một cuộc tụ tập giống như bạo loạn. Ba con gà mái tơ giống Minorca cầm đầu cuộc nổi dậy chống lại kế họach của Napoleon. Biện pháp của chúng là bay lên xà nhà và đẻ xuống cho trứng vỡ. Napoleon hành động nhanh chóng và quyết liệt. Nó hạ lệnh không cho bọn gà mái ăn nữa và còn tuyên bố là con nào cho bọn gà dù chỉ một hạt thóc sẽ bị tử hình ngay lập tức. Lũ chó được phân công theo dõi. Bọn gà mái cầm cự được năm ngày, cuối cùng đã phải đầu hàng và trở về đẻ vào tổ như cũ. Chín con gà mái chết. Chúng bị coi là chết vì bệnh cầu trùng và được chôn trong vườn. Whymper không hề biết chuyện này và đều đặn tuần nào cũng có một chiếc xe đến lấy trứng.

Không thấy Tuyết Tròn đâu. Có tin đồn là nó trốn trong Trại Cáo hay Trại Keo gì đó. Quan hệ giữa Napoleon với các trại xung quanh đã được cải thiện phần nào. Lúc đó chúng bỗng phát hiện được một đống gỗ trong sân trại, số gỗ này bị đốn cách đây khoảng chục năm. Số gỗ tìm được thật đúng lúc, Whymper khuyên Napoleon đem bán, cả Pilkington và Frederick đều muốn mua. Napoleon lưỡng lự, không biết nên bán cho ai. Cứ hễ nó định bán cho Frederick thì có tin nói là Tuyết Tròn đang trốn trong Trại Cáo, mà khi nó ngả sang Pilkington thì lại có tin Tuyết Tròn đang trong Trại Keo.

Đầu tháng giêng, toàn trại bỗng sôi động vì một tin bất ngờ như sét đánh giữa trời quang. Hoá ra là Tuyết Tròn vẫn thường bí mật thâm nhập trại vào ban đêm! Lũ súc vật lo lắng đến mất ngủ. Đồn rằng đêm nào Tuyết Tròn cũng mò vào phá hoại. Nó ăn trộm lương thực, hất đổ các xô sữa, đạp vỡ trứng, dẫm nát các đám mạ và nhai vỏ cây trong vườn. Khó khăn thất bại nào cũng bị qui là tại Tuyết Tròn. Nếu cửa sổ bị vỡ hay ống thoát nước bị tắc là y như rằng có con nói là tại Tuyết Tròn phá, ngay khi chìa khóa nhà kho bị mất thì cả trại cũng cho rằng Tuyết Tròn đã ném xuống giếng. Điều lạ là sau khi đã tìm thấy chìa khóa bên dưới túi bột thì cả trại vẫn tin là tại Tuyết Tròn. Lũ bò khẳng định rằng ban đêm Tuyết Tròn chui vào chuồng và vắt trộm sữa khi chúng ngủ. Đồn rằng lũ chuột, bọn này từng gây nhiều rắc rối vào mùa đông vừa rồi, cũng liên kết với Tuyết tròn.

Napoleon hạ lệnh phải điều tra thật kĩ những hoạt động của Tuyết Tròn. Napoleon, được mấy con chó hộ tống, khảo sát một vòng tất cả các toà nhà trong trại, trong khi những con khác đi theo xa xa phía sau. Nó bảo nó có thể đánh hơi được Tuyết Tròn nên cứ đi vài bước lại dừng lại và ngửi đất để tìm dấu vết. Góc nào nó cũng ngửi, ngửi cả nhà kho, chuồng bò, chuồng gà, vườn rau và chỗ nào cũng có dấu vết Tuyết Tròn cả. Nó dí mũi xuống đất vài lần rồi hít vào thật sâu, sau đó tuyên bố bằng một giọng nghe đã rợn người: “Tuyết Tròn! Hắn đã mò đến đây! Ta đã nhận ra mùi của nó!”, cứ nghe mỗi từ “Tuyết Tròn” là lũ chó lại nhe nanh và sủa phụ họa.

Tất cả run lên vì sợ. Có cảm tưởng như tên Tuyết Tròn bí ẩn và đầy quyền năng đang ẩn náu đâu đây, rất gần và sẵn sàng trút tai họa xuống đầu chúng. Tối hôm đó, Chỉ Điểm gọi tất cả lại và với bộ mặt nghiêm trọng nó bảo rằng có một số tin khẩn cấp cần thông báo.

“Thưa các đồng chí!”, nó gào lên, “chúng tôi đã phát hiện ra một tội ác không thể tha thứ được. Tuyết Tròn đã bán mình cho Frederick của Trại Keo, lão này vẫn đang dự định tấn công để cướp trại của chúng ta! Một khi chiến tranh xảy ra thì Tuyết Tròn sẽ làm nhiệm vụ dẫn đường. Nhưng nó còn táng tận lương tâm hơn thế nhiều. Trước đây chúng ta từng nghĩ rằng Tuyết Tròn gây rối là do tính tự phụ và ham hố quyền lực. Nhưng thưa các đồng chí, chúng ta đã lầm. Các đồng chí có biết lí do thật sự nằm ở đâu không? Ngay từ đầu nó đã liên kết với lão Jones! Nó là gián điệp nằm vùng của lão Jones. Chứng cớ đã được thể hiện trong những tài liệu mà nó để lại và chúng ta mới tìm thấy gần đây. Thưa các đồng chí, tôi cho rằng điều đó lí giải nhiều việc. Chả lẽ chúng ta chưa nhận ra là nó đã cố gắng, may mà không thành, làm cho chúng ta thua và tan rã trong Chiến dịch Chuồng bò hay sao?”

Tất cả đều ngớ ra. Tội ác này thật quá khủng khiếp, vượt xa việc phá hoại cối xay gió. Phải một lúc sau chúng mới nhận thức được hết tính chất nghiêm trọng của sự việc. Tất cả chúng vẫn nhớ, hay chúng tưởng là vẫn nhớ hình ảnh của Tuyết Tròn khi nó xông lên dẫn đầu cuộc tấn công trong Chiến dịch Chuồng bò, khi nó đoàn kết và cổ vũ chúng, khi nó không buông bỏ dù đã bị lão Jones bắn bị thương. Thật khó tưởng tượng làm sao chuyện đó lại xảy ra nếu như nó là gián điệp của lão Jones. Ngay cả Chiến Sĩ, vốn kiệm lời, cũng cảm thấy bối rối. Chiến Sĩ nằm xuống, co hai chân trước vào bụng, nhắm mắt lại, cố gắng tập trung tư tưởng và cuối cùng nói:

“Tôi không tin, trong Chiến dịch Chuồng bò Tuyết Tròn đã chiến đấu dũng cảm. Chính mắt tôi nhìn thấy như thế. Chẳng phải chúng ta đã phong nó làm Súc vật Anh hùng hạng nhất ngay sau chiến dịch là gì?”

“Thưa các đồng chí, đấy chính là sai lầm của chúng ta. Bây giờ chúng ta biết rằng, những việc này đều ghi rõ trong các tài liệu mật mà chúng ta mới tìm thấy, nó định dụ chúng ta vào bẫy cho bọn kia tiêu diệt.”

“Nhưng nó cũng bị thương”, Chiến Sĩ nói, tất cả chúng ta đều nhìn thấy máu chảy khi nó đang chạy.”

“Đấy là do đã sắp đặt từ trước!”, Chỉ Điểm gào lên, “phát súng của lão Jones chỉ sượt qua người nó thôi. Ước gì các đồng chí biết đọc để tôi có thể chỉ cho các đồng chí thấy tên Tuyết Tròn đã viết rõ bằng giấy trắng mực đen như thế nào. Chúng đã thoả thuận là vào lúc nguy kịch nhất thì Tuyết Tròn sẽ hạ lệnh rút lui, nhường trận địa cho địch quân. Và nó đã suýt thành công, tôi có thể nói rằng nó chắc chắn sẽ thành công nếu như không có nhà Lãnh đạo Anh hùng, Đồng chí Napoleon kính mến của chúng ta. Các bạn còn nhớ lúc lão Jones và gia nhân tiến vào sân chứ? Tuyết Tròn quay lưng bỏ chạy và nhiều con đã chạy theo hắn. Chả lẽ các bạn không nhớ rằng đúng lúc đó, khi mà hỗn loạn bắt đầu lan ra và có vẻ như vỡ mặt trận đến nơi, thì đồng chi Napoleon xông lên và hô “Giết!” rồi lao thẳng vào chân lão Jones ư? Thưa các đồng chí, chắc chắn các đồng chí nhớ tình tiết đó!”, Chỉ Điểm vừa nói vừa nhảy từ bên này sang bên kia.

Bây giờ, khi Chỉ Điểm mô tả sống động như thế thì lũ súc vật dường như đã nhớ ra. Dù sao thì chúng cũng nhớ rõ là Tuyết Tròn đã quay đầu chạy đúng vào lúc nguy ngập. Nhưng Chiến Sĩ thấy vẫn chưa ổn.

“Tôi không tin là Tuyết Tròn đã phản bội ngay từ đầu”, nó nói, “sau này lại là chuyện khác. Tôi tin rằng trong Chiến dịch Chuồng bò Tuyết Tròn vẫn là một đồng chí tốt.”

“Lãnh tụ của chúng ta, đồng chí Napoleon”, Chỉ Điểm nói một cách chậm rãi và kiên quyết, “đã tuyên bố dứt khoát, tôi xin nhắc lại, thưa các đồng chí, tuyên bố dứt khoát rằng ngay từ đầu Tuyềt Tròn đã là gián điệp của lão Jones, từ trước khi chúng ta nghĩ đến Khởi nghĩa cơ.”

“Thế thì khác!”, Chiến Sỹ bảo. “Đồng chí Napoleon đã nói thì nhất định đúng.”

“Đấy là một thái độ thực sự cầu thị, thưa các đồng chí!”, Chỉ Điểm reo lên, nhưng mọi con đều thấy đôi mắt ti hí, đảo điên, hằn học của nó chiếu thẳng vào Chiến Sĩ. Nó đã định đi, nhưng còn nói thêm đầy đe dọa, “Tôi xin báo trước là các bạn phải cảnh giác. Có đầy đủ cơ sở để nghĩ rằng trong trại này vẫn còn tay sai của Tuyết Tròn đấy!”

Bốn ngày sau, buổi chiều, Napoleon hạ lệnh tất cả phải có mặt ngoài sân. Khi tất cả đã đến đủ thì Napoleon xuất hiện, ngực đeo hai huy chương (nó mới tự phong cho mình danh hiệu Súc vật anh hùng bậc I và Súc vật anh hùng bậc II) với chín con chó to lớn, vừa chạy quanh vừa sủa to đến nỗi lũ súc vật sợ đến nổi gai ốc. Chúng ngồi yên lặng, thu mình lại, như chờ đợi một trận cuồng phong dữ dội.

Napoleon nghiêm khắc nhìn đám đông, rồi rít lên lảnh lảnh như tiếng còi. Ngay lập tức lũ chó lao vào cắn tai bốn con lợn thịt, mấy con đó ngất đi vì đau và sợ, rồi kéo đến chân Napoleon. Máu chảy ra từ tai mấy con lợn, và lũ chó phát điên lên khi ngửi thấy mùi máu tươi. Chúng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy ba con chó lao vào Chiến Sĩ. Chiến Sĩ liền giơ chân lên tóm lấy một con và đè xuống đất. Con đó vội kêu ầm lên xin tha mạng, hai con kia cụp đuôi lại, bỏ chạy. Chiến Sĩ nhìn Napoleon có ý hỏi nên xéo chết hay nên thả con chó bị giữ. Napoleon thay đổi nét mặt và hạ lệnh cho Chiến Sĩ thả, thế là Chiến Sỹ nhấc chân lên, con chó thảm hại, mình mảy thâm tím, vừa lết đi vừa rên ư ử.

Trật tự nhanh chóng được vãn hồi. Bốn con lợn nằm chờ số phận, người run bắn, tội lỗi hiện rõ trên từng nét mặt. Napoleon hạ lệnh cho chúng phải thú nhận tội lỗi. Đấy chính là bốn con lợn đứng lên phản đối khi Napoleon quyết định hủy bỏ những cuộc Họp vào ngày chủ nhật. Ngay lập tức chúng thú nhận đã từng bí mật tiếp xúc với Tuyết Tròn từ khi nó bị trục xuất khỏi trại, đã giúp nó phá cối xay gió và thỏa thuận cùng với nó bán đứng Trại Súc Vật cho Frederick. Chúng còn khai thêm rằng Tuyết Tròn đã nói với chúng rằng nó là gián điệp của lão Jones từ nhiều năm trước. Khi chúng vừa nói xong thì lũ chó lao lên cắn đứt cổ họng cả bốn con, sau đó Napoleon, bằng một giọng đe doạ, nghe đã nổi gai gà, hỏi có con nào thấy cần phải thú tội không.

Ba con gà cầm đầu cuộc nổi loạn về trứng bước lên phía trước và tuyên bố rằng chúng mơ thấy Tuyết Tròn kích động chúng bất tuân mệnh lệnh của Napoleon. Chúng cũng bị hành quyết. Sau đó có một con ngỗng bước ra và thú nhận đã lấy sáu bông lúa trong vụ mùa vừa qua để đến đêm ăn. Rồi một con cừu cái thú nhận đã bị Tuyết Tròn xúi giục đái vào bể nước ăn, rồi hai con cừu nữa thú nhận đã hành hạ đến chết một con cừu đực già, con này đặc biệt trung thành với Napoleon, chúng đuổi nó chạy quanh đống lửa khi nó bị ho. Tất cả những con này đều bị tử hình ngay tại chỗ. Cứ thế, hành quyết đi liền ngay sau lời thú tội. Chẳng mấy chốc dưới chân Napoleon đã là một đống xác, còn không khí thì nồng nặc mùi máu tươi, một cảnh tượng chưa từng có từ ngày ông Jones bị trục xuất.

Những con vật còn lại sau vụ hành quyết, tất nhiên không kể lũ chó và lũ lợn, tụ tập thành một đám và lặng lẽ bò ra khỏi sân. Trông chúng thật nhỏ nhoi và khốn nạn. Chúng không hiểu giữa sự phản bội của những con liên kết với Tuyết Tròn và sự trừng phạt dã man mà chúng vừa chứng kiến, cái nào gây sốc mạnh hơn. Ngày xưa chúng đã từng chứng kiến những cảnh thảm sát không kém phần man rợ, nhưng lần này sự việc rõ ràng khủng khiếp hơn vì đây là chúng giết lẫn nhau. Từ ngày lão Jones ra đi đến giờ chưa có con nào bị giết cả. Ngay cả chuột cũng chưa bị giết. Chúng đi lên khu đồi rồi cùng nằm sát vào nhau cho ấm bên cạnh cái cối xay gió đang xây dở: Bà Mập nằm cạnh Mona, Benjamin, rồi đến bầy bò, cừu, gà, ngỗng, vắng mỗi con mèo, nó đã lỉnh ngay trước khi Napoleon triệu tập. Chúng nằm yên lặng. Chỉ có Chiến Sĩ là vẫn đứng. Nó cứ đi đi lại lại, đuôi đập liên hồi vào hai bên sườn, thỉnh thoảng lại hí khe khẽ đầy lo âu. Cuối cùng nó nói:

“Tôi chẳng hiểu gì cả. Không thể nào tin được là chuyện đó có thể xảy ra trong trại của chúng ta. Có thể là chính chúng ta cũng có lỗi. Chỉ có một lối thoát, đấy là làm việc nhiều hơn. Từ nay tôi sẽ dậy trước một tiếng đồng hồ.”

Rồi nó buồn bã bước về khu mỏ đá. Cu cậu nhặt đầy hai xe và kéo đến công trường xây dựng trước khi đi ngủ.

Lũ súc vật túm tụm cạnh Bà Mập nhưng vẫn không có con nào lên tiếng. Từ trên đỉnh đồi chúng có thể nhìn thấy toàn cảnh khu vực. Chúng trông thấy gần như toàn bộ Trại Súc Vật – bãi chăn thả kéo dài đến tận con đường chính, đồng trồng cỏ, rừng cây, bể nước, cánh đồng trồng trọt với những cây lúa mì đang lên xanh tốt và mái ngói của những ngôi nhà trong trang trại với những vệt khói ngoằn ngoèo. Đấy là một buổi chiều mùa xuân, trời quang mây tạnh. Ánh chiều tà đổ vàng trên thảm cỏ và trên những bờ dậu phía xa xa. Chúng ngạc nhiên nhớ lại rằng trang trại này là của chúng, mỗi thước đất ở đây đều là tài sản của chúng, mỗi thước đất đều đáng quí xiết bao. Bà Mập nhìn ra xa, mắt đẫm lệ. Nếu có thể nói hết được những điều nó nghĩ thì chắc chắn nó sẽ nói rằng đấy không phải là điều chúng định làm khi chúng quyết định lật đổ ách thống trị của giống người. Trong cái đêm Thủ Lĩnh già kêu gọi chúng khởi nghĩa, chúng không thể nào tưởng tượng lại có cảnh khủng bố và giết hại hàng loạt như ngày hôm nay. Nếu lúc đó nó có nghĩ về tương lai thì đấy phải là một xã hội của những con vật không còn bị đói, không còn bị đòn roi, tất cà đều bình đẳng, tất cả đều làm việc theo năng lực, con khoẻ bảo vệ con yếu, như nó từng bảo vệ lũ vịt con mồ côi trong cái đêm Thủ Lĩnh già nói chuyện đó. Thế mà, nó không thể hiểu vì sao, giờ đây không con nào còn dám nói lên ý nghĩ thật của mình nữa, lũ chó săn hung dữ lùng sục khắp nơi và tất cả phải chứng kiến cảnh giết hại các đồng chí sau khi những con này thú nhận đã phạm những tội ác tày trời. Nhưng trong đầu nó không hề có một ý nghĩ bất tuân hay tạo phản nào. Dù sao chúng vẫn sướng hơn thời còn lão Jones và điều chính yếu là phải ngăn chặn con người quay trở lại. Dù thế nào thì nó cũng vẫn trung thành với sự nghiệp, tiếp tục lao động quên mình, hoàn thành mọi nhiệm vụ, tiếp tục đi theo con đường mà Napoleon đã chọn. Nhưng chả lẽ đấy chính là điều chúng hằng ao ước, là cái chúng đã khổ công mới tạo dựng được? Không, chúng xây cối xay gió với một mục đích hoàn toàn khác, cuộc chiến đấu sống còn với lão Jones cũng là để tạo dựng một xã hội khác hẳn cái mà chúng nhận được ngày hôm nay. Đấy là những ý nghĩ lướt qua đầu Bà Mập, nhưng nó không thể nói thành lời.

Không thể tìm được lời để nói, Bà Mập đành hát bài ” Súc Sinh Anh quốc”, đấy cũng là một cách thể hiện những tình cảm đang cuộn dâng trong lòng. Các con khác lập tức hát theo. Chúng hát ba lần, tiếng hát du dương, chậm và buồn; chưa bao giờ chúng hát như thế.

Khi chúng vừa hát xong lần thứ ba thì Chỉ Điểm, có hai con chó hộ tống, tiến lại. Cứ trông dáng chúng là biết ngay có tin quan trọng cần phải thông báo gấp. Nó tuyên bố rằng bài “Súc Sinh Anh quốc” đã bị hủy bỏ theo một nghị định đặc biệt của Đồng chí Napoleon. Từ nay trở đi cấm không con nào được hát bài đó nữa.

Các con vật đều ngớ ra.

“Tại sao?”, Muriel hỏi.

“Thưa các đồng chí, bài hát này đã lỗi thời rồi”, Chỉ Điểm lạnh lùng nói, “Bài “Súc Sinh Anh quốc” là bài hát kêu gọi khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn. Vụ hành quyết chiều nay chính là trận cuối cùng đấy. Kẻ thù, cả bên trong lẫn bên ngoài đều đã bị đánh bại. Bài “Súc Sinh Anh quốc” nói lên ước mơ của chúng ta về một xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai. Xã hội đó đã xây dựng xong. Bài hát này rõ ràng là không còn cần thiết nữa.”

Dù đã rất hoảng sợ, nhưng chắc chắn sẽ có con đứng lên phản đối nếu như lúc đó lũ cừu không tụng ngay như thường lệ: “Bốn chân tốt, hai chân xấu”, chúng tụng liền mấy phút thành ra không con nào còn có ý kiến gì được nữa.

Không con nào còn hát “Súc Sinh Anh quốc” nữa. Thay vào đó, Kế Tục, một thi sĩ mới nổi, đã viết một bài hát khác, bắt đầu như sau:
Súc Vật Trại này, Súc Vật Trại này
Kẻ thù đến sẽ tan thây.

Từ đó trở đi bao giờ chúng cũng hát bài này sau lễ kéo cờ vào các sáng chủ nhật hàng tuần. Nhưng lũ súc vật cho rằng cả nhạc điệu lẫn lời bài mới đều không hay bằng bài “Súc Sinh Anh quốc” trước đây.

Chương VIII

Vài ngày sau, khi nỗi sợ hãi do vụ thảm sát tạo ra đã lắng xuống thì có mấy con đã nhớ được, hay tưởng là nhớ được rằng Điều Răn Thứ Sáu nói: “Loài vật không được giết hại lẫn nhau”. Dù không dám nói ra khi đứng gần lũ chó và lợn, nhưng cả bọn đều cho là những vụ giết chóc vừa qua không phù hợp với Điều Răn Thứ Sáu. Bà Mập yêu cầu Benjamin đọc cho nghe Điều Răn Thứ Sáu, nhưng cũng như mọi khi, Benjamin bảo rằng nó không dây vào những chuyện như vậy. Bà Mập đành đi tìm Muriel để nhờ đọc. Điều ấy được viết như sau: “Loài vật không được giết hại lẫn nhau nếu không có lí do”. Hoá ra là chúng đã quên mấy từ cuối. Nhưng như vậy là Điều Răn này vẫn được tôn trọng, những tên phản bội liên kết với Tuyết Tròn đáng bị giết quá đi chứ.

Năm nay chúng còn làm việc vất vả hơn năm trước rất nhiều. Ngoài những công việc thường nhật của trang trại, chúng còn phải xây dựng lại cối xay gió với những bức tường dày gấp đôi, mà lại phải hoàn thành đúng kế họach. Có những lúc chúng thấy phải làm nhiều hơn mà lại được ăn không khác gì thời còn ông Jones. Sáng chủ nhật nào Chỉ Điểm cũng cầm một mảnh giấy dài và đọc cho chúng nghe các số liệu chứng minh rằng sản lượng các loại lương thực, thực phẩm đều tăng, khi thì hai trăm, khi thì ba trăm, khi thì năm trăm phần trăm. Chúng chẳng thấy có lí do gì để nghi ngờ, nhất là vì chúng đã quên, chẳng còn nhớ gì quá khứ trước ngày Khởi Nghĩa nữa. Tuy thế, đôi khi chúng thấy thà số liệu ít đi mà thức ăn nhiều thêm thì vẫn hơn.

Mọi mệnh lệnh bây giờ đều được Chỉ Điểm hay một con lợn khác đưa xuống. Napoleon chỉ xuất hiện nửa tháng một lần. Mỗi lần nó xuất hiện thì ngoài bầy chó hộ tống còn có một con gà trống màu đen đi trước, giống như lính thổi kèn trong đội kị binh, con gà này bao giờ cũng gáy “Ò ó o…” thật to trước khi Napoleon hắng giọng bắt đầu bài diễn văn. Có tin nói rằng ngay trong ngôi nhà chính Napoleon cũng có một phòng riêng, tách biệt hẳn với những con lợn khác. Nó ăn riêng, khi ăn bao giờ cũng có hai con chó đứng hầu, bát đĩa đều bằng sứ, trước đây, hồi còn ông Jones những thứ này vốn để trong tủ phòng khách và chỉ đem ra dùng trong những ngày lễ trọng. Có thêm một quyết định mới là từ nay sẽ bắn súng chào mừng ba lần, một lần vào ngày sinh của Napoleon và hai lần khác vào những ngày lễ lớn của trại.

Bây giờ chúng không xưng hô với Napoleon đơn giản như trước nữa. Tên nó luôn đi kèm với những từ như “Lãnh tụ của chúng ta, Đồng chí Napoleon”, lũ lợn còn cố gắng phát minh ra các tên mới như: Cha của các loài vật, Nỗi khiếp sợ của giống người, Người bảo vệ của loài cừu, Bạn của loài vịt v.v… Mỗi khi nói về trí tuệ, lòng nhân từ, tình yêu thương sâu như trời biển của Napoleon dành cho súc vật, đặc biệt là những con còn phải sống trong vòng nô lệ tối tăm của các trang trại khác là nước mắt Chỉ Điểm lại chảy ướt đẫm hai gò má. Mọi thành tích đều được qui về cho Napoleon. Có thể nghe thấy hai con gà mái tâm sự: “Dưới sự dẫn dắt của Đồng chí Napoleon, Lãnh tụ của chúng ta, tôi đã đẻ được năm quả trứng trong sáu ngày vừa rồi”; hay hai con bò vừa uống nước vừa nói: “Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đồng chí Napoleon mà nước dạo này mới ngọt làm sao!”. Tâm trạng chung của trại được thể hiện trong bài thơ mang tên: “Đồng chí Napoleon” do Kế Tục sáng tác:
Đồng chí Napoleon!
Người là cha của những đứa trẻ mồ côi,
Là suối nguồn hạnh phúc muôn đời,
Là vầng thái dương chiếu sáng bầu trời.
Ánh mắt người ấm mãi lòng tôi.

Đồng chí Napoleon!
Người cho tôi bữa ăn lúc đói lòng.
Người cho tôi nệm rơm ấm mùa đông.
Người ngồi canh,
Cho bầy con giấc ngủ yên lành.

Con ơi!
Hạnh phúc muôn đời,
Là nhờ Đồng chí Napoleon.
Tên cha tên mẹ tên chồng,
Con có thể quên.
Nhưng tên người,
Vầng thái dương chiếu sáng đời đời
Con phải nhớ mãi không thôi:
Napoleon, Napoleon, người ơi!

Napoleon chấp nhận bài thơ và bảo viết lên bức tường nhà kho lớn, bên cạnh Bảy Điều Răn. Bên trên bài thơ là hình Napoleon nhìn nghiêng do Chỉ Điểm vẽ bằng sơn trắng.

Trong khi đó, Napoleon, qua trung gian là Whymper, đang tiến hành những cuộc đàm phán rắc rối với Frederick và Pilkington. Vẫn chưa bán được đống gỗ. Frederick muốn mua lắm, nhưng lại trả giá quá thấp. Đồng thời lại có tin đồn rằng Frederick và lũ gia nhân đang âm mưu tấn công Trại Súc Vật để phá cối xay gió vì lão ghét cay ghét đắng ngôi nhà này. Nghe nói Tuyết Tròn vẫn đang trốn trong Trại Keo. Đến giữa mùa hè thì lũ súc vật lại được một phen hoảng loạn khi nghe đồn có ba con gà tự thú đã bị Tuyết Tròn xúi giục mưu sát Napoleon. Chúng bị hành quyết ngay lập tức và các biện pháp an ninh nghiêm ngặt hơn cho Napoleon đã được thực hiện. Từ nay trở đi, ban đêm sẽ có bốn con chó, mỗi con canh một góc giường, đồng thời để tránh bị đầu độc, một con chó tên là Pinkeye được phân công nếm tất cả thức ăn trước khi Napoleon dùng.

Cũng khoảng thời gian đó có tin Napoleon đã quyết định bán gỗ cho Pilkington; hơn thế, nó còn dự định sẽ thiết lập việc trao đổi sản phẩm thường xuyên giữa Trại Súc Vật và Trại Cáo nữa. Quan hệ giữa Napoleon và Pilkington, dù chỉ mới qua trung gian là Whymper, đã trở nên khá thân tình. Pilkington, cũng như mọi người nói chung, chẳng bao giờ được lũ súc vật tin, nhưng dù sao thì chúng cũng thích hơn Frederick là người chúng vừa ghét vừa sợ. Càng đến cuối mùa hè, khi mà cối xay gió đã sắp xong, thì tin đồn về cuộc tấn công phản trắc càng tăng. Có người nói rằng Frederick dự định dùng đội quân gồm hai mươi người đầy đủ súng ống để tấn công và đã mua chuộc chính quyền cũng như cảnh sát để được tự do hành sự. Ngoài ra, tin tức về những việc làm thất đức của hắn đối với các con vật trong Trại Keo cũng được tiết lộ. Hắn đánh đến chết một con ngựa già, hắn bỏ đói bầy bò, hắn ném một con chó vào bếp lò, chiều nào hắn cũng kích động cho bọn gà trống đá nhau, mà không đá nhau suông, hắn còn buộc dao cạo râu vào cựa gà để tìm cảm giác mạnh nữa. Khi nghe nói các đồng chí của mình bị đối xử một cách man rợ như vậy thì máu con nào cũng sôi lên vì giận, đôi khi chúng thét lên đòi kéo nhau đi tấn công Trại Keo, đuổi cổ giống người đi, giành lại tự do cho lũ súc vật ở đó. Nhưng Chỉ Điểm khuyên chúng tránh hành động một cách nóng vội và hãy tin tưởng vào đường lối chiến lược của Đồng chí Napoleon.

Lòng căm thù đối với Frederick tăng lên từng ngày. Một hôm, vào ngày chủ nhật, Napoleon xuất hiện trong nhà kho để giải thích cho lũ súc vật là nó chưa bao giờ nghĩ sẽ bán gỗ cho Frederick, nó bảo những loại như vậy không xứng đáng để nó giao tiếp. Những con bồ câu vẫn được phái đi kêu gọi súc vật trong các trại khác đứng lên khởi nghĩa bị cấm không được lai vãng đến gần Trại Cáo, khẩu hiệu: “Đả đảo loài người!” được thay bằng: “Đả đảo Frederick!”. Đến cuối mùa hè thì một tội ác nữa của Tuyết Tròn được phát hiện. Lần này là cánh đồng lúa mì mọc đầy cỏ dại – sau khi điều tra mới phát hiện ra rằng ban đêm Tuyết Tròn đã lẻn vào trại rồi trộn hạt cỏ vào thóc giống. Một con ngỗng đực đồng phạm trong vụ này đã thú nhận tội lỗi với Chỉ Điểm và sau đó nuốt ngay một quả cà độc dược tự sát. Lũ súc vật còn được thông báo rằng, không phải như nhiều con vẫn tin, Tuyết Tròn chưa bao giờ được phong danh hiệu Súc vật Anh hùng bậc I. Chuyện ấy là do chính Tuyết Tròn bịa ra ngay sau chiến dịch Chuồng bò. Nó không những không được khen thưởng mà con bị phê phán nặng nề vì đã tỏ ra hèn nhát khi lâm trận. Cũng như mọi khi, tin này làm một số con bối rối, nhưng Chỉ Điểm đã nhanh chóng thuyết phục được chúng rằng thực ra là do chúng mau quên mà thôi.

Cối xay gió được xây dựng xong vào mùa thu, đúng vào lúc thu hoạch vụ mùa, chúng đã phải làm việc đến kiệt sức. Dù còn phải lắp thiết bị nữa, Whymper đang đàm phán để mua, nhưng cái chính là đã xây xong nhà xưởng rồi. Biết bao nhiêu khó khăn, chưa có kĩ thuật và kinh nghiệm, lại còn bị Tuyết Tròn phá hoại, thế mà chúng vẫn hoàn thành công tác xây dựng đúng ngày giờ đã định! Dù rất mệt mỏi, lũ súc vật vẫn cố đi nhiều vòng quanh cối xay gió, lòng đầy tự hào, lúc này trông nó còn đẹp hơn lần xây đầu tiên. Đấy là chưa nói tường lần này dày gấp đôi lần trước. Bây giờ muốn phá mà không có thuốc nổ không xong! Và khi chúng nghĩ đến khối lượng công việc đã làm, những khó khăn đã vượt qua, những đổi thay sẽ tới khi cách quạt cối xay gió bắt đầu quay, khi máy phát điện bắt đầu chạy; khi chúng nghĩ đến những chuyện đó thì bao nhiêu mệt mỏi đều tan biến, chúng cùng nhau chạy vòng quanh cối xay gió, vừa chạy vừa reo hò ầm ĩ. Chính Napoleon, được mấy con chó và con gà trống hộ tống, cũng tới xem, nó chúc mừng cả lũ nhân dịp hoàn thành công trình và tuyên bố sẽ đặt tên công trình là Nhà máy Napoleon.

Hai ngày sau, lũ súc vật được mời tới dự một phiên họp đặc biệt trong nhà kho. Chúng không thể nào tin được khi nghe Napoleon nói đã bán gỗ cho Frederick. Ngày mai xe của Frederick sẽ tới chở. Hoá ra thời gian qua Napoleon giả vờ thân thiện với Pilkington nhưng lại bí mật đàm phán với Frederick.

Mọi quan hệ với Trại Cáo đều bị cắt, một công hàm chứa đầy các từ ngữ có tính xúc phạm được gửi cho Pilkington. Đám bồ câu được lệnh tránh Trại Keo và thay khẩu hiệu “Đả đảo Frederick” thành “Đả đảo Pilkington”. Đồng thời Napoleon cũng cam đoan với lũ súc vật rằng lời đồn về vụ tấn công Trại Súc Vật là hoàn toàn vô căn cứ, cũng như việc Frederick đối xử tàn tệ với gia súc đã bị thổi phồng quá đáng. Chắc là Tuyết Tròn và tay sai đã tung ra các tin này. Hoá ra là Tuyết Tròn không những không trốn trong Trại Keo mà còn chưa bao giờ đến đấy nữa, thực ra là nó đang sống, theo người ta nói, thì khá sung túc trong Trại Cáo: nó đã bán mình cho Pilkington từ lâu.

Lũ lợn được dịp đưa Napoleon lên chín tầng mây. Giả vờ thân thiện với Pilkington, nó đã buộc Frederick phải trả thêm hai mươi bảng. Chỉ Điểm còn nói rằng Napoleon là một con heo siêu quần vì nó không bao giờ tin ai, không tin bất cứ con nào, không tin cả Frederick. Frederick muốn thanh toán bằng sec, nghĩa là bằng một tờ giấy có ghi rõ số tiền có thể nhận khi cần. Nhưng Napoleon tỏ ra khôn hơn hắn ta nhiều. Nó đòi thanh toán bằng tiền mặt, loại năm bảng, mà phải trả đủ tiền thì mới được mang gỗ đi. Frederick đã thanh toán hết, số tiền này đủ mua toàn bộ thiết bị cho cối xay gió.

Gỗ được chuyển đi khá nhanh. Khi số gỗ trong sân đã được đưa đi hết thì lũ súc vật lại được mời tham gia một cuộc họp đặc biệt để cùng kiểm tra số tiền do Frederick giao. Napoleon, ngực đeo hai tấm huy chương, miệng cười rất tươi, nằm ngả người trên nệm rơm, bên cạnh là cái đĩa sứ chất đầy những tập tiền mới cứng. Lũ súc vật lần lượt đi ngang qua, tha hồ ngắm nghía. Chiến Sĩ còn đưa mũi hít, những tờ giấy mới khẽ rung lên và phát ra tiếng kêu loạt xoạt.

Ba ngày sau thì xảy ra một vụ náo loạn. Hôm đó, Whymper, mặt trắng bệch như người sắp chết, phóng xe đạp như điên vào sân trại, vừa tới nơi đã quẳng xe xuống đất rồi vội vàng lao vào toà nhà chính. Gần như ngay lập tức người ta nghe thấy tiếng thét kinh hoàng phát ra từ phòng Napoleon. Tin tức truyền khắp trại nhanh như lửa chớp. Tiền do Frederick thanh toán là giả hết! Hắn đã ăn không số gỗ rồi!

Napoleon lập tức hạ lệnh tập trung và tuyên bố kết án tử hình Frederick. Thằng ấy đáng bị thiêu sống – nó bảo như vậy. Đồng thời nó cũng nói phải chuẩn bị tinh thần để đối phó với những tình huống xấu nhất. Frederick và gia nhân của hắn có thể tấn công bất cứ lúc nào. Phải cử lính canh trên mọi ngả đường dẫn vào trại. Ngoài ra, nó còn cử bốn con bồ câu mang theo thông điệp hữu hảo sang Trại Cáo để mong bình thường hóa quan hệ.

Ngay sáng hôm sau Frederick đã tổ chức tấn công. Lũ súc vật đang chuẩn bị ăn sáng thì con canh gác chạy vào báo rằng Frederick cùng gia nhân đã vượt qua cổng chính của trại. Không lưỡng lự, lũ súc vật lập tức xông lên, nhưng lần này chúng phải chiến đấu vất vả hơn chiến dịch Chuồng bò nhiều. Cả thảy có mười lăm người với khoảng nửa tá súng, ngay từ xa hơn một trăm mét họ đã nổ súng rồi. Tiếng súng vang lên đinh tai nhức óc, đạn ghém vãi như trấu, lũ súc vật không ngờ cuộc chiến lại dữ dội đến như thế nên mặc dù Napoleon và Chiến Sĩ ra sức động viện, chúng vẫn lùi dần. Một số con đã bị thương. Chúng chạy vào nấp trong các toà nhà rồi ghé mắt nhìn qua các lỗ thủng trên tường. Toàn bộ bãi chăn thả lớn, kể cả cối xay gió đã lọt vào tay địch quân. Ngay cả Napoleon cũng tỏ ra bối rối. Nó yên lặng đi đi lại lại, cái đuôi xoắn cứ đập hết bên này sang bên kia. Thỉnh thoảng nó lại nhìn về hướng Trại Cáo. Nếu Pilkington mang quân tiếp viện tới thì may ra mới có thể đánh đuổi được địch quân. Nhưng đúng lúc đó thì bốn con bồ câu được phái đi trước đó một ngày đã quay về. Một con ngậm miếng giấy trên ghi hai chữ “Đáng kiếp”.

Trong khi đó, Frederick và gia nhân đã tiến gần đến cối xay gió. Lũ súc vật chăm chú theo dõi, tiếng thì thầm lo lắng bắt đầu nổi lên. Có hai người mang búa và xà beng tới. Chắc là họ định phá cối xay gió.

“Không xong đâu!”, Napoleon gào lên, “Tường cối xay gió dày lắm, chúng không làm gì được đâu. Phải mất cả tuần là ít. Cứ bình tĩnh, các đồng chí!”

Nhưng Benjamin vẫn không rời mắt khỏi mọi động tĩnh. Hai người đang dùng búa và xà beng đào một cái hố ngay dưới chân tường cối xay gió. Benjamin gật gù cái mõm dài ngoằng, có vẻ như nó còn cảm thấy thú vị nữa.

“Tôi vẫn nghĩ như thế”, nó bảo, “các vị có biết chúng đang làm gì không? Chúng sẽ cho thuốc nổ vào hố đấy.”

Lũ súc vật sợ hãi chờ đợi. Không con nào dám liều mạng xông ra. Rồi chúng thấy bọn người chạy tản ra tứ phía. Một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên. Lũ bồ câu bay vọt lên, còn các con khác, trừ Napoleon thì vội nằm bẹp xuống, mặt dúi xuống đất. Khi ngẩng đầu lên thì chúng thấy một đám khói đen còn trùm lên khu vực cối xay gió. Khói tan dần. Cối xay gió đã bị đánh sập hoàn toàn!

Cảnh tượng làm lũ súc vật lập tức tỉnh ngộ. Hành động tàn bạo, bất lương đó làm cho chúng vô cùng tức giận. Không cần mệnh lệnh, chúng đồng loạt lao lên, xông thẳng vào địch quân, miệng gầm lên những tiếng thét căm hận đòi trả thù. Đạn ghém vãi như mưa trên lưng cũng không làm chúng nao núng. Chúng sẵn sàng hi sinh tất cả. Frederick và gia nhân bắn liên hồi kì trận và khi lũ súc vật đến gần thì dùng gậy đánh, chân đá. Một con bò, ba con cừu, hai con ngỗng bị giết, hầu như con nào cũng bị thương. Napoleon, đứng đằng sau chỉ huy cũng bị đạn bắn vào đuôi. Nhưng một số gia nhân của Frederick cũng bị sứt đầu mẻ trán. Ba người bị Chiến Sĩ đạp vỡ đầu, một người bị bò húc thủng bụng, một người nữa bị chó cắn rách quần. Khi chín con chó thuộc đội cận vệ của Napoleon được lệnh bọc sườn và vừa sủa vừa lao vào tấn công thì lũ người hoảng loạn. Họ hiểu rằng sắp bị bao vây. Frederick hạ lệnh rút lui, thế là địch quân hốt hoảng bỏ chạy. Lũ súc vật đuổi theo đến tận sát biên giới và tiếp tục húc vào mông người khi họ chui qua lỗ hàng rào ngăn cách hai trại.

Chúng đã thắng, nhưng chúng cũng đã kiệt sức vì mệt và bị thương. Chúng từ từ quay trở về trang trại. Cảnh hi sinh của đồng đội làm chúng cảm động đến trào nước mắt. Chúng đứng lặng bên cạnh đống xà bần của cối xay gió. Cối xay gió không còn, bao nhiêu công sức đã bị xoá sạch! Ngay cả móng cũng bị phá hỏng gần hết. Lần trước, khi xây lại, chúng còn có thể sử dụng những viên đá cũ. Bây giờ thì đá cũng không còn. Vụ nổ đã làm đá bắn vung vãi khắp nơi, xa đến cả trăm mét.

Khi chúng về gần đến trang trại thì Chỉ Điểm, không con nào nhìn thấy nó khi lâm trận, bỗng ở đâu tiến lại, đuôi vẫy nhặng lên có vẻ rất hài lòng. Lũ súc vật nghe thấy tiếng súng.

“Sao lại bắn súng thế nhỉ?”, Chiến Sĩ hỏi

“Để chào mừng chiến thắng”, Chỉ Điểm gào lên.

“Chiến thắng nào?”, Chiến Sĩ lại nói. Các đầu gối của nó đều bị rách, móng sắt thì bị tuột, bàn chân cũng bị thương, hai chân sau còn dính hàng chục mảnh đạn.

“Sao lại chiến thắng nào, thưa các đồng chí? Không phải là chúng ta vừa giải phóng đất đai, đất đai thiêng liêng của Trại Súc Vật của chúng ta đấy ư?”

“Nhưng chúng đã đánh sập cối xay gió, hai năm xây dựng chứ có ít đâu!”

“Thế thì đã sao? Chúng ta sẽ xây cái khác. Nếu muốn chúng ta có thể xây sáu cái một lúc. Có thể đồng chí chưa đánh giá hết chiến công vĩ đại vừa rồi của chúng ta. Kẻ thù đã chiếm được chính mảnh đất mà chúng ta đang đứng đây. Bây giờ, nhờ sự lãnh đạo của đồng chí Napoleon, chúng ta đã giành lại được từng tấc đất của chúng ta.”

“Chúng ta giành lại chính đất của mình”, Chiến Sĩ nói.

“Đấy chính là chiến thắng chứ còn gì nữa”, Chỉ Điểm bảo.

Cuối cùng chúng cũng lê được về đến sân trại. Những mảnh đạn còn nằm trong chân Chiến Sĩ nhức nhối không thể chịu nổi. Nó đã mường tượng được những nỗi cực nhọc, vất vả của quá trình xây dựng lại từ đầu cối xay gió và trong thâm tâm đã sẵn sàng lao vào công việc. Nhưng đây cũng là lần đầu tiên nó ý thức được rằng nó đã mười một tuổi rồi, sức vóc không còn được như mọi năm nữa.

Nhưng khi nhìn thấy lá cờ xanh đang tung bay, nghe thấy loạt súng chào mừng, hôm đó bắn những bảy loạt và nhất là sau khi nghe Napoleon cám ơn vì đã dũng cảm chiến đấu thì chúng thực sự cảm thấy vừa giành được một chiến thắng vĩ đại. Những con hi sinh được chôn cất chu đáo. Đoàn đưa tang do chính Napoleon dẫn đầu, phía sau là một chiếc xe song mã được dùng làm xe tang do Chiến Sĩ và Bà Mập kéo. Chúng nghỉ việc hai ngày liền để mừng chiến thắng. Chúng tổ chức hát, đọc diễn văn chào mừng và bắn súng; mỗi con gia súc được phát một quả táo, mỗi con gia cầm được sáu mươi gram thóc, mỗi con chó được ba cái bánh xốp. Sau đó có thông báo rằng trận đánh này được gọi là chiến dịch Cối xay gió, Napoleon quyết định thiết lập một danh hiệu mới gọi là “Huân chương cờ xanh” và gắn cho chính mình. Trong niềm vui chung dạt dào đó, không con nào còn nghĩ đến vụ tiền giả vừa rồi nữa.

Sau đó mấy ngày thì lũ lợn phát hiện được một thùng whisky trong tầng hầm của ngôi nhà chính. Chiều hôm đó những con khác bỗng nghe thấy tiếng hát vọng ra từ ngôi nhà chính và điều làm chúng ngạc nhiên hơn nữa là có cả những đoạn của bài “Súc Sinh Anh Quốc”. Rồi vào khoảng chín giờ rưỡi, lúc đó trời vẫn còn sáng, chúng thấy Napoleon chui ra khỏi cửa sau, đầu đội chiếc mũ phớt cũ của ông Jones, nó chạy nước kiệu quanh sân một vòng rồi đi vào. Sáng hôm sau một không khí im lặng bao trùm cả toà nhà chính. Không thấy một con lợn nào hay bất cứ động tĩnh gì xung quanh toà nhà. Mãi đến khoảng chín giờ Chỉ Điểm mới xuất hiện, mắt cu cậu trông đờ dẫn, đuôi buông thõng, chân bước uể oải, rõ là đang mệt nặng. Nó gọi tất cả lại và nói có một tin quan trọng cần phải thông báo. Đồng chí Napoleon đang hấp hối!

Tiếng gào khóc dậy lên. Chúng vội mang rơm đến trải xuống trước cửa ngôi nhà chính, không con nào dám bước mạnh. Nước mắt lưng tròng, chúng thì thầm hỏi nhau sẽ làm gì nếu như chẳng may lãnh tụ có mệnh hệ nào. Có tin đồn Tuyết Tròn đã đầu độc Napoleon. Mười một giờ Chỉ Điểm lại xuất hiện. Chỉ Điểm bảo rằng trước khi từ gĩa cõi đời, đồng chi Napoleon đã kí một nghị định, từ nay con nào uống rượu thì sẽ bị kết án tử hình.

Đến chiều có tin Napoleon đã đỡ và sáng hôm sau thì Chỉ Điểm thông báo rằng lãnh tụ đang bình phục. Chiều hôm đó Napoleon đã ngồi dậy làm việc và sáng hôm sau thì có tin là nó đã hạ lệnh cho Whymper mua ở Willingdon mấy cuốn sách dạy cất rượu bia. Một tuần sau Napoleon ra lệnh cày đám đất trước đây định dành làm bãi cỏ cho những con về hưu. Lũ súc vật được nghe giải thích rằng miếng đất ấy cằn cỗi quá, phải trồng cấy một thời gian để lấy màu, nhưng sau này mới rõ là Napoleon định trồng lúa mạch ở đó.

Cũng khoảng thời gian này đã xảy ra một sự kiện mà hầu như không con nào hiểu. Hôm ấy, đã gần nửa đêm, bỗng có tiếng động lớn vang lên ở ngoài sân, tất cả đều lao ra khỏi chuồng. Trăng hôm đó rất tỏ, cả bọn nhìn thấy gần đầu hồi nhà kho lớn, nơi có chép “Bảy Điều Răn”, một cái thang gãy làm đôi. Gần đấy là Chỉ Điểm, lúc đó đã bất tỉnh nhân sự, cái đèn bão cùng một hộp sơn màu trắng lăn lóc bên cạnh. Mấy con chó lập tức đứng thành vòng tròn xung quanh Chỉ Điểm và dìu nó về nhà chính khi nó vừa gượng dậy được. Có vẻ như ngoài Benjamin ra thì không con nào hiểu đã xảy ra chuyện gì, nhưng nó chỉ lắc đầu, không nói câu nào.

Mấy ngày sau, Muriel, trong khi đọc lại Bảy Điều Răn đã phát hiện ra chúng còn nhớ sai một điều nữa. Chúng tưởng rằng Điều răn thứ năm là “Không con vật nào được uống rượu”, nhưng chúng đã quên mất ba từ. Thực ra Điều Răn đó như sau: “Không con vật nào được uống rượu đến say xỉn”

Chương IX

Cái móng bị thương của Chiến Sĩ chữa mãi vẫn không khỏi. Trong khi đó lũ súc vật tiến hành khôi phục cối xay gió ngay sau lễ mừng chiến thắng. Chiến Sĩ không nghỉ ngày nào, nó rất tự hào là đã không để cho những con khác thấy nó đang bị đau. Chỉ đến tối nó mới bảo với Bà Mập là bị vết thương hành hạ. Bà Mập phải nhai lá cây và đắp vào vết thương cho Chiến Sĩ. Nó cùng với Benjamin thuyết phục Chiến Sĩ hãy tự bảo trọng.

“Phổi loài ngựa không được khoẻ đâu”, Nó nói.

Nhưng Chiến Sĩ không nghe. Nó bảo chỉ có một ước nguyện duy nhất là được trông thấy cối xay gió hoàn thành trước khi nghỉ hưu mà thôi.

Ngay từ khi mới thiết lập luật lệ của Trại Súc Vật, đã có qui định tuổi nghỉ hưu của ngựa và lợn là mười hai, của bò là mười bốn, của chó là chín, của cừu là bảy, còn của gà là năm. Chúng cũng đã thống nhất là sẽ không để cho những con về hưu phải thiếu thốn bất cứ thứ gì. Thực ra thì cho đến nay cũng chưa có con nào nghỉ hưu cả, nhưng thời gian gần đây vấn đề này rất hay được đem ra bàn thảo. Bây giờ, khi miếng đất cạnh khu vườn được đem đi trồng lúa mạch rồi thì lại có tin là một góc bãi cỏ dài sẽ được rào riêng ra cho những con già cả. Cũng có tin nói rằng ngựa hưu sẽ được lĩnh hai cân ngũ cốc mỗi ngày, đấy là mùa hè, còn mùa đông thì được bảy cân cỏ khô, ngày lễ thì còn được phát thêm một củ cà rốt hay một quả táo nữa. Sang năm Chiến Sĩ sẽ tròn mười hai tuổi.

Hiện nay đời sống của chúng phải nói là khá chật vật. Mùa đông năm nay lạnh không khác gì năm trước mà thực phẩm thì khan hiếm hơn. Khẩu phần, trừ của chó và lợn, đều bị cắt bớt. Tuyệt đối bình quân, Chỉ Điểm giải thích, là trái với nguyên tắc của Súc Sinh Kinh. Nó dễ dàng chứng minh cho những con khác thấy rằng thực ra là chúng có đủ lương thực, khan hiếm thực phẩm chỉ là giả tạo. Dĩ nhiên là lúc này cần phải có một sự điều chỉnh nhất định (Chỉ Điểm nói là “điều chỉnh” chứ không phải “cắt bớt”) nhưng nếu so với thời còn lão Jones thì sự cải thiện là rõ ràng. Bằng một giọng đọc nhanh và the thé chói tai, nó đưa ra những con số rất cụ thể, chứng minh rằng chúng thu được nhiều yến mạch, nhiều cỏ khô, nhiều củ cải hơn thời còn lão Jones, công việc lại nhẹ nhàng hơn, nước uống có chất lượng cao hơn, chúng sống lâu hơn, tỉ lệ trẻ sơ sinh sống sót cao hơn, chúng có nhiều rơm làm nệm hơn, ít chấy rận hơn. Mọi con đều tin như thế. Thực ra mà nói thì chúng cũng đã quên gần hết những chuyện thời ông Jones rồi. Chúng chỉ biết rằng cuộc sống hiện nay rất khó khăn, vất vả, chúng thường bị đói, bị rét và hễ mở mắt ra là chúng phải làm. Trước đây chắc là còn khó khăn nữa. Chúng vui lòng tin như thế. Ngoài ra, quan trọng hơn nữa là trước đây chúng là nô lệ, bây giờ chúng được tự do, Chỉ Điểm luôn nhấn mạnh như vậy.

Nhân khẩu ngày một tăng. Mùa thu vừa rồi có bốn chị lợn nằm ổ cùng một lúc, chúng sinh được những ba mươi mốt con cả thảy. Tất cả đều là lợn khoang, cả trại chỉ có một mình Napoleon là lợn giống nên có thể đoán ngay được chúng là con ai. Toàn trại được thông báo rằng hiện đang tiến hành mua gạch và gỗ, khi nào mua được thì sẽ xây lớp học. Còn hiện thời thì lũ lợn con sẽ được giao cho Napoleon dạy dỗ trong khu nhà bếp. Lũ lợn con được đưa ra vườn chơi nhưng bị cấm tiếp xúc với bọn thú con khác loài. Một điều luật mới cũng được đưa ra trong khoảng thời gian này, ấy là khi gặp nhau thì tất cả phải đứng sang bên, nhường đường cho lợn đi trước; đồng thời, giống lợn, không phân biệt chức vụ được đeo băng xanh ở đuôi vào các ngày chủ nhật.

Năm nay là một năm khá thành công, nhưng tiền thì vẫn thiếu. Còn phải mua gạch, vôi và cát để xây trường học; lại còn phải tiết kiệm để mua máy móc cho cối xay gió nữa. Rồi phải mua dầu thắp, nến và đường cho riêng Napoleon (nó cấm những con lợn khác ăn đường vì sợ chúng sẽ bị tăng trọng) và bao nhiêu thứ khác như dụng cụ, đinh, dây thừng, than, dây thép, tấm lợp và bánh bích qui cho chó nữa. Phải bán một phần cỏ khô và khoai tây, hợp đồng bán trứng gà đã tăng lên đến sáu trăm quả mỗi tuần, thành thử số gà gần như không tăng, nếu không nói là giảm vì số trứng chúng để lại ấp quá ít. Tháng mười hai đã giảm khẩu phần một lần, tháng hai lại bị giảm một lần nữa và để tiết kiệm, từ nay ban đêm không được thắp đèn trong chuồng nữa. Nhưng lũ lợn có vẻ như vẫn sống khoẻ, chí ít con nào cũng lên cân. Một lần, vào buổi chiều tháng hai, trong khu sân trại bỗng có một mùi thơm nồng, lũ súc vật chưa từng ngửi thấy mùi này bao giờ. Hoá ra mùi ấy xuất phát từ cái nhà nằm ở sau bếp, thời còn lão Jones vẫn dùng để nấu bia, nhưng lâu nay bỏ không. Có con nào đó nói rằng đấy là mùi lúa mạch nấu. Lũ súc vật hít hà mãi cái mùi thơm nồng, cay cay đó và cố đoán xem tối nay chúng có được ăn “hèm” không. Nhưng tối hôm đó không có “hèm”, đến chủ nhật chúng lại được thông báo rằng từ nay lúa mạch sẽ để dành riêng cho lũ lợn. Miếng đất cạnh khu vườn đã được gieo lúa mạch rồi. Sau đó lại có tin nói rằng từ nay mỗi con lợn sẽ được nửa lít bia một ngày, riêng Napoleon thì được uống hai lít, mà phải uống bằng cốc pha lê.

Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng cuộc đời vẫn đáng sống hơn xưa rất nhiều. Chưa bao giờ chúng được hát, được nghe nói chuyện, được đi mít tinh, biểu tình nhiều như bây giờ. Napoleon ra lệnh mỗi tuần phải có một cuộc Diễu Hành mà nó gọi là Tự Phát, mục đích là để ngợi ca cuộc đấu tranh và những thành quả của Trại Súc Vật. Đúng giờ qui định tất cả sẽ rời bỏ ngay công việc, xếp thành đội ngũ, lần lượt là lũ lợn rồi đến ngựa, bò, cừu và cuối cùng là gà, vịt và đi đều bước xung quanh trang trại. Con gà trống màu đen của Napoleon luôn luôn đi đầu, còn hai bên đoàn diễu hành là lũ chó. Chiến Sĩ và Bà Mập mang lá cờ màu xanh giữa có hình sừng và móng và khẩu hiệu “Đồng chí Napoleon muôn năm”. Các buổi mít tinh bao giờ cũng kết thúc với màn trình bày bài thơ ngợi ca Napoleon và báo cáo của Chỉ Điểm về những thành tích trong việc tăng gia sản xuất thời gian vừa qua; những dịp lễ lạt thường có bắn các loạt súng chào mừng nữa. Lũ cừu đặc biệt khoái đi diễu hành, nếu có con nào phàn nàn (nhất là khi vắng bọn chó và lợn) là diễu hành chỉ tổ rét và mất thời gian thì chúng lập tức tụng bài cầu nguyện muôn thuở: “Bốn chân tốt, hai chân xấu”, mà chúng tụng to đến nỗi át được tất cả những lời phàn nàn, hậm hực. Nhưng nói chung là đa số thích những buổi lễ lạt kiểu ấy. Chúng thấy được an ủi phần nào vì những buổi tụ tập như vậy nhắc nhở chúng rằng chúng thực sự là chủ nhân của trang trại và mọi việc chúng làm đều là vì chúng mà thôi. Những bài hát, những cuộc diễu hành, số liệu của Chỉ Điểm, tiếng súng chào mừng, tiếng gáy của con gà trống và ngọn cờ tung bay trước gió đã giúp quên đi, dù chỉ trong phút chốc cái đói cồn cào đang hành hạ chúng.

Tháng tư, Trại Súc Vật tự tuyên bố là Nước Cộng Hòa, cần phải bầu Tổng Thống. Chỉ có một ứng cử viên duy nhất. Napoleon trúng cử một trăm phần trăm. Ngay hôm đó lại có tin đã tìm thấy những tài liệu mới chứng tỏ Tuyết Tròn đã cộng tác với lão Jones ngay từ đầu. Hoá ra là Tuyết Tròn không chỉ sử dụng chiến thuật khôn khéo nhằm làm thất bại Chiến Dịch Chuồng Bò, như chúng đã thấy trước đây, mà còn đứng hẳn về phía lão Jones nữa. Chính Tuyết Tròn đã dẫn đầu đoàn người xâm nhập, miệng hô lớn: “Loài người muôn năm!”. Còn những vết thương trên lưng nó, vẫn có mấy con còn sống trông thấy những vết thương ấy và nhớ rõ rằng đấy chính là vết răng của Napoleon.

Sau nhiều năm vắng bóng, giữa mùa hè vừa rồi con Moses bỗng lại xuất hiện. Nó hầu như không thay đổi, vẫn chẳng chịu làm gì và suốt ngày kể chuyện hão huyền về Núi Xôi. Nó thường đậu trên cành cây, vẫy vẫy đôi cánh đen và nói hàng giờ liền, miễn là có con nào đó chịu nghe.

“Ở trên kia, thưa các đồng chí”, Nó vừa nói vừa lấy mỏ chỉ lên trời, “phía trên những đám mây màu đen kia là Núi Xôi, là nơi các loài vật khốn khổ chúng ta sẽ được yên nghỉ đời đời.”

Nó còn nói rằng nó đã từng bay tới đó một lần rồi, đã từng trông thấy những cánh đồng cỏ ba lá xanh tốt quanh năm, trông thấy những khu vườn mọc đầy bánh nhân hạt lanh cũng như đường cục. Thế mà có nhiều con tin. Chúng nghĩ rằng chúng đang bị đói, khổ, vất vả; thế thì việc có một thế giới an lành hơn ở đâu đó cũng là lẽ công bằng mà thôi. Nhưng điều chúng không thể hiểu được chính là thái độ của bọn lợn đối với Moses. Lũ lợn miệt thị rằng Núi Xôi chỉ là chuyện bịa, nhưng Moses không những không bị đuổi đi mà còn được cấp một vại bia mỗi ngày.

Cuối cùng thì móng của Chiến Sĩ cũng khỏi, nó lao vào công việc hăng hơn lúc nào hết. Những con khác cũng phải làm không khác gì tù khổ sai. Ngoài công việc thường kì của trại và khôi phục cối xay gió thì còn việc xây trường cho lũ lợn con nữa. Trường học được khởi công vào tháng ba. Đôi khi tưởng chừng như không thể nào chịu nổi thời gian và cường độ lao động ấy với một cái dạ dày lép kẹp, nhưng Chiến Sĩ không hề ngã lòng. Không có một dấu hiệu gì, kể cả trong lời nói cũng như việc làm chứng tỏ sức lực của nó không còn được như xưa nữa. Tuy thế, tướng mạo của nó có thay đổi chút ít, da nó không còn được nhuận như trước, hông nó trông cũng nhỏ đi. Mọi con đều nói: “Có cỏ non là Chiến Sĩ sẽ bình phục ngay ấy mà”, nhưng mùa xuân đã về, cỏ non đã lên xanh mà Chiến Sĩ chẳng hề mập thêm chút nào. Những khi trông nó gồng mình kéo đá lên khỏi bờ dốc, có cảm tưởng như sức nó đã kiệt, phải là một ý chí sắt đá lắm mới đứng vững được như thế. Nhìn vào đôi môi, người tinh có thể thấy rằng nó đang định nói: “Tôi sẽ cố gắng hơn nữa”, nhưng không thể thốt lên lời. Bà Mập và Benjamin lại nhắc nó giữ gìn sức khoẻ, nhưng nó vẫn bỏ ngoài tai. Ngày sinh nhật lần thứ mười hai đang đến gần. Nó chỉ quan tâm đến một việc duy nhất sau đây: làm sao gom được thật nhiều đá trước khi nghỉ hưu, còn sau đó muốn ra sao thì ra.

Một hôm, lúc ấy đã khá khuya, bỗng có tin Chiến Sĩ gặp nạn. Hoá ra là nó đi kéo xe đá một mình. Không phải là tin đồn nữa, sự thật là thế, mấy phút sau có hai con bồ câu bay về.

“Chiến Sĩ bị ngã! Nó ngã nằm nghiêng, không dậy được nữa rồi!”, hai con bồ câu thông báo.

Gần một nửa số súc vật trong trang trại lao về phía gò đất. Chiến Sỹ nằm đó, giữa hai càng xe, cổ vươn ra, nhưng yếu quá, không thể nhấc đầu lên được. Lưng nó đẫm mồ hôi, hai mắt trông dại hẳn đi. Một dòng máu nhỏ đang rỉ ra khỏi miệng. Bà Mập quì xuống bên cạnh.

“Chiến Sĩ!”, nó hỏi, “Anh sao vậy?”

“Không thở được nữa rồi”, Chiến Sỹ thều thào nói, “Nhưng không sao. Tôi nghĩ các bạn sẽ dựng lại được cối xay gió. Có nhiều đá lắm rồi. Dù sao cũng chỉ một tháng nữa là tôi sẽ nghỉ hưu thôi. Nói thật, tôi mong được nghỉ hưu lắm. Benjamin cũng già rồi, nếu nó cũng được nghỉ hưu cùng lúc với tôi để cho có bạn thì tốt biết bao.”

“Đi báo cho Chỉ Điểm ngay”, Bà Mập nói.

Tất cả lập tức chạy về khu nhà chính để tìm Chỉ Điểm. Chỉ có Bà Mập và Benjamin ở lại. Benjamin yên lặng nằm xuống bên cạnh Chiến Sĩ và dùng đuôi đuổi ruồi cho nó. Khoảng mười lăm phút sau thì Chỉ Điểm tới, mặt lộ đầy vẻ thương cảm và sốt sắng. Nó nói rằng đồng chí Napoleon rất buồn khi biết tin tai nạn đã xảy ra với một trong những người lao động trung thành nhất của trang trại và đang sắp xếp để đưa Chiến Sĩ đến chữa tại bệnh viện ở Willingdon. Nhưng lũ súc vật lại cảm thấy có cái gì đó không yên tâm vì từ trước tới nay ngoài Mollie và Tuyết Tròn ra thì chưa có con nào đi khỏi trang trại, vả lại chúng cũng không thích giao một đồng chí bệnh hoạn vào tay con người. Nhưng Chỉ Điểm dễ dàng thuyết phục được chúng rằng các bác sĩ thú y ở Willingdon sẽ chữa cho Chiến Sĩ tốt hơn là cứ để nó nằm ở trại. Khoảng nửa tiếng sau thì Chiến Sĩ đứng dậy được, nó lết dần về chuồng. Bà Mập và Benjamin lấy rơm trải cho nó một cái ổ khá dày.

Chiến Sĩ nằm trong chuồng hai ngày liền. Lũ lợn tìm được một chai thuốc màu hồng khá to ở trong tủ thuốc đặt tại phòng tắm và đem ra cho nó. Bà Mập bắt nó uống hai lần một ngày, ngay sau bữa ăn. Buổi tối Bà Mập vào chuồng của Chiến Sĩ để tâm sự, trong khi Benjamin thì đuổi ruồi cho nó. Chiến Sĩ nói rằng nó chẳng có gì phải phàn nàn. Nếu lần này hồi phục được thì nó có thể sống thêm khoảng ba năm nữa, nó mong được sống những ngày thanh thản còn lại trong góc cái bãi cỏ rộng dành cho những con về hưu. Nó sẽ dành trọn thời gian rảnh rỗi để học tập, nâng cao trình độ. Nó bảo nó sẽ dành toàn bộ quãng đời còn lại để học cho thuộc hai mươi hai chữ cái.

Benjamin và Bà Mập chỉ có thể chăm sóc Chiến Sĩ sau giờ tan tầm, thế mà cái xe đến bắt nó lại xuất hiện vào lúc gần trưa. Mấy con lợn đang chỉ huy cả bọn gieo hạt cải ở ngoài đồng thì bỗng thấy Benjamin phi nước đại từ trang trại tới, miệng gào đến lạc cả giọng. Đây là lần đầu tiên chúng thấy Benjamin xúc động như vậy, cũng là lần đầu tiên chúng thấy nó phi nước đại.

“Mau lên! Mau lên!”, Nó gào lên, “Lại đây mau lên! Họ mang Chiến Sỹ đi rồi!”

Cả bọn lập tức bỏ việc và cùng chạy về phía khu nhà chính, không đợi lũ lợn có cho phép hay không. Quả nhiên, trong sân có một cái xe song mã đóng kín cửa, bên sườn xe có ghi hàng chữ khá to, anh chàng đánh xe đội một cái mũ phớt trông rất láu cá. Chiến Sĩ không còn trong chuồng nữa.

Lũ súc vật tập trung quanh chiếc xe.

“Đi khoẻ nhá, Chiến Sĩ!”, Chúng đồng thanh hô, “Tạm biệt!”

“Ngu, ngu thế”, Benjamin vừa gào thét, vừa chạy xung quanh, chân nện xuống đất ầm ầm, “Ngu, không nhìn thấy chữ gì à?”

Cả bọn như tỉnh ngộ, yên lặng nhìn nhau. Con lừa Muriel bắt đầu đánh vần, nhưng Benjamin đã đẩy nó ra và đọc:

“Lò mổ Alfred Simmond, Willingdon. Mua bán thịt, xương, da ngựa. Cung cấp cũi chó. Đã hiểu chưa? Chúng mang Chiến Sỹ đi làm thịt đấy!”

Một tiếng thét kinh hoàng cùng phát ra từ mọi lồng ngực. Đúng lúc đó, anh chàng đánh xe ra roi và hai con ngựa kéo bắt đầu chạy nước kiệu. Cái xe từ từ đi ra khỏi sân. Cả lũ cùng chạy theo sau, vừa chạy vừa khóc như mưa như gió. Bà Mập lao lên. Cái xe cũng tăng tốc. Bà Mập cố phóng lên, nhưng sức nó không còn, làm sao theo nổi hai con kia.

“Chiến Sĩ!”, Nó gào lên, “Chiến Sĩ! Chiến Sĩ! Chiến Sĩ!”

Không biết Chiến Sĩ có nghe thấy tiếng gọi từ bên ngoài hay không, nhưng cái mõm với một vệt màu trắng chạy dọc sống mũi của nó có lấp ló phía trong cái cửa sổ nhỏ ở đằng sau xe.

“Chiến Sĩ!”, Bà Mập gào đến lạc giọng, “Chạy đi! Chạy đi! Chạy mau lên! Chúng giết mày đấy!”

Tất cả đồng thanh thét lên:

“Chạy đi, Chiến Sĩ , Chạy đi!”

Nhưng hai con ngựa đã tăng tốc, cái xe ngày một đi xa hơn. Không biết là Chiến Sĩ có nghe rõ Bà Mập nói gì hay không, nhưng không còn trông thấy mõm nó bên trong cửa sổ nữa, đồng thời người ta nghe thấy tiếng chân nó nện vào thành xe đều và vang không khác gì tiếng trống ngũ liên. Đấy là Chiến Sĩ đạp vào thành xe để tìm lối thoát. Trước đây thì chỉ vài cái đạp như thế cũng đủ làm cho chiếc xe này biến thành củi rồi. Nhưng lạy chúa tôi! Sức nó nay còn đâu và tiếng đạp cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi im hẳn. Không biết làm thế nào, lũ súc vật đành quay ra cầu cứu hai con ngựa kéo, xin chúng đừng chạy nữa.

“Các đồng chí! Các đồng chí!”, Chúng lại đồng thanh gào lên, “Các đồng chí có biết đang mang người anh em của mình đi đâu không?”

Nhưng hai con vật ngu lâu, đầu óc tăm tối đó không hiểu, chúng chỉ khẽ vểnh tai lên và càng chạy nhanh thêm. Không còn thấy Chiến Sĩ thấp thoáng bên trong cái cửa sổ nhỏ nữa. Có con nghĩ đến việc chạy ra để đóng cánh cổng lớn lại, nhưng quá trễ mất rồi, chiếc xe đã ra đến đường lớn và đi xa dần. Từ đấy không ai còn trông thấy Chiến Sĩ nữa.

Ba ngày sau có thông báo rằng Chiến Sĩ đã mất tại bệnh viện ở Willingdon, mặc dù đã được chăm sóc rất tận tình. Chính Chỉ Điểm thông báo như thế. Nó còn nói rằng nó đã ở cạnh Chiến Sĩ trong giờ phút lâm chung.

“Thật vô cùng cảm động”, Chỉ Điểm vừa nói vừa lau nước mắt, “Tôi ngồi bên Chiến Sĩ khi đồng chí ấy trút hơi thở cuối cùng. Trước khi chết đồng chí ấy đã yếu lắm, không nói được nữa, nhưng đồng chí ấy vẫn cố thì thầm nói rằng đồng chí ấy chỉ tiếc không được tham dự lễ khánh thành cối xay gió. “Tiến lên, các đồng chí – đồng chí ấy nói – Vì sự nghiệp của cuộc Khởi Nghĩa, hãy tiến lên! Trại Súc Vật muôn năm! Đồng chí Napoleon muôn năm! Đồng chí Napoleon bao giờ cũng đúng!” – Đấy chính là những lời nói cuối cùng của đồng chí ấy.”

Lúc đó thái độ của Chỉ Điểm đột nhiên thay đổi. Nó ngồi im một lúc, sau đó nhìn quanh khắp lượt rồi mới tiếp tục câu chuyện.

Nó bảo rằng từ khi đưa Chiến Sỹ đi thì ở trại đã lan truyền những tin đồn thất thiệt. Một số con nhìn thấy chữ “Lò mổ” trên thành xe đã vội kết luận rằng Chiến Sĩ bị đưa đi làm thịt. Chỉ Điểm nói rằng nó không thể tin là các con vật trong trại lại ngu ngốc đến thế. Không thể tin, Chỉ Điểm vừa nói vừa vẫy đuôi và nhảy loạn xạ lên, là các con vật trong trại lại có thể nghĩ về lãnh tụ kính yêu, nghĩ về đồng chí Napoleon theo chiều hướng đó! Mọi việc đơn giản hơn rất nhiều. Số là ông bác sĩ thú y đã mua lại cái xe của lò mổ, nhưng ông ta chưa kịp xoá tên chủ cũ đi. Lí do chỉ có vậy thôi.

Nghe nói thế, cả bọn đều cảm thấy yên lòng. Còn khi Chỉ Điểm tả rõ cảnh chăm sóc, cũng như những thuốc men đắt tiền mà Napoleon hạ lệnh mua để chạy chữa cho Chiến Sĩ trong những ngày cuối cùng vừa qua thì những nghi ngờ lâu nay được giải toả hẳn và nỗi buồn mất bạn vơi đi bội phần: dù sao thì Chiến Sĩ cũng được mồ yên mả đẹp rồi.

Chính Napoleon tham dự cuộc họp vào sáng chủ nhật và đọc một bài diễn văn tưởng niệm Chiến Sĩ. Chúng ta không có điều kiện, nó nói, đưa thi hài của người đồng chí quá cố về trang trại, nhưng nó đã ra lệnh làm một vòng hoa thật lớn, hoa lấy ngay trong vườn trại và đưa đến Willingdon để đặt lên mộ Chiến Sĩ. Lũ lợn sẽ tổ chức bốn chín ngày thật to cho Chiến Sĩ, nó hứa như vậy. Napoleon kết thúc bài diễn văn bằng cách nhắc lại hai khẩu hiệu của Chiến Sĩ: “Tôi sẽ cố gắng hơn nữa” và “Đồng chí Napoleon lúc nào cũng đúng”. Napoleon còn bảo rằng tất cả các con vật trong trang trại nên học tập Chiến Sĩ, lấy khẩu hiệu của Chiến Sĩ làm khẩu hiệu hành động của chính mình.

Đúng hôm tổ chức bốn chín ngày cho Chiến Sỹ thì có một cái xe chở một thùng gỗ lớn đến toà nhà chính. Tối hôm đó từ trong toà nhà vọng ra tiếng hát, tiếng tranh luận ồn ào và vào lúc mười một giờ thì người ta nghe thấy tiếng cốc thủy tinh vỡ loảng xoảng, rồi tất cả chìm vào màn đêm yên lặng. Toà nhà chính đóng cửa kín mít cho đến tận trưa hôm sau, trong khi đó lại có tin đồn rằng lũ lợn đã kiếm được tiền và mua hẳn một thùng whisky.

Chương X

Nhiều năm đã trôi qua. Xuân đi, đông lại, cuộc đời loài vật như bóng câu qua cửa sổ. Chỉ còn Benjamin, Bà Mập, con quạ Moses và một vài con lợn là còn nhớ được “ngày xưa”, khi chưa Khởi Nghĩa.

Muriel đã chết. Bluebell, Jessie và Pincher cũng không còn. Ông Jones cũng chết rồi, chết trong trại tế bần dành cho người nghiện. Không ai nhắc đến Tuyết Tròn nữa. Chỉ có vài con vật còn nhớ Chiến Sĩ. Bà Mập đã thành một con ngựa già béo phị, chân chậm, mắt mờ. Nó đã quá tuổi hưu hai năm, nhưng thực ra, đã có con nào được hưu trí đâu. Không còn ai nhắc đến chuyện ngăn một mảnh đất cho những con già cả nữa. Napoleon đã thành một con lợn đực to sụ, phải nặng tạ rưỡi là ít. Chỉ Điểm cũng béo lắm, mắt híp lại, gần như không trông thấy gì. Chỉ có Benjamin là vẫn như xưa, tuy râu có trắng ra và sau khi Chiến Sĩ mất thì càng tỏ ra lầm lì, ít nói hơn.

Trại Súc Vật có thêm nhiều thành viên mới, tất nhiên là không nhiều như chúng nghĩ lúc đầu. Một số con được sinh ra ngay tại đây, đối với chúng, cuộc Khởi Nghĩa chỉ là một truyền thống mù mờ, được truyền khẩu cho nhau. Một số được mua từ nơi khác về, những con này chưa từng nghe ai nói chuyện đó trước khi đến đây. Ngoài Bà Mập, trại còn có thêm ba con ngựa nữa. Đấy là những con to, khỏe, chăm làm, tốt bụng nhưng ngu lắm. Không con nào thuộc quá chữ B. Chúng tin tưởng tuyệt đối vào Súc Sinh Kinh và những câu chuyện về cuộc Khởi Nghĩa, đặc biệt là những chuyện do Bà Mập, mà chúng coi như mẹ, kể lại; nhưng có vẻ như chúng cũng chẳng hiểu mô tê gì.

Trang trại được tổ chức tốt và ngày một phồn vinh hơn; chúng còn mở rộng thêm bằng cách mua của Pilkington hai khu đất nữa. Cối xay gió đã hoàn thành, chúng mua được cả máy đập lúa, máy nâng hạ và còn xây được thêm nhiều toà nhà. Whymper cũng mua được cho mình một cỗ xe nhỏ. Chúng không lắp máy phát điện lên cối xay gió mà dùng nó để xay xát, nhờ thế chúng kiếm được khối tiền. Chúng lại đang xây một cối xay gió nữa, sẽ lắp máy phát điện ở đấy, chúng bảo thế. Nhưng những thứ xa xỉ như đèn điện, nước nóng, tuần làm việc ba ngày mà chúng từng mơ mộng thời còn Tuyết Tròn thì không được nhắc đến nữa. Napoleon từng tuyên bố rằng những tư tưởng đại loại như vậy là trái hoàn toàn với tinh thần của Súc Sinh Kinh. Hạnh phúc chân chính, nó bảo, là lao động hăng say và sống đạm bạc, tiết kiệm.

Trang trại giàu có thêm, nhưng ngoại trừ lũ lợn và chó ra, đời sống của các con khác thì vẫn như xưa. Cũng có thể một phần là do có nhiều lợn và chó quá. Bọn này cũng làm việc, dĩ nhiên là theo cách của mình. Chỉ Điểm giải thích không mệt mỏi rằng tổ chức và kiểm tra công tác của trại là những việc phải làm thường xuyên, liên tục. Mà những giống khác đâu có đảm đương được, việc này cần nhiều trí thông minh lắm. Thí dụ, Chỉ Điểm bảo rằng lũ lợn mất rất nhiều công sức vào việc soạn những cái gọi là “tài liệu”, “dữ liệu”, “báo cáo”, “biên bản”, “ghi nhớ”. Đấy là những tờ giấy to, viết đầy chữ và sau khi viết xong thì đem vào lò đốt. Nhờ thế mà trang trại mới được phồn vinh như ngày nay đấy, Chỉ Điểm thường nói như vậy. Dù sao mặc lòng, những thứ ấy chẳng thể làm lũ chó, lợn ấy no được, mà chúng phàm ăn lắm.

Cuộc sống của những con khác thì vẫn như xưa. Ngày chúng thường bị đói, đêm chúng ngủ trên ổ rơm, nước thì uống ngay ở dưới ao, làm việc ngoài đồng trống, mùa đông thì mất ngủ vì rét, mùa hè thì khổ vì ruồi. Thỉnh thoảng những con có tuổi cố nhớ lại xem nay đời sống của chúng có khá hơn ngay sau Khởi Nghĩa, khi chúng vừa đuổi lão Jones đi, hay không. Nhưng chúng không nhớ nổi. Không có gì cho chúng so sánh: trong đầu chúng chỉ có mỗi những số liệu của Chỉ Điểm, những con số luôn luôn chứng tỏ rằng mọi thứ đều được cải thiện, đều tốt thêm một bước mỗi ngày. Thôi thì đành vậy vả lại chúng cũng chẳng có nhiều thời gian để mà suy nghĩ lung tung. Chỉ có Benjamin già nua là khẳng định rằng nó nhớ hết, nhớ đến từng chi tiết mọi việc đã qua và biết rõ rằng chúng chưa bao giờ khổ hơn cũng chẳng bao giờ được sướng hơn, vẫn là đói, là bán mặt cho đất bán lưng cho trời, là bị loè bịp; qui luật cuộc đời vốn là như thế, nó thường bảo như vậy.

Dù sao chúng vẫn cứ hi vọng. Hơn thế nữa, chúng còn luôn tự hào được là công dân của Trại Súc Vật. Trong nước này, mà là nước Anh hẳn hoi đấy nhé, đây là trang trại duy nhất của súc vật và do súc vật quản lí! Tất cả mọi con vật, từ những con nhỏ nhất cho đến những con mới được mua từ cách xa cả chục cây số về, đều tự hào như thế. Nhất là khi chúng nghe thấy tiếng súng nổ, khi trông thấy lá cờ xanh tung bay là tim chúng lại đập rộn rã, khi ấy, dù đang nói chuyện gì chúng cũng quay lại đề tài về những năm tháng hào hùng, về việc lật đổ lão Jones, về việc thiết lập Bảy Điều Răn và về những trận chiến đấu oanh liệt chống lũ người xâm lược. Chúng cũng không quên nhắc nhở nhau những kì vọng thuở ban đầu. Chúng tin rằng lời tiên tri của Thủ Lĩnh già về ngày thành lập Nước Cộng Hòa Súc Vật trên toàn lãnh thổ Anh quốc, ngày con người bị tống khứ khỏi sứ sở này nhất định sẽ tới. Ước mơ của chúng sẽ thành hiện thực, nhất định ngày đó sẽ tới, dù còn lâu, dù rằng tất cả những con đang sống hiện nay sẽ không được chứng kiến, nhưng ngày đó nhất định sẽ tới. Chúng cũng không quên bài “Súc Sinh Anh quốc”, con nào cũng biết hát bài này, nhưng chúng chỉ dám hát thầm với nhau mà thôi. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, dù không phải tất cả ước mơ của chúng đều được thực hiện, nhưng trong thâm tâm chúng biết rằng chúng là những con vật đặc biệt. Dù chúng chưa được no, nhưng chúng không phải làm để nuôi bọn người tàn độc; dù chúng còn phải lao động vất vả, nhưng đấy là chúng làm cho chính mình. Không con nào đi hai chân, không còn quan hệ chủ tớ. Tất cả đều bình đẳng.

Một hôm, đấy là đầu mùa hạ, Chỉ Điểm bỗng ra lệnh cho lũ cừu đi theo nó ra cánh đồng bỏ hoang bên ngoài trại, nơi có cả một rừng bạch dương non. Lũ cừu ở đó cả ngày, tha hồ nhai lá, dĩ nhiên là dưới sự chỉ đạo của Chỉ Điểm. Tối hôm đó Chỉ Điểm quay lại trang trại một mình, hôm đó thời tiết tốt nên nó bảo lũ cừu ngủ ngay ngoài đồng cho mát. Chúng ở lại đó suốt một tuần liền. Ngày nào Chỉ Điểm cũng ra với lũ cừu. Theo như nó nói thì nó đang dạy lũ cừu một bài hát mới, mà yên tĩnh thì học mới mau “vào”.

Một chiều, hôm ấy lũ cừu đã học xong và trở về rồi, trong khi cả bọn đang quay về sau một ngày lao động thì chúng bỗng nghe thấy tiếng ngựa kêu thất thanh từ phía trại vọng lại. Quá hỏang sợ, tất cả lập tức đứng như trời trồng. Đấy là tiếng kêu của Bà Mập. Nó lại kêu lên lần nữa, tất cả lập tức phóng thật nhanh vào sân trại để xem có chuyện gì. Và chúng nhìn thấy chính cái điều đã làm Bà Mập hoảng loạn.

Đấy là một con lợn đang bước đi bằng hai chân sau.

Vâng, chính là Chỉ Điểm đang đi. Có vẻ vụng về, dĩ nhiên rồi, một phần vì chưa quen, một phần vì quá nặng, nhưng nó vẫn giữ được thăng bằng và đi từ bên này sang tận bên kia sân. Một lúc sau thì từ cửa chính ngôi nhà cả đàn lợn bước ra, tất cả, không trừ con nào, đều đi bằng hai chân sau. Một số con bước đi một cách tự tin, một số con còn lảo đảo, giá có cái ba toong thì vững hơn, nhưng tất cả đều đi một vòng quanh sân mà không con nào bị ngã. Cuối cùng là tiếng chó sủa dữ dội, tiếng gà gáy vang rền và Napoleon bước ra, lưng thẳng tắp, dáng oai vệ, nó nhìn khắp lượt, xung quanh tíu tít bày cừu.

Chân trước nó cầm một cái roi to.

Xung quanh lặng ngắt như tờ. Ngạc nhiên pha lẫn hoảng sợ, lũ súc vật tụ vào một góc để nhìn đàn lợn nối nhau đi quanh sân. Thế giới đảo điên hết rồi sao? Phút hoảng loạn ban đầu rồi cũng qua và dù có sợ bầy chó, dù bao năm đã quen không dám phàn nàn, không dám phản đối, lần này chắc chắn chúng sẽ lên tiếng phản đối. Nhưng đúng lúc đó, như có hiệu lệnh, bọn cừu đồng thanh gào lên:

“Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn! Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn! Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn!”

Chúng tụng như thế năm phút liền, không ngưng nghỉ. Khi lũ cừu im thì đàn lợn đã vào hết trong nhà rồi, có phản đối cũng chẳng ai nghe.

Benjamin cảm thấy như có con nào đang lấy mũi cọ vào vai mình. Nó quay đầu lại. Hoá ra là Bà Mập. Đôi mắt đã mờ của nó trông càng buồn hơn lúc nào hết. Nó khẽ ngoạm vào bờm của Benjamin và kéo ra phía đầu hồi của nhà kho lớn. Chúng đứng đó, yên lặng ngắm những dòng chữ màu trắng trên bức tường sơn hắc ín.

“Tôi chẳng còn trông thấy gì cả – Cuối cùng Bà Mập lên tiếng – Ngay khi còn trẻ tôi cũng có đọc được chữ nào đâu. Nhưng tôi thấy hình như bức tường trông khác lắm. Bảy Điều Răn vẫn thế chứ, anh Benjamin?”

Đây là lần đầu tiên Benjamin từ bỏ thói quen cố hữu của nó và khẽ đọc cho Bà Mập nghe. Trên bức tường chỉ còn ghi một Điều Răn duy nhất như sau:

MỌI CON VẬT SINH RA ĐỀU BÌNH ĐẲNG, NHƯNG CÓ MỘT SỐ CON BÌNH ĐẲNG HƠN NHỮNG CON KHÁC.

Sau đó thì ngay cả việc những con lợn đốc công mang theo roi ra đồng cũng không làm chúng ngạc nhiên nữa. Chúng cũng không ngạc nhiên khi thấy bọn lợn mua đài, rồi thảo luận kí hợp đồng đặt máy điện thoại cũng như đặt mua những tờ báo như John Bull , Tits-Bit và Daily Mirror . Chúng cũng không ngạc nhiên khi trông thấy Napoleon mồm ngậm tẩu thuốc đi dạo trong vườn, cũng như khi thấy lũ lợn lấy quần áo của ông Jones ra diện nữa. Napoleon chọn cho mình chiếc áo khoác đen, quần ống túm, ủng da; trong khi con lợn cái mà nó thích nhất được bộ lụa tơ tằm mà bà Jones thường mặc khi đi nhà thờ, vào những ngày chủ nhật.

Một tuần sau, buổi chiều, có rất nhiều xe cộ đi vào trại. Đấy là đại biểu các trang trại lân cận được mời đến thăm quan Trại Súc Vật. Quan khách rất ngạc nhiên khi được xem các cánh đồng, các công cụ sản xuất của trại, đặc biệt là cối xay gió. Lúc đó lũ súc vật đang nhổ cỏ trên cánh đồng trồng củ cải. Chúng làm việc chăm chỉ, ít khi ngẩng đầu lên. Chúng cũng không biết trong hai loại đó, quan khách và lợn, bọn nào đáng sợ hơn.

Tối hôm đó có tiếng hát và tiếng cười rất to vẳng lại từ phía ngôi nhà chính. Lũ súc vật bỗng cảm thấy tò mò, muốn biết trong nhà đó đang nói chuyện gì vì đây là lần đầu tiên con người và con vật gặp nhau như những đối tác bình đẳng. Rồi không con nào bảo con nào, chúng cùng nằm xuống và im lặng bò đến gần toà nhà chính.

Chúng hơi lưỡng lự khi bò đến cổng, nhưng Bà Mập đã tiến lên hàng đầu. Khi đến gần toà nhà thì chúng nhón gót đứng lên, những con đủ chiều cao có thể nhìn được qua cửa sổ. Bên trong, có sáu điền chủ và sáu con lợn xuất chúng nhất đang ngồi xung quanh một cái bàn dài. Napoleon ngồi ngay đầu bàn, chỗ trang trọng nhất. Có vẻ như lũ lợn đã quen với việc ngồi ghế từ lâu. Cả bọn vừa đánh bài, nhưng lúc ấy đã ngưng, chắc là để nâng cốc chúc mừng nhau. Một chiếc bình khá to được chuyền tay nhau và tất cả các li đều được rót đầy bia. Không ai để ý đến lũ súc vật đang tò mò nhìn qua cửa sổ.

Ông Pilkington, Trại Cáo, tay cầm li bia, đứng dậy. Ông nói rằng sau đây ông sẽ đề nghị nâng li chúc mừng. Nhưng ông xin được nói vài lời trước đã.

“Thật là vô cùng phấn khởi – ông nói – đối với ông, cũng như đối với tất cả những người đang có mặt ở đây hôm nay, vì giai đoạn nghi kị và hiểu lầm đã chấm dứt”. Đã có thời kì, dĩ nhiên là ông cũng như những người có mặt ở đây hôm nay không hề muốn như thế, nhưng rõ ràng là đã có những thời kì mà những người xung quanh nhìn các chủ nhân đáng kính của Trại Súc Vật với một thái độ, không thể nói là thù địch, nhưng với một sự thiếu thiện cảm. Đáng tiếc là đã xảy ra một vài va chạm, đã lưu truyền một vài quan niệm sai lầm. Có ý kiến cho rằng một trang trại của lợn và do lợn quản lí là một điều bất bình thường và không nghi ngờ gì rằng trại này sẽ tạo ra những ảnh hưởng không hay cho những trang trại xung quanh. Nhiều điền chủ, phải nói là khá nhiều, không hề điều nghiên, đã vội kết luận rằng ở đây sẽ có nhiều hành vi quá trớn và thiếu kỉ cương. Họ lo lắng về ảnh hưởng của trang trại này không chỉ đối với súc vật mà còn đối với cả những người làm thuê cho họ nữa. Nhưng tất cả những mối ngờ vực đó đã chấm dứt. Hôm nay, ông và các đồng nghiệp đã được mời thăm quan trang trại, họ đã xem xét rất kĩ, họ đã tìm thấy gì? Không chỉ công nghệ hiện đại nhất mà cả kỉ cương, trật tự của trại đều xứng đáng cho các trang trại khắp nơi học tập. Ông tin không nói sai khi bảo rằng những loài súc vật hạ đẳng ở đây làm việc nhiều hơn nhưng lại nhận được khẩu phần ít hơn so với các trại khác trong khu vực. Tóm lại, ông và các đồng nghiệp đã trông thấy ở đây nhiều điều đáng phải áp dụng ngay.

Ông nói xin chúc tình hữu nghị giữa Trại Súc Vật và các trại khác đã, đang và sẽ tồn tại mãi mãi. Quyền lợi của loài lợn và của loài người không hề và không được mâu thuẫn nhau. Cả hai đều có chung mục đích và có chung những khó khăn. Vấn đề sức lao động thì ở đâu chả giống nhau, có phải thế không? Đến đây thì rõ ràng là Pilkington định nói một câu khôi hài đã chuẩn bị sẵn từ lâu, nhưng buồn cười quá, không thể thốt thành lời. Sau một lúc cố gắng đè nén tình cảm, Pilkington nói một câu như sau:

“Nếu các bạn phải xử lí những loài vật hạ đẳng, thì chúng tôi, chúng tôi cũng phải xử lí các giai cấp hạ đẳng.”

Đáp lại câu nói ý vị đó là tiếng cười tưởng muốn vỡ nhà, Pilkington lại chúc mừng lũ lợn về việc ăn ít, làm nhiều và kỉ cương, nề nếp của trại.

Và bây giờ, Pilkington đề nghị mọi người cùng đứng dậy, đổ đầy bia vào li.

“Thưa các ngài!”, Pilkington kết thúc bài diễn văn như vậy, “Thưa các ngài, xin các ngài cùng nâng cốc chúc Trại Súc Vật ngày càng thịnh vượng.”

Tiếng vỗ tay, tiếng dậm chân ầm ầm. Napoleon khoái bài diễn văn đến nỗi đến chạm cốc với Pilkington rồi mới uống. Khi tiếng vỗ tay đã dịu xuống, thì Napoleon, lúc đó vẫn đứng, tuyên bố rằng nó cũng xin được phát biểu vài câu.

Napoleon bao giờ cũng nói ngắn và đi ngay vào thực chất vấn đề. Napoleon bảo rằng nó cũng rất mừng là đã thanh toán hết mọi hiểu lầm. Trước đây từng có những tin đồn, chắc chắn là do những thế lực thù địch tuyên truyền, rằng dường như nó và các cộng sự đang theo đuổi những ý tưởng phá hoại, nếu không nói là có tính cách mạng. Người ta vu cho chúng ý định kích động súc vật trong các trại khác đứng lên khởi nghĩa. Vu khống, bịa đặt từ đầu tới cuối! Ước muốn duy nhất của chúng, hiện nay cũng như trong quá khứ, là được sống trong hoà bình và có quan hệ làm ăn bình thường với những người láng giềng. Trại mà nó được vinh dự lãnh đạo, Napoleon nói thêm, là một loại hợp tác xã. Tất cả những thứ nằm dưới sự quản lí của nó là tài sản chung của cả loài lợn trong trại.

Napoleon nói, nó tin là mọi nghi ngờ đã được giải toả và những thay đổi gần đây càng làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau hơn nữa. Cho đến nay các con vật trong trang trại có một thói quen không hay là gọi nhau bằng “Đồng chí”. Thói quen này sẽ bị bãi bỏ. Còn một thói quen nữa, không biết bắt đầu từ khi nào, ấy là việc sáng nào cũng đi thành hàng ngũ trong sân, xung quanh một cái sọ heo cắm trên cọc. Thói quen này cũng bị bãi bỏ và cái đầu heo đã được đem chôn rồi. Các vị khách chắc đã có dịp trông thấy lá cờ xanh tung bay. Nếu quả họ đã trông thấy thì chắc chắn là họ phải nhận ra rằng biểu tượng sừng và móng màu trắng cũng đã bị xóa bỏ rồi. Từ nay trở đi lá cờ sẽ chỉ có một màu xanh tinh khiết mà thôi.

Nó nói rằng nó xin phép được sửa lại chút xíu bài diễn văn vô cùng súc tích và đầy thiện ý của ngài Pilkington. Trong suốt bài diễn văn, ngài Pilkington đã gọi trại này là Trại Súc Vật. Ngài Pilkington dĩ nhiên không thể biết, vì hôm nay, đây là lần đầu tiên Napoleon tuyên bố hủy bỏ tên Trại Súc Vật. Từ nay trở đi trại sẽ lấy tên là Điền Trang, cần phải gọi như thế vì từ nguyên uỷ trại này vốn vẫn mang tên như thế.

“Thưa các ngài!”, Napoleon kết luận, “Tôi đề nghị các ngài nâng cốc chúc mừng, nhưng với một chút xíu sửa đổi. Xin các ngài rót đầy cốc đi đã. Xin các ngài nâng cốc chúc Điền Trang ngày càng thịnh vượng!”

Tiếng vỗ tay vang lên, mọi người cạn cốc. Nhưng những con vật đang đứng bên ngoài thì thấy như đang xảy ra một chuyện kì lạ. Tại sao mặt những con heo lại thành như thế kia nhỉ? Đôi mắt đục mờ của Bà Mập hết nhìn con này lại nhìn sang con khác. Con thì cằm có đến năm ngấn, con lại có bốn, con thì có ba. Tại sao mọi thứ lại trở nên mờ ảo và thay đổi nhanh thế nhỉ? Tiếng vỗ tay chấm dứt, bàn tiệc quay lại với ván bài bỏ dở, những con đứng xem bên ngoài lục tục bò trở ra.

Nhưng chúng vừa bò cách khoảng hai mươi mét thì tất cả cùng dừng lại. Có tiếng hò hét ầm ĩ vọng ra từ toà nhà. Chúng lập tức quay lại và tiếp tục nhìn qua cửa sổ. Cuộc tranh cãi đang hồi quyết liệt. Có tiếng hét, tiếng đập bàn, tiếng tranh luận và những ánh mắt nghi kị. Nguyên nhân cuộc tranh cãi có lẽ là do Napoleon và Pilkington đưa ra con đầm pích cùng một lúc.

Mười hai cái miệng tức giận cùng lên tiếng, có trời mới phân biệt được ai với ai. Bọn súc vật không còn để ý đến mặt mấy con lợn bên trong nữa. Chúng nhìn lợn rồi lại nhìn người, nhìn người rồi lại nhìn lợn, một lúc sau thì chúng chịu, không thể phân biệt được đâu là người, đâu là lợn nữa.

Tháng 11 năm 1943 – tháng 2 năm 1944.

– Hết –

Dịch lần đầu ngày 28 tháng 12 năm 2003, góp phần kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell.

Nguồn: http://www.online-literature.com/orwell/animalfarm/

Chuyện chưa kể về người tìm ra sâm Ngọc Linh

Vai mang ba lô đi bộ hàng tháng trời dọc đông Trường Sơn, tây Trường Sơn dưới mưa bom khốc liệt, ông vẫn không phát hiện thấy dấu vết của nhân sâm.

Cuối cùng, ông quyết định leo lên đỉnh núi tổ của dãy Trường Sơn là đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 mét thì bất ngờ phát hiện ra nhân sâm đốt trúc. Đó là lần đầu tiên cây sâm quý được phát hiện ở Việt Nam và ông cũng chính là người đặt tên Ngọc Linh cho loại dược liệu quý này.

Gian nan tìm "thần dược" bản địa...

Dược sĩ Đào Kim Long quê ở làng Lỗ Xá, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống về nghề thuốc. Từ thời cụ, ông nội, cha của Đào Kim Long đều được truyền lại những bài thuốc bí truyền trị một số bệnh khó chữa thời ấy như bệnh lậu, giang mai...

Người tìm ra và đặt tên cho cây sâm quý chính là dược sĩ Đào Kim Long, năm ấy được Bộ Y tế cử đi tìm, nghiên cứu thuốc quý cho bộ đội kháng chiến ở Trường Sơn. Đó là những năm 1970, khi dược sĩ Long mới hơn 30 tuổi, đang nằm điều trị ở Bệnh viện Hòe Nhai với bệnh thấp khớp teo cơ, một chân bị teo đi nhỏ hơn chân kia đến 4 cm, đi phải dùng gậy. Nhưng khi nghe lãnh đạo đến tận phòng bệnh và nói: Đoàn đi điều tra cây thuốc cho bộ đội Trường Sơn hy sinh cả, không còn ai nghiên cứu cây thuốc cho bộ đội nữa, thì ông ngỏ ý muốn theo tiếp công việc này.

Ba tháng trời ròng rã đeo ba lô gạch tập leo núi ở Hòa Bình, cuối cùng ông cũng mang được 30 kg gạch trên vai leo núi cả ngày không mỏi. "Lúc bắt đầu đi Nam thì vẫn chân bé, chân to nhưng sau 3 tháng đi bộ vào đến nơi thì hai chân bằng nhau", dược sĩ Đào Kim Long nhớ lại.

Với ông, đó là những năm tháng đi bộ may mắn nhất trong đời bởi ông được đi dọc theo tây Trường Sơn, cũng là hướng di cư của cây cỏ. Những năm tháng ấy, ông đã ghi chép được tỉ mẩn từng luồng di cư của cây thuốc như cây Ba Kích từ miền Bắc đi qua Quang Trị, Thừa Thiên - Huế thì đột nhiên dừng lại, không phát triển nữa.

Dọc chuyến đi tây Trường Sơn ấy, người ta chỉ chú tâm mang gạo, mang lương thực, những đoạn đèo dốc nặng nhọc có người còn vứt bớt cả gạo thịt đi, còn vị dược sĩ vẫn đeo trên lưng đủ 7 quyển Thực vật chí Đông Dương nặng hơn chục cân. Và gần 400 cây thuốc ở núi Trường Sơn, lần đầu tiên đã được ông tìm ra và ghi chép tỉ mỉ về phân bố, đặc điểm sinh thái.

Sau hàng tháng trời ròng rã vừa leo núi vừa nghiên cứu cây thuốc dọc tây Trường Sơn mà vẫn chưa phát hiện thấy dấu vết của nhân sâm, vị dược sĩ nghĩ không thể tìm thấy sâm di cư từ phía Bắc vào được, liền xin cấp trên được tiếp tục đi dọc núi phía đông Trường Sơn.

Tiếp tục đi bộ từ Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên... Đào Kim Long tìm thêm được 400 cây thuốc nữa. Cũng trong chuyến đi dọc đông Trường Sơn, ông nghĩ chỉ có thể tìm được nhân sâm ở đỉnh núi Ngọc Linh mà thôi, bởi đó là đỉnh núi tổ phân lưu đi khắp cả đông, tây Trường Sơn.

Trước những nghiên cứu kỹ lưỡng của ông Long, Bộ Y tế đã cử hẳn một đoàn đi tìm nhân sâm. Ông Long kể lại: Lặn lội nhiều ngày trời trên ngọn núi tổ, cuối cùng ngày mong chờ cũng đến, khi ấy tôi đang đi phía trước thì một thành viên trong đoàn tên là Châu Giang cầm một cây nhỏ chạy vọt lên hỏi: Thầy ơi, cây gì đây? Đó là ngày 19/3/1973, vào lúc 9 giờ sáng. Tôi nhìn bàng hoàng rồi hỏi lại: Em lấy ngọn cây này ở đâu? Giang liền dẫn tôi quay lại khoảng mười bước chân và chúng tôi gặp được cây nhân sâm đầu tiên trên núi Ngọc Linh. Tôi nói nhỏ: Đây là cây mình đang tìm! Sau đó, tôi quyết định lên cao hơn.

Đến 17 giờ cùng ngày, khi dừng bên dòng suối thì đã gặp cả thảm nhân sâm dày đặc, gần như thuần chủng, mọc xanh tốt, nở hoa thơm ngát... Lúc ấy, tuy đã hết gạo nhưng chúng tôi vẫn ở lại suốt nửa tháng sống bằng rau rừng, nước nhân sâm... để nghiên cứu về đất đai, khí hậu, đặc điểm sinh thái. Khi đó, chúng tôi đã thấy không có bằng chứng sâm Ngọc Linh di cư từ Hoa Nam (Trung Quốc) xuống hay Malaysia, Ấn Độ sang. Đó là cây sâm bản địa của Việt Nam".

Ngọc Linh hay cây "thuốc giấu" của người Xê đăng

Theo dược sĩ Đào Kim Long, điều đặc biệt là sâm Ngọc Linh phân tán theo dòng nước. Vào khoảng tháng 9, tháng 10, khi chín, cây lụi đi, đổ hạt xuống đất và những cơn mưa nhỏ kéo các hạt di cư xuống dưới mọc thành cây. Vì thế, cây sâm Ngọc Linh có thể mọc ở bờ suối hoặc ngay trên hòn đá giữa suối.

Những cuộc mò mẫm trong rừng điều tra điều kiện sống, sự di cư của sâm quý khiến chàng dược sĩ trẻ bị đồng bào dân tộc nghi là biệt kích, bắt và giải về bản. "May thay, khi giải tôi về bản thì trưởng bản Đak Man nhận ra bảo nó là người nhà nên tôi mới được thả", ông Long kể.

Ngày ấy, để có được kết quả nghiên cứu đầy đủ về sâm quý, ông từng vào tận thung lũng Arêu trên đỉnh Ngọc Linh. Thung lũng Arêu ngày ấy rộng lớn và mịt mùng đến nỗi máy bay rơi ở đó thì không tài nào tìm nổi, còn người bản địa thì lắc đầu quầy quậy khi nghe nhắc đến tên. Cuối cùng chỉ có ba thầy trò Đào Kim Long luồn rừng vào tận thung lũng Arêu trên đỉnh Ngọc Linh.

Cái tên cây "thuốc giấu" của người Xê đăng cũng bắt đầu xuất hiện từ những năm tháng ông Long leo rừng, lội suối, ăn ngủ nhờ người các bản làng để nghiên cứu sâm Ngọc Linh. Nhớ lại những năm tháng ấy, ông Long nói: "Tôi đã dạy cho người Xê đăng cách dùng sâm quý. Tôi dặn họ phải giấu kỹ đi kẻo địch phát hiện. Người nọ truyền tai người kia và cái tên cây Thuốc giấu ra đời từ đó". Không chỉ được dạy cách dùng sâm quý, các bản làng như Đakman, Moza... ngày ấy còn thường được trưởng bản triệu tập đông đủ để nghe vị dược sĩ nói về cây thuốc nam, cách sử dụng và chế biến những thứ cây cỏ tưởng như bỏ đi thành vị thuốc hiệu nghiệm.

Sâm Ngọc Linh không chỉ đơn thuần là cây nhân sâm đốt trúc như sâm Nhật Bản, mà Ngọc Linh còn có những tính năng y dược mà cả sâm Nhật Bản và sâm Trung Quốc đều không có được. Theo nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Minh Đức (Trường ĐH Y Dược TP HCM) thì về mặt hoá học, thân rễ và rễ củ sâm Ngọc Linh đã phân lập được 52 saponin. Trong đó, 26 sanopin thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật (sâm Triều Tiên có khoảng 25 sanopin).

Không chỉ là lời đồn thổi mà sâm Ngọc Linh đã được các nhà khoa học chứng minh có nhiều tính năng y dược thuộc hàng "thần dược" như: Chống oxy hóa, chống lão hóa, kích thích hệ miễn dịch, phòng chống một số bệnh về ung thư, tốt cho gan, cải thiện sinh dục. Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm Trung Quốc không có là tính kháng khuẩn, chống trầm cảm, giảm lo âu, chống oxy hóa.

Sâm Ngọc Linh

Dược sĩ Đào Kim Long kể rằng, trước đây từng có chủ trương đưa cây sâm quý này xuống phát triển ở đồng bằng để nhân rộng cho nhân dân được sử dụng. Nhưng ngay từ ngày đó, ông đã khẳng định cây sâm Ngọc Linh chỉ phát triển được ở núi Ngọc Linh mà thôi, nếu chuyển đi vùng đất khác, kể cả ngọn núi khác thì cũng sẽ không còn những tính năng y dược thần kỳ như vậy nữa.

Hiện trên núi Ngọc Linh có hai vườn giống lớn, một ở phía Quảng Nam trên độ cao 1.900 mét; một ở phía Kontum trên độ cao 2.000 mét. Giá một lạng sâm Ngọc Linh loại tốt có tuổi đời khoảng 50 năm, dao động từ 10 triệu đồng trở lên. Còn với sâm Ngọc Linh hơn trăm năm tuổi thì là vô giá. Nhưng quan trọng hơn, Ngọc Linh là cây sâm bản địa Việt Nam, đặc hữu ở vùng núi Ngọc Linh, là một trong số những loại sâm tốt nhất thế giới.

Sâm Ngọc Linh thuộc loại cây thảo, cao 80-100cm. Thân rễ nằm ngang trên hoặc dưới mặt đất độ 1-3cm, mang rễ con và củ. Thân rễ có sẹo, nhiều đốt. Các thân mang lá. Tương ứng với một thân mang lá là một đốt dài khoảng 0,5-0,7cm. Trên đỉnh của thân mang lá là các lá mọc vòng, có 5-7 lá chét với phiến lá hình trứng ngược. Hoa mọc giữa các lá thẳng với thân. Quả dài từ 0,8-1,0 cm, rộng khoảng 0,5- 0,6 cm, khi chín có màu đỏ.

Cây mọc dưới tán rừng. Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ củ. Cũng có thể dùng lá và rễ con. Ngọc Linh thích hợp với nhiệt độ ban ngày từ 20-25 độ C, ban đêm 15-18 độ C và có thể sống trên 100 năm.

Theo GiađinhNet

Ba câu chuyện kể về thứ đáng sợ nhất trên đời

Có người hỏi Thiền sư: “Điều đáng sợ nhất trên cõi đời này là gì?”

Thiền sư đáp: “Dục vọng!”
Người đó lộ vẻ hoài nghi.
Thiền sư nói: “Hãy để tôi kể vài câu chuyện cho ông nghe vậy”.

 

Truyện thứ nhất: Bạc vàng đáng sợ

Một vị tăng nhân hốt hoảng từ trong rừng chạy đến, vừa khéo gặp hai người bạn vô cùng thân thiết đang tản bộ bên rừng. Họ hỏi vị tăng nhân: “Chuyện gì mà ông hốt hoảng quá vậy?”.
Vị tăng nhân nói: “Thật là kinh khủng, tôi đào được một đống vàng ở trong rừng!”.
Hai người bạn, không nhịn được liền nói: “Thật đúng là tên đại ngốc! Đào được vàng, việc tốt như thế mà ông lại cho là kinh khủng, thật không thể hiểu nổi!”.
Thế là họ lại hỏi vị tăng nhân kia: “Ông đào được vàng ở đâu? Chỉ cho chúng tôi xem với!”.
Vị tăng nhân nói: “Thứ xấu xa như thế, các ông không sợ sao? Nó sẽ nuốt chửng người ta đấy!”.
Hai người kia gạt phăng, hùng hổ nói: “Chúng tôi không sợ, ông mau mau chỉ chỗ xem nào!”.
Vị tăng nhân nói: “Chính là bên dưới cái cây ở bìa rừng phía tây”.
Hai người bạn liền lập tức tìm đến chỗ vị tăng nhân vừa chỉ, quả nhiên phát hiện được số vàng đó. Người này liền nói với người kia rằng: “Tên hòa thượng đó đúng là ngốc thật, thứ vàng bạc mà mọi người đều khao khát đang ở ngay trước mắt, thế mà lại trở thành quái vật ăn thịt người”. Người kia cũng gật đầu đồng tình.
 

 (Ảnh theo NTDTV)

Thế là họ bàn với nhau làm thế nào để chuyển số vàng này về nhà. Một người trong đó nói: “Ban ngày mà đem nó về thật không an toàn cho lắm, hay là đêm đến chúng ta mới vận chuyển, vậy sẽ chắc ăn hơn. Tôi ở lại đây canh chừng, ông hãy về mang chút cơm rau trở lại, chúng ta ăn cơm rồi đợi đến trời tối mới chuyển số vàng này về nhà”.
Người kia liền làm theo người bạn nói. Người ở lại nghĩ : “Nếu như số vàng này đều thuộc về sở hữu của riêng ta thì hay biết mấy! Đợi hắn quay lại, ta hãy dùng cây gậy gỗ đánh chết đi, vậy thì toàn bộ số vàng này là của ta hết rồi”.
Thế là khi người bạn đem cơm rau đến khu rừng, người kia liền từ phía sau lưng dùng gậy gỗ đánh mạnh vào đầu khiến ông ta chết ngay tại chỗ, sau còn nói rằng: “Bằng hữu ơi, chính là số vàng này buộc tôi phải làm như vậy”.
Sau đó ông ta vớ lấy thức ăn mà người bạn mang đến, ăn ngấu nghiến. Chưa được bao lâu, người này cảm thấy rất khó chịu, trong bụng giống như bị lửa thiêu đốt. Khi đó, ông ta mới biết rằng mình đã bị trúng độc. Trước lúc chết, ông mới nói rằng: “Lời hòa thượng đó nói quả thật không sai!”.
Đây thật là ứng với lời người xưa để lại: Người chết vì tiền tài, chim chết vì miếng ăn. Đều là họa do lòng tham đưa đến, chính dục vọng đã khiến người bạn thân nhất trở thành kẻ thù không đội trời chung.
Truyện thứ hai: Người nông dân mua đất

Có một người nông dân muốn mua đất, ông ta nghe nói một người ở vùng khác có đất muốn bán, liền quyết định đến đó hỏi thăm. Người bán đất nói với ông ta rằng: “Chỉ cần giao một nghìn lạng bạc, ta sẽ cho ông thời gian một ngày, bắt đầu tính từ lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn xuống núi, ông có thể dùng bước chân khoanh tròn được bao nhiêu đất, thì số đất đó sẽ chính là của ông, nhưng nếu ông không trở về nơi khởi điểm, thì ngay cả một tấc đất ông cũng sẽ không có được”.
Người nông dân đó nghĩ thầm: “Nếu như hôm nay ta vất vả một chút, đi nhiều đường hơn một chút, thì chẳng phải có thể đi được vòng rất lớn, theo đó sẽ có được một mảnh đất rất lớn hay sao? Làm ăn như vậy quả thật là rất có lợi!”. Thế là ông ta liền ký kết giao ước cùng người chủ đất đó.
  

(Ảnh theo Epochtimes)

Mặt trời vừa mới nhô lên, ông ta liền cất bước thật dài đi nhanh về phía trước; đến giữa trưa, bước chân của ông vẫn không dừng lại giây phút nào, cứ mãi đi về phía trước, trong lòng nghĩ: “Hãy ráng chịu đựng một hôm nay, sau này sẽ có thể hưởng thụ hồi báo của vất vả hôm nay mang đến rồi”.
Ông ta cứ thế tiếp tục đi về phía trước, đến khi mặt trời sắp lặn rồi mới chịu quay trở về, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không về kịp thì một tấc đất cũng chẳng có. Thế là ông ta vội vàng trở về theo đường tắt. Tuy nhiên, mặt trời sắp xuống núi, ông ta đành phải liều mạng mà chạy, cuối cùng chỉ còn thiếu vài bước thì đến vạch khởi điểm, nhưng sức lực đã cạn kiệt, ông ngã nhào xuống nơi đó.
Dục vọng của con người và ranh giới với hiện thực mãi mãi cũng không cách nào vượt qua được, bởi lòng tham là vô đáy. Con người mãi mãi không biết thỏa mãn, đây chính là khuyết điểm lớn nhất trong nhân cách.
Truyện thứ ba: Phật và ma

Có một họa sĩ rất nổi tiếng, ông muốn vẽ Phật và ma, nhưng không tìm được người làm mẫu phù hợp, vì đầu óc ông không tài nào tưởng tượng ra nổi hình dáng của Phật, nên rất lo lắng. Trong một lần tình cờ, ông lên chùa bái lạy, vô tình nhìn thấy một hòa thượng. Khí chất trên vị hòa thượng này đã thu hút người họa sĩ sâu sắc. Vậy là ông liền đi tìm vị hòa thượng đó, hứa cho hòa thượng một số tiền lớn để làm người mẫu cho ông.
Về sau, tác phẩm của họa sĩ đã hoàn thành, gây chấn động ở vùng đó. Nhà họa sĩ nói: “Đó là bức tranh vừa ý nhất mà tôi từng vẽ qua, bởi người làm mẫu cho tôi quả khiến người ta vừa nhìn thấy nhất định cho rằng anh ta chính là Phật, loại khí chất thanh thoát an lành trên người anh có thể cảm động bất kì ai”.
  
(Ảnh: theo Epochtimes)
Người họa sĩ sau đó đã cho vị hòa thượng đó rất nhiều tiền như lời đã hứa.
Cũng nhờ bức tranh này, mọi người không còn gọi ông là họa sĩ nữa, mà gọi ông là “họa Thánh”.
Bẵng đi một thời gian, họa sĩ chuẩn bị bắt tay vào việc vẽ ma, nhưng điều này lại trở thành một vấn đề khó của ông, vì chẳng biết tìm hình tượng ma quỷ ở đâu. Ông đã hỏi thăm rất nhiều nơi, tìm rất nhiều người có vẻ ngoài hung dữ, nhưng không ai vừa ý cả.
Cuối cùng, ông tìm được trong nhà tù một tù nhân rất phù hợp với đối tượng ông cần vẽ. Họa sĩ vô cùng mừng rỡ, nhưng khi ông đối diện phạm nhân đó, người này đột nhiên khóc lóc đau khổ trước mặt ông.
Nhà họa sĩ rất lấy làm kinh ngạc, liền hỏi rõ ngọn ngành.
Người phạm nhân đó nói: “Tại sao lần trước khi người mà ông tìm để vẽ Phật là tôi, bây giờ khi vẽ ma quỷ, người ông tìm đến vẫn là tôi!”
Người họa sĩ giật cả mình, thế là ông lại nhìn kỹ người phạm nhân đó, rồi nói: “Sao lại có thể chứ? Người mà tôi tìm để vẽ Phật ấy khí chất phi phàm, còn cậu xem ra chính là một hình tượng ma quỷ thuần túy, sao lại có thể là cùng một người được? Điều này thật kì lạ, quả thật khiến người ta không thể nào lý giải được”.
Người kia đau khổ bi ai nói: “Chính là ông đã khiến tôi từ Phật biến thành ma quỷ”.
Họa sĩ nói: “Sao cậu lại nói như vậy, tôi vốn đâu có làm gì đối với cậu đâu”.
Ngươi đó nói: “Kể từ sau khi tôi nhận được số tiền ông cho, liền đi đến những chốn ăn chơi đàng điếm để tìm thú vui, mặc sức tiêu xài. Đến sau này, tiền tiêu sạch hết, mà tôi lại đã quen với cuộc sống đó rồi, dục vọng đã khởi phát mà không thể thu hồi lại được. Thế là tôi liền giật tiền người ta, còn giết người nữa, chỉ cần có được tiền, chuyện xấu gì tôi cũng có thể làm, kết quả đã thành ra bộ dạng này của ngày hôm nay đây”.
Người họa sĩ nghe xong những lời này, cảm khái vạn phần, ông sợ hãi than rằng bản tính con người trước dục vọng lại biến đổi mau chóng đến thế. Con người chính là yếu nhược như vậy đó. Thế là ông áy náy quăng cây bút vẽ xuống đất, từ đó về sau không còn vẽ bức tranh nào nữa.
Con người ta, một khi rơi vào trong cạm bẫy “theo đuổi ham muốn vật chất”, thì rất dễ đánh mất bản thân mình, muốn thoát ra khỏi đã trở thành mục tiêu rất khó khăn, vậy nên bản tính con người không thể đi cùng với lòng tham.
Thiền sư kể xong mấy câu chuyện, nhắm nghiền mắt lại không nói gì cả, còn người kia đã biết được đáp án từ trong những câu chuyện này: Thì ra điều đáng sợ nhất trên cõi đời này chính là dục vọng, dục vọng của người ta càng nhiều, thì sẽ càng không thỏa mãn, vậy nên sẽ càng không vui vẻ và phiền não vì thế cũng sẽ càng nhiều hơn.
Tác giả: Theo NTDTV.com | Dịch giả: Tiểu Thiện

Ti Mua và đồng đội

TI-MUA VÀ ĐỒNG ĐỘI

A-rơ-ca-đi Gai-đa

Người dịch: Trần Cao Thụy

 

Đại tá A-léc-xan-đơ-rốp, chỉ huy trưởng sư đoàn xe bọc thép vắng nhà đã ba tháng rồi. Chắc là ông đang ở ngoài mặt trận.

Khoảng giữa mùa hè ông có gửi điện về cho hai con gái là Ôn-ga và Giê-nhi-a, bảo các con nên ra trại riêng ở ngoại ô Mát-xcơ-va nghỉ nốt những ngày hè cuối cùng.

Giê-nhi-a hất chiếc khăn hoa ra sau gáy, đứng tựa người lên cán chổi ngay trước mặt Ôn-ga, cau có nghe lời chị dặn. Chị Ôn-ga nói:

-Chị mang đồ đạc đi trước, còn em ở lại dọn dẹp nhà cửa. Không việc gì phải cau mày, bặm môi như vậy. Nhớ khóa cửa lại. Đem trả sách cho thư viện. Đừng có tạt qua nhà bạn bè làm gì mà phải đi ngay ra ga. Đến đấy đánh cái điện này cho ba, rồi lên tàu đi thẳng tới trại… Giê-nhi-a, em phải biết nghe lời chị, vì chị với em là chị em ruột.

-Thì em với chị cũng thế.

-Đúng rồi… nhưng chị lớn tuổi hơn… Hơn nữa, ba dặn như vậy.

Khi chiếc xe hơi bắt đầu mở máy ngoài sân, Giê-nhi-a mới thở dài và quay lại nhìn xung quanh.

Khắp nhà bề bộn, ngổn ngang. Em bước tới gần chiếc gương đầy bụi. Trong gương, em nhìn thấy cả bức chân dung của ba em treo trên bức tường đối diện.

Được rồi! Tuy Ôn-ga lớn tuổi hơn và Giê-nhi-a bây giờ phải nghe lời, nhưng Giê-nhi-a lại có mũi, miệng và đôi lông mày giống ba như hệt. Sau này thể nào tính tình của em cũng sẽ giống ba.

Cô bé thít chặt lại chiếc khăn hoa, cởi dép, lấy giẻ lau, tháo khăn giải bàn, lấy chổi quét đống rác ra gần bậu cửa. Rồi mang xô đi hứng nước.

Chỉ một thoáng sau chiếc bếp dầu hỏa đã lên lửa. Lửa reo chíu chíu.

Nước láng ra khắp mặt sàn.

Bọt xà phòng sủi lên kêu lép bép, vỡ tan trong chiếc chậu giặt bằng tôn. Nhưng người đi dưới phố ngạc nhiên thấy một cô bé chân đất, áo đỏ đang đứng thản nhiên trên bậu cửa sổ tầng ba lau những ô cửa kính mở rộng.

 

Chiếc ô tô vận tải lao vun vút trên con đường rộng, ngập nắng. Ôn-ga ngồi trên một chiếc ghế mây, tựa mình vào chiếc tay đẫy mịn và đặt chân lên chiếc va-li. Con mèo con sắc hung nằm gọn trong lòng chị, chốc chốc lại đưa đôi chân trước ra vờn mấy cánh hoa mua.

Đến cây số ba mươi có một đoàn xe ô tô đi diễn tập của Hồng quân đuổi kịp chiếc ô tô vận tải. Các chiến sĩ Hồng quân ngồi thành hàng trên những chiếc ghế dài kê đều đặn trong xe, nòng súng ghếch lên trời, hát ca vang rộn.

Nghe tiếng hát, các cửa sổ, cửa lớn hai bên đường đều vội mở. Các em nhỏ hớn hở ùa ra cổng, trèo lên các hàng rào. Các em vẫy tay chào và ném cho các chú Hồng quân những quả táo còn chưa chín hẳn. Đoàn xe đã đi khuất, các em vẫn còn cố reo hò với theo, mãi sau mới chịu quay trở về và lập tức kéo nhau chơi trận giả. Các em cũng chiến đấu, cũng xung phong ồ ạt và phi ngựa cả vào những bụi gai, thậm chí cả vào bụi lá han nữa.

Chiếc ô tô vận tải rẽ vào khu trại nghỉ của các gia đình rồi dừng lại trước cửa một ngôi nhà nghỉ nhỏ có dây leo rủ xuống lòa xòa.

Bác lái xe và anh phụ lái mở thùng xe, dỡ đồ đạc xuống, còn Ôn-ga thì chạy ra mở tấm cửa kính ăn thông vào một hành lang.

Từ đây có thể nhìn thấy rõ cả một khu vườn rộng bỏ hoang. Tận cuối góc vườn đằng kia có một cái nhà kho hai tầng ọp ẹp. Trên mái thấp thoáng một mảnh cờ đỏ đang nhè nhẹ bay.

Ôn-ga trở lại xe.

Có một bà lão tất tưởi chạy đến. Đó là bà bán sữa bên hàng xóm. Bà ta tự sang đây dọn dẹp nhà cửa, cọ sàn và lau cửa kính giúp.

Trong lúc bà hàng xóm bận sắp chậu, kiếm giẻ lau thì Ôn-ga ôm con mèo sắc hung đi ra vườn.

Những thân cây anh đào bị chim sẻ đến mổ lỗ chỗ, vết nhựa mới chảy ra óng ánh. Những vòm cây phúc bồn, cúc dại và ngải hoa tỏa hương ngào ngạt. Mái nhà kho phủ đầy rêu mốc. Nhiều chỗ đã bị thủng. Có rất nhiều sợi dây gì mảnh mảnh xuyên qua những lỗ thủng đó, len lỏi trong các vòm lá rồi biến mất.

Ôn-ga lách qua đám cây dẻ, gỡ vội những tơ nhện vương trên mặt, trên đầu.

Sao lại như thế nhỉ? Lá cờ đỏ trên mái nhà không thấy bóng dáng đâu nữa. Ở chỗ đó chỉ còn trơ lại có mỗi cái cán thôi.

Thoáng có tiếng ai thì thầm vội vàng, lo lắng. Thế là “rầm” một cái, chiếc thang gỗ nặng đang kê sát bờ tường, ghếch lên cửa gác xép rơi xuống làm gãy mấy cành khô và bốc bụi bay mù mịt.

Những sợi dây căng trên mái nhà rung lên. Con mèo sắc hung cào vào tay chủ, rồi nhảy biến vào bụi lá han. Ôn-ga ngơ ngác đứng dừng lại nghe ngóng. Nhưng chị không hề thấy có một động tĩnh gì trong đám cây xanh, sau bờ rào bên hàng xóm và ngay trong cái ô cửa đen ngòm trên gác xép nhà kho cũng vậy.

Bà bán sữa giảng giải:

-Bọn trẻ con chuyên môn đi phá vườn đấy, cô ạ. Hôm qua chúng nó đến rung hai cây táo rồi đánh gãy cả một cây lê của nhà người ta. Trẻ con bây giờ như thế đấy… đúng là một bầy du côn. Tôi vừa mới tiễn thằng con trai đi Hồng quân rồi đấy, cô ạ. Ra đi mà nó chẳng uống rượu. Nó chỉ bảo: “Tạm biệt mẹ”. Thế là nó đi luôn, vừa đi vừa huýt sáo, trông đến là thương. Chiều đến tự nhiên tôi buồn đến chảy nước mắt ra. Ban đêm, chợt tỉnh giấc, tôi nghe thấy như có ai sục sạo ở ngoài sân. Tôi nghĩ thầm, bây giờ mình sống lẻ loi, cô độc, chẳng còn ai che chở cho nữa… Tôi già rồi, chỉ cần một hòn gạch nhỏ nện vào đầu là cũng đủ chết. Cũng phúc là chúng nó vào đấy, nhưng chẳng lấy một thứ gì. Chỉ quanh quất một chốc rồi lảng đi. Có mỗi cái thùng tô-nô bằng gỗ sồi tôi để giữa sân là bị chúng lôi ra cách cổng đến hai chục bước rồi vứt lại ở đấy. Cái thùng to dễ đến hai người khiêng không nổi. Đấy, vậy đấy. Nhưng bọn chúng là ai, mà việc làm thật ám muội.

 

Gần tối, dọn dẹp nhà cửa xong, Ôn-ga bước ra thềm. Chị đem cây đàn khảm xà cừ trắng óng ánh của bố gửi tặng hôm sinh nhật ra chơi.

Chị mở bao da lấy đàn đặt lên lòng, quang dây đeo qua vai và bắt đầu lựa nhạc cho một bài hát mới nghe được gần đây:

Ôi, nếu chỉ một lần

Được gặp anh trở lại

Ôi, đâu chỉ… một lần…

Hai, ba… và mãi mãi…

Trên đường bay mê mải

Anh nào hiểu cho em

Chờ anh, chờ anh mãi

Đến khi trời nắng lên.

Hỡi anh!

Chàng phi công! Súng đạn!

Tung cánh bay xa vời

Đến khi nào trở lại?

Biết làm sao, anh ơi

Miễn là anh trở lại

Một lần thôi… đủ rồi.

Ngay khi đang hát, chị Ôn-ga vẫn đưa nhanh mắt nhìn về phía bụi cây tối mọc sát tận hàng rào vườn nhà. Hát xong chị vụt đứng dậy quay người về phía đó, quát to:

-Này, ai trốn ở kia đấy? Và định làm gì vậy?

Có một người mắc quần áo trắng giản dị từ phía sau bụi cây bước ra. Anh ta cúi đầu lễ phép đáp:

-Tôi có trốn đâu. Tôi vốn người có tí chút nghệ sĩ. Tôi không muốn làm phiền chị, nên mới đứng im ở đây nghe thôi.

-Được thôi, nhưng anh có thể đứng nghe ở ngoài đường, chứ việc gì lại trèo qua hàng rào như vậy?

-Tôi ấy à? Trèo qua hàng rào à?…-Anh thanh niên phật ý.-Xin lỗi, tôi có phải là con mèo đâu mà trèo được. Ở chỗ hàng rào này có mấy tấm ván bị gãy, nên tôi bước qua đó thôi.

-Hiểu rồi!-Ôn-ga nhếch mép- Nhưng nhà tôi còn có cổng nữa kia mà. Vậy xin anh hãy làm ơn bước qua cái cổng đó ra ngoài đường cho.

Người kia nghe theo. Anh ta không nói nửa lời, lẳng lặng bước qua cổng ra đường, cài then lại cẩn thận. Việc làm đó làm cho Ôn-ga ưa thích.

-Khoan đã!- Ôn-ga chạy xuống thềm, giữ người kia lại. – Thế anh là ai? Diễn viên à?

-Không, – người kia trả lời, – tôi là kỹ sư cơ khí, nhưng những lúc rảnh rang tôi cũng có chơi đàn và hát trong đội ca kịch nhà máy.

-Này anh, – đột nhiên Ôn-ga đề nghị người kia với một thái độ hết sức tự nhiên, – anh dẫn tôi ra ga nhé. Tôi đi đón đứa em gái. Trời tối rồi mà mãi chưa thấy nó đến. Tôi không sợ ai đâu, nhưng tôi chưa biết đường. Mà anh mở cổng vào làm gì? Cứ đợi tôi ở ngoài ấy cũng được.

Ôn-ga cất đàn, quàng khăn lên vai rồi đi ra đường, con đường mờ mờ tối phảng phất hương vị của hoa lá và sương chiều.

 

Suốt dọc đường Ôn-ga chỉ nói dăm ba câu qua quít với người dẫn đường vì đang tức Giê-nhi-a. Còn anh thanh niên mới quen thì đã kịp giới thiệu cho chị biết anh tên là Ghê-oóc-ghi, họ Ga-ra-ép, làm kỹ sư cơ khí tại nhà máy chế tạo xe hơi.

Hai chuyến tàu qua rồi mà hai người vẫn chưa thấy Giê-nhi-a đâu. Đến chuyến thứ ba, chuyến cuối cùng cũng vẫn không thấy.

-Sống với con bé tai hại này đến là khổ!- Ôn-ga buồn rầu thốt lên. – Giá như tôi bốn mươi, hoặc ba mươi tuổi thì chẳng nói làm gì. Đằng này nó mười ba mà tôi thì mới có mười tám. Nó có thèm nghe lời tôi bao giờ đâu.

-Cần gì phải bốn mươi, – anh Ghê-oóc-ghi nói giọng quả quyết, – mười tám không hơn à! Cô chẳng nên phí sức lo lắng làm gì. Thế nào sớm mai em gái cô cũng đến.

Sân ga vắng vẻ. Anh Ghê-ooc-ghi rút hộp thuốc lá ra. Vừa lúc đó có hai thằng bé bước lại, chờ anh bật lửa lên, liền thò thuốc lá vào châm.

-Này anh bạn, – anh Ghê-oóc-ghi giơ que diêm lên soi tận mặt thằng lớn, – trước khi chìa thuốc lá ra ít nhất cũng phải chào nhau một cái đã chứ. Tôi đã có dịp hân hạnh được làm quen với anh ở công viên rồi đấy. Các anh là chỉ quen cậy ván hàng rào nhà người ta thôi. Anh tên là Mi-sơ-ca chứ gì?

Thằng bé đó khịt mũi rõ to và lủi mất. Anh Ghê-oóc-ghi tắt diêm, khoác tay Ôn-ga, đưa chị về nhà.

Hai người vừa đi khỏi thì thằng bé thứ hai gài điếu thuốc lá nhàu nát lên mang tai, láo xược hỏi:

-Cái tay tuyên truyền nào ấy nhỉ? Có phải người ở đây không?

-Người ở đây đấy, – Mi-sơ-ca miễn cưỡng trả lời,- chú cái thằng Ti-mua Ga-ra-ép đấy. Tao mà bắt được thằng Ti-mua thì phải dã cho nó một trận mới được. Nó vừa mới lập được một bọn định chống lại bọn ta.

Vừa lúc đó, chúng chợt trông thấy một cụ già lịch thiệp chống gậy đi xuống cầu thang, chỗ có cây đèn hiệu ở cuối sân ga.

Đó là bác sĩ Cô-lô-côn-tri-cốp, người địa phương. CẢ hai đâm bổ về phía ông cụ, vừa chạy theo vừa la ầm lên xin lửa. Song cái điệu bộ và cái lối hỏi của chúng làm cho cụ già lịch thiệp mất cảm tình. Cụ quay lại giơ gậy lên đe chúng rồi thong thả bước đi.

… Từ ga Mát-xcơ-va, Giê-nhi-a không kịp đánh điện cho bố nên vừa xuống tàu em quyết định đi tìm trạm bưu điện địa phương.

Em đi qua một cái công viên cũ, vừa đi vừa hái hoa và tình cờ bước tới một ngã tư có hai dãy phố đầy những hàng rào kín mít. Vẻ hoang vu ở đây làm em nhận ra là mình đã đi lạc đường.

Giê-nhi-a chợt trông thấy ngay gần đấy một cô bé đang nắm sừng một con dê bướng bỉnh, vừa lôi đi vừa luôn mồm quát mắng.

-Này đằng ấy ơi, – Giê-nhi-a gọi to,- ra trạm bưu điện đi lối nào hả?

Nhưng lúc đó con dê lồng chạy. No quay sừng phóng một mạch vào công viên. Còn cô bé kia thì vừa la ó, vừa đuổi theo. Giê-nhi-a nhìn quanh: trời tối đến nơi rồi mà chẳng thấy bóng dáng một người nào. Em mở cổng vào một ngôi nhà hai tầng mầu xám rồi bước theo đường mòn tới tận bậc thềm.

Giê-nhi-a không dám mở cửa. Em hỏi to, nhưng rất lễ phép:

-Trong nhà làm ơn cho hỏi thăm đường từ đây ra trạm bưu điện đi lối nào ạ?

Không có tiếng trả lời. Em đứng lặng im suy nghĩ rồi đẩy cửa đi dọc theo hành lang vào một gian phòng. Cả nhà đi vắng. Giê-nhi-a băn khoăn. Em toan quay đi thì bỗng thấy một con chó vàng to tướng chui ở dưới gầm bàn ra. Con chó chăm chắm nhìn vào bộ mặt ngơ ngác của cô bé lạ, rồi nằm lăn ra chắn lối, gầm gừ khe khẽ.

-Mày ngốc lắm!- Giê-nhi-a sợ sệt xoè hai bàn tay ra quát. – Tao có phải là kẻ trộm đâu! Tao không hề lấy một cái gì của nhà mày. Đây là chìa khóa cửa nhà tao. Còn đây là bức điện tao định đi đánh cho ba tao. Ba tao là chỉ huy đấy. Mày hiểu chưa?

Con chó nằm im không hề nhúc nhích. Giê-nhi-a nhè nhẹ bước lại gần ô cửa sổ để mở, tiếp tục nói:

-À! Mày nằm đấy hả? Ừ, cứ nằm im đấy… Mày thật ngoan… Thoáng trông cũng biết là khôn, là dễ thương.

Nhưng Giê-nhi-a chưa kịp đặt bàn tay lên thành cửa sổ thì con chó dễ thương kia đã vội nhảy chồm lên sủa inh ỏi. Giê-nhi-a hoảng hốt nhảy vội lên đi-văng, co cả hai chân lên.

-Lạ nhỉ!- cô bé phát khóc lên. – Mày đi mà bắt bọn kẻ cướp, bọn gián điệp ấy, còn tao đây là người. Này!- Em thè lưỡi ra trêu con chó. – Đồ ngốc!

Giê-nhi-a đặt chiếc chìa khóa cửa và tờ điện báo lên mép bàn. Đành phải đợi chủ nhà về thôi.

Một giờ, rồi hai giờ trôi qua… Trời tối hẳn, xa xa có tiếng còi tàu, tiếng chó sủa, tiếng bóng chuyền. Đâu đó có tiếng đàn ghi ta. Duy ở đây, quanh cái nhà nghỉ mát màu xám này là im lặng, mịt mù.

Giê-nhi-a gối đầu lên thành đi-văng khóc thút thít. Cuối cùng em ngủ thiếp đi.

 

Đến tận sáng hôm sau, Giê-nhi-a mới tỉnh dậy.

Lùm cây rậm rạp được trận mưa đêm qua gội sạch đang rì rào bên ngoài cửa sổ. Gần đâu đây có tiếng ai kéo nước ở giếng. Và ở chỗ khác lại có tiếng cưa gỗ. Chỉ riêng quanh ngôi nhà nghỉ mát bé nhỏ này là vẫn yên lặng như cũ.

Bây giờ Giê-nhi-a nhận ra dưới gáy em có một chiếc gối da mềm mại và dưới chân em có đắp một tấm chăn mỏng. Còn con chó thì không thấy nằm trên sàn nữa.

Như vậy là đêm qua có ai đã vào đây!

Giê-nhi-a choàng dậy. Em hất ngược mái tóc ra phía sau, vuốt lại nếp áo đã bị nhàu rồi cầm lấy chiếc chìa khóa và tờ điện báo chưa kịp đánh đang để trên bàn. Em toan chạy đi thì vô tình nhìn thấy trên mặt bàn có một tờ giấy viết chữ to bằng bút chì xanh:

“Cô bé, khi nào đi khỏi đây nhớ đóng chặt cửa lại cho”. Bên dưới là chữ ký: “Ti-mua”.

“Ti-mua? Ti-mua là ai nhỉ? Nhất định phải gặp người này để cảm ơn mới được”.

Giê-nhi-a ngó sang phòng bên. Bên đó có một chiếc bàn làm việc. Trên bàn có một lọ mực, một cái gạt tàn thuốc lá và một chiếc gương con. Phía bên phải, ở gần đôi găng tay lái xe có một khẩu súng lục cũ kỹ. Ngay sát bàn lại có một thanh kiếm cong kiểu Thổ Nhĩ Kỳ vỏ đã bong sơn và sây sát. Giê-nhi-a để chìa khóa và bức điện xuống bàn, sờ tay vào đốc kiếm, rồi mạnh dạn rút ra khỏi bao, vung mạnh lên đầu và bước lại gần gương ngắm nghía.

Trông cũng có vẻ oai vệ và dữ tợn đáo để. Giá chụp được một kiểu ảnh như thế này mà mang về trường thì thật là hay. Có thể nói dối là chính em đã có lần được bố cho ra mặt trận. Tay trái có thể cầm thêm khẩu súng lục nữa. Đây. Thế này oách hơn.

Cô bé trợn mắt, bặm môi lại ngắm thẳng vào gương bóp cò.

Tiếng nổ vang dội cả gian phòng. Khói súng che mù cửa sổ. Cái gương để bàn đổ vào cái gạt tàn thuốc lá. Giê-nhi-a hoảng hốt vội bỏ cả chìa khóa lẫn tờ điện báo lại trên bàn, lao thẳng ra cổng, cố thoát cho xa cái ngôi nhà kỳ dị và nguy hiểm này.

 

Em ra đến bờ sông bằng cách nào cũng không biết nữa. Lúc này trong tay em chẳng còn chiếc chìa khóa căn phòng ở Mát-xcơ-va, cái biên lai để đánh điện và cả tờ điện báo chưa kịp đánh đi cũng mất nốt. Thế là sẽ phải thuật lại mọi chuyện với chị Ôn-ga: từ chuyện con chó, chuyện ngủ lại một đêm trong ngôi nhà vắng chủ, chuyện thanh kiếm Thổ Nhĩ Kỳ và cả chuyện phát súng lục nữa. Thật không may! Giá có ba ở nhà thì ba sẽ thông cảm ngay. Chị Ôn-ga thì không đâu. Nhất định chị ấy sẽ nổi cáu lên, nếu không thì lại khóc. Như vậy sẽ rắc rối hơn. Bản thân Giê-nhi-a cũng biết khóc. Nhưng cứ mỗi lần thấy Ôn-ga khóc là Giê-nhi-a chỉ muốn làm sao leo ngay lên một cái cột điện, một cái cây thật cao, hay là một ống khói trên mái nhà nào đó mà ngồi.

Để lấy can đảm, Giê-nhi-a nhảy xuống sông tắm rồi lặng lẽ đi tìm nhà nghỉ của mình.

Khi em bước đến thềm thì Ôn-ga đang lúi húi thắp cái bếp dầu lửa trong bếp. Nghe thấy tiếng bước chân, chị quay lại và im lặng nhìn Giê-nhi-a đầy vẻ tức giận.

-Chào chị Ôn-ga! – Giê-nhi-a dừng lại ở bậc thềm trên cùng, gượng cười. – Chị không mắng em đấy chứ?

-Nhất định sẽ mắng. – Ôn-ga đáp, mắt vẫn chằm chằm nhìn em.

-Thế thì chị mắng em đi!- Giê-nhi-a ngoan ngoãn chịu lỗi. – Chị ạ, thật là một chuyện hết sức lạ lùng, một cuộc phiêu lưu thật ly kỳ! Chị đừng cau mặt lại thế. Chẳng có gì đáng hoảng hốt cả, em chỉ đánh mất chìa khóa và chưa đánh được điện cho ba thôi…

Giê-nhi-a nheo mắt, lấy lại tinh thần để kể một mạch từ đầu đến cuối. Nhưng vừa lúc đó cánh cổng nhà ken két mở ra. Một con dê lông bờm xờm, dính đầy quả ké đang cắm cổ chạy thục mạng vào sân rồi lao ra vườn. Người chạy đuổi theo con dê ấy lại chính là cô bé chân đất mà Giê-nhi-a đã biết mặt. Nhân cơ hội đó Giê-nhi-a chạy lảng ra vườn, đuổi theo con dê.

Nhưng vừa chạy đến nơi thì cô bé kia đã tóm được sừng dê rồi.

-Này, cậu có đánh mất gì không? – cô bé vừa giơ chân đá con dê tới tấp, vừa rít răng lại hỏi Giê-nhi-a.

Giê-nhi-a không hiểu ý, đáp:

-Không!

-Thế cái này của ai? Không phải của cậu à? – Cô bé đưa cho Giê-nhi-a chiếc chìa khóa căn phòng ở Mát-xcơ-va.

-Của tôi! Giê-nhi-a hoảng hốt liếc nhìn về phía hành lang khẽ trả lời.

-Cậu cầm lấy cái chìa khóa, cái thư và tờ biên lai đánh điện này, còn bức điện thì đã gửi đi rồi, – cô bé vẫn nói liến thoắng và rin rít như lúc nãy.

Cô bé giúi vào tay Giê-nhi-a một gói giấy, rồi đấm luôn cho con dê một cái.

Con dê nhảy chồm lên, chạy thẳng ra phía cổng, cô bé chạy theo như một cái bóng, bất chấp cả bụi ké lẫn lá han. Ra khỏi cổng cả hai đều biến nhanh trong nháy mắt.

Giê-nhi-a so vai lại, như thể chính em vừa bị cô bé kia đấm chứ không phải là con dê. Em mở gói giấy ra xem:

“Đây là chìa khóa còn đây là biên lai đánh điện. Như vậy là đã có ai giúp mình đánh điện đi cho ba rồi. Nhưng ai nhỉ? Ái chà! Có thư đây rồi! Thế này là thế nào nhỉ?”

Trên mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ to ghi bằng bút chì xanh:

“Cô bạn. Ở nhà đừng sợ gì ai. Mọi việc đã đâu vào đấy cả rồi. Tôi sẽ không nói chuyện với ai đâu”. Và ở dưới lại có chữ ký: “Ti-mua”.

Như người mất hồn, Giê-nhi-a nhét mảnh thư vào túi. Sau đó em vươn thẳng vai lên, bình tĩnh bước lại chỗ Ôn-ga. Ôn-ga vẫn đứng im bên bếp dầu hỏa còn chưa kịp châm lửa, nước mắt vòng quanh.

Giê-nhi-a thấy vậy bèn thốt lên đau đớn:

-Chị Ôn-ga ơi. Em đùa đấy mà. Có chuyện gì đáng để chị phải giận em đâu? Em đã dọn sạch sẽ các phòng, em lau cả cửa kính, em lại còn cố giặt hết cả giẻ lau, lau hết cả mặt sàn rồi còn gì nữa. Đây, chị cầm lấy chìa khóa. Còn đây là biên lai điện đánh đi cho ba. Nào, chị cho em hôn chị một cái. Em yêu chị vô cùng. Chị có biết không! Chị có muốn vì chị mà em có thể nhảy từ trên mái nhà xuống bụi lá han kia không?

Và không đợi chị trả lời, Giê-nhi-a cứ thế chạy lại ôm chầm lấy cổ chị.

-Phải… chị lo phát sốt lên đấy!- Chị Ôn-ga tỏ vẻ thất vọng.- Cái lối đùa của em thật là ngốc… Ba đã dặn chị là… Thôi, Giê-nhi-a! Tay chị dầu hoả đây này! Giê-nhi-a, em đổ sữa vào xoong rồi đặt lên bếp đi!

Khi Ôn-ga đã ra đến chậu rửa mặt, Giê-nhi-a vẫn còn lẩm bẩm:

-Nhưng em… không đùa thì không chịu được.

Giê-nhi-a vừa đặt xoong sữa lên bếp dầu lửa vừa đưa tay vào túi lần tờ giấy nhỏ. Em hỏi:

-Chị Ôn-ga này, có ông Trời không nhỉ?

-Làm gì có!- Ôn-ga đáp rồi cúi mặt xuống chậu nước.

-Thế có ai?

-Thôi đi!- Ôn-ga khó chịu trả lời. – Chẳng có ai hết.

Giê-nhi-a im lặng một lát rồi lại hỏi:

-Chị Ôn-ga này, Ti-mua là ai?

-Đấy không phải là ông Trời mà là một ông vua, – Ôn-ga vừa thoa xà phòng lên mặt, lên tay, vừa miễn cưỡng trả lời. – Đó là một ông vua thọt thời trung cổ ác có tiếng.

-Thế nếu không phải là vua, không ác và cũng không sống ở thời trung cổ thì chị bảo là ai?

-Thế thì chị chịu. Thôi, đủ rồi đấy! Mà cái Ti-mua đấy có việc gì đến em?

-Việc gì đến em ở chỗ là hình như em rất yêu người ấy thì phải.

-Ai? – Ôn-ga không hiểu, vội ngẩng khuôn mặt đầy những xà phòng lên, hỏi em. – Em nói lảm nhảm cái gì thế. Toàn bịa chuyện lăng nhăng, không để cho người ta rửa mặt nữa! Cứ đợi đấy, rồi ba về ba sẽ bảo cho mà biết cái chuyện yêu với ghét ấy.

-Ba về thì có sao! -Giê nhi-a thốt lên, giọng vừa đau khổ lại vừa thiết tha. – Ba có về cũng chẳng ở nhà được bao lâu. Và tất nhiên không bao giờ ba lại nỡ tâm làm cho một con người đơn độc và yếu đuối phải khổ.

-Em đơn độc và yếu đuối à? – Ôn-ga hoài nghi hỏi lại. – Trời ơi, Giê-nhi-a ơi, chị cũng chẳng hiểu em là một đứa bé như thế nào và giống ai nữa!

Nghe thấy vậy Giê-nhi-a bèn cúi thấp đầu xuống để ngắm lại gương mặt mình in lên cái ấm đun nước mạ kền, rồi không do dự, kiêu hãnh trả lời:

-Giống ba. Chỉ có thế thôi. Giống ba. Giống một mình ba thôi. Và không hề giống bất cứ ai khác trên thế giới này hết.

 

Bác sĩ Phê-đô Cô-lô-côn-tri-cốp, con người lịch thiệp đã có tuổi đang ngồi chữa chiếc đồng hồ treo tường ở trong vườn riêng.

Cô-li-a, cháu nội của ông thì đứng ngay sát đấy, mặt mày ỉu sìu.

Cô-li-a đứng đấy ra điều để giúp ông làm việc, nhưng thực ra suốt hàng giờ đồng hồ rồi nó chỉ làm có mỗi một việc là cầm khư khư cái tuốc-nơ-vít trong tay đợi lúc ông hỏi đến.

Ông cụ ra công ấn cái dây cót bằng thép vào đúng chỗ, nhưng cái dây cót bướng bỉnh cứ không chịu vào. Biết đến bao giờ cho xong. Đã thế cái thằng Xi-ma đứng bên kia hàng rào lại cứ nhô cái đầu bù xù lên. Cái thằng đến là nhanh trí. Nó ra hiệu cho Cô-li-a bằng cả lưỡi, cả đầu, cả tay. Những ám hiệu ấy kỳ quặc và bí ẩn đến nỗi em gái Cô-li-a là Ta-nhi-a mới lên năm tuổi, đang ngồi ném quả ké vào mõm con chó xồm dưới gốc cây bồ đề, phải thốt kêu lên và chạy lại giật quần ông. Lập tức cái đầu bù ở bên kia hàng rào biến mất.

Cuối cùng cái dây cót đã nằm được vào đúng chỗ.

-Con người ta ai cũng cần phải lao động, – bác sĩ Cô-lô-côn-tri-cốp, con người lịch thiệp có mái tóc bạc ấy vừa ngẩng vầng trán đầy mồ hôi lên và nói như giảng cho Cô-li-a nghe. – Cái mặt cháu trông cứ như là bị ông bắt uống dầu tẩy giun ấy. Đưa cho ông cái tuốc-nơ-vít ra đây và cầm lấy cái kìm này. Lao động làm cho con người ta cao thượng. Thế mà, hình như trong tâm hồn cháu lại đang rất thiếu cái đức tính cao thượng ấy. Ví dụ ngày hôm qua cháu ăn một lúc bốn que kem mà không hề chia cho em.

-Em ấy nói dối, thật là điêu!- Cô-li-a ức quá giận dữ nhìn Ta-nhi-a kêu lên. – Cháu cho nó cắn tất cả ba lần, mỗi lần hai miếng. Thế mà nó lại còn đi mách. Lại còn lấy bốn xu của mẹ để ở bàn nữa.

Ta-nhi-a không quay đầu lại, thản nhiên nói:

-Còn anh thì đêm hôm qua dòng dây qua cửa sổ trốn đi chơi. Dưới gối anh có một cái đèn pin. Hôm qua lại còn có một thằng du côn ném đá vào phòng ngủ, ném xong lại còn huýt sáo, ném rồi lại còn huýt sáo.

Cô-li-a hốt hoảng trước những lời nói trắng trợn của con bé Ta-nhi-a tai hại. Cả người run lên từ đầu đến gót. Nhưng may sao lúc đó ông nội còn đang mê mải với công việc, hoặc không hiểu gì cả nên chẳng để ý đến những lời vu khống nguy hiểm ấy. Bà bán sữa mang bình sữa vào vườn thật đúng lúc. Bà ta vừa đong sữa vừa than thở:

-Cụ Phê-đô ạ, tý nữa thì đêm qua bọn kẻ trộm lấy mất cái thùng gỗ sồi nhà tôi. Hôm nay mọi người đều bảo là lúc tờ mờ đất họ có thấy hai thằng leo trên mái nhà. Cái bọn chết giẫm ấy dám ngồi vắt vẻo trên ống khói!

-Sao lại ngồi trên ống khói? Xin lỗi bà, thế họ ngồi trên đó với mục đích gì kia ạ? – Ông già lịch thiệp ngạc nhiên hỏi.

Nhưng vừa lúc đó ở phía chuồng gà có tiếng leng keng vang lại. Chiếc tuốc-nơ-vít trong tay ông già lịch thiệp có mái tóc bạc bỗng nảy lên. Thế là cái dây cót bất trị văng ra ngoài, bắn tít lên mái tôn kêu đánh keng một cái. Tất cả mọi người, kể cả bé Ta-nhi-a, thậm chí đến cả con chó lười biếng đang nằm ườn ra kia cũng đều giật mình quay cả lại: không ai hiểu cái tiếng đó ở đâu phát ra và đang xảy ra chuyện gì. Riêng có Cô-li-a là chẳng nói chẳng rằng cứ thế cắm cổ nhảy qua mấy luống cà rốt vụt biến ra ngoài hàng rào như một con thỏ.

Cô-li-a dừng lại bên chuồng bò, cũng như ở chuồng gà, có tiếng gì từ trong vẳng ra nghe như tiếng quả cân nện vào một thanh sắt đường tàu. Cô-li-a gặp ngay Xi-ma ở đó, liền hỏi:

-Này… Chẳng hiểu ra làm sao cả. Cái gì vậy?…Báo động à?

-Có gì đâu! Chắc lại lệnh tập trung khẩn cấp thôi!

Cả hai cùng nhảy qua hàng rào, cùng chui vào công viên. Đến đây chúng gặp Gây-ca có đôi vai rộng, thân hình chắc nịch; rồi đến Va-xi-a La-đư-ghin và những bạn khác.

Các em men theo cái lối đi quen thuộc, chạy tới đích một cách thật lẹ làng và nhanh nhẹn. Vừa chạy các em vừa hỏi nhau vội vã:

-Báo động phải không?

-Đâu phải. Đó là lệnh tập trung khẩn cấp đấy!

-Lệnh tập trung gì mà lại thế? Tớ nghe có thấy “ba tiếng một, ba tiếng một” đâu. Chắc lại có thằng nào ấm ớ gõ một lúc mười tiếng liền như vậy thôi.

-Ừ, để xem sao!

-Phải đấy, ta sẽ kiểm tra!

Nhanh lên! Tiến lên phía trước!

 

Giữa lúc ấy có một cậu bé tóc đen, người dong dỏng cao, trạc mười ba đang đứng trong ngôi nhà Giê-nhi-a ngủ lại đêm trước. Câu ta mặc một chiếc quần đen mỏng, chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh sẫm có thêu ngôi sao đỏ trên ngực.

Một ông già đầu bù, tóc bạc bước lại gần cậu. Ông già mặc chiếc áo vải thô loại xoàng. Chiếc quần rộng của ông đã có nhiều mảnh vá. Ở đầu gối chân trái ông có buộc một thanh gỗ thô bằng mấy sợi dây da. Một tay ông cầm mảnh giấy, tay kia cầm khẩu súng lục cũ kỹ.

-“Cô bé khi nào đi khỏi đây nhớ đóng cửa lại cho chặt”, – ông lão đọc với giọng đầy nhạo báng. – Thế nào, ít nhất cháu cũng phải nói cho chú biết đêm qua cháu cho ai ngủ lại ở chiếc đi văng này chứ?

-Một cô bé quen ạ, – cậu bé trả lời chiếu lệ, – con chó đã canh cho cô ta mà không cần đến cháu.

-Nói dối! – ông già nổi cáu. – Nếu là một cô bé quen thì trong tớ giấy này cháu phải gọi hẳn tên cô ta ra chứ!

-Khi viết cháu còn chưa biết tên. Bây giờ thì cháu mới biết.

-Chưa biết. Như vậy là cháu đã để cho cô bé ấy ở lại đây một mình… suốt buổi sáng hôm nay chứ gì? Cháu điên à? Có lẽ phải gửi ngày cháu đi nhà thương điên mới được. Cái con nhãi đó đã đánh vỡ gương, rồi lại làm mẻ cả cái gạt tàn. May mà khẩu súng lục này lại lắp đạn giả đấy. Nếu lúc ấy lại đem lắp đạn thật vào thì cháu tính sao?

-Nhưng… chú làm gì có đạn thật vì đối thủ của chú cũng chỉ có súng và kiếm… bằng gỗ thôi.

Hình như ông già tủm tỉm cười. Tuy vậy, ông cũng lắc cái đầu bù xù, nghiêm nghị nói:

-Cứ liệu đấy! Chú biết tất cả rồi. Chú thấy việc làm của cháu mờ ám lắm. Chưa biết chừng chỉ vì những chuyện đó mà chú sẽ phải gửi cháu trả cho mẹ cháu đấy!

Ông già lê chiếc chân gỗ khập khiễng bước lên thang. Đợi cho ông đi khuất chú bé nọ mới chạy vụt ra, tóm lấy đôi chân trước con chó đang đi vào phòng và hôn lên mõm nó.

-Trời ơi, con Ri-ta này! Tao với mày đến bị lộ mất thôi. May mà hôm nay chú ý hiền. Chú ấy lại sắp hát lên cho mà xem.

quả nhiên, từ phòng trên vọng xuống một tiếng ho khan, tiếp ngay sau đó là tiếng thử giọng là-lá-la, cuối cùng, một giọng nam trung cất lên:

…đã ba đêm rồi ta mất ngủ. Ta mơ thấy điều gì lạ kỳ và bất hủ trong đêm đen…

-Đứng lại, con chó điên này!-Ti-mua hét lên. – Sao mày cắn rách quần tao lại còn định kéo tao đi đâu thế nữa?

Đột nhiên em đóng mạnh cánh cửa lên buồng ông chú lại, rồi chạy theo con chó ra hành lang.

Ở đầu hành lang, bên cạnh chiếc máy điện thoại không to lắm có một chiếc chuông đồng buộc vào sợi dây đang bị giật mạnh.

Em vội nắm lấy, cuốn dây lại rồi mắc vào đinh. Cái dây bị giật lúc này đã yếu hẳn. Có lẽ nó bị đứt ở đâu đấy. Thấy thế chú bé vừa ngạc nhiên lại vừa tức giận. Chú cầm lấy ống điện thoại.

 

Một giờ trước khi xảy ra câu chuyện đó, Ôn-ga đang ngồi làm việc bên bàn. Chị đặt cuốn vật lý ở ngay trước mặt.

Giê-nhi-a bước vào để lấy lọ cồn i-ốt.

-Giê-nhi-a, – Ôn-ga bực dọc hỏi, – sao lại có cái vết xước trên vai thế kia?

-Em đang đi đường, – Giê-nhi-a trả lời qua quít, – thì chạm phải một cái gì gai gai, sắc sắc. Thế là bị xước da.

Ôn-ga giễu lại:

-Thế sao chị cũng đi đường lại không chạm phải cái gì gai gai, sắc sắc?

-Không đúng! Chị chạm phải môn thi toán. Cái môn ấy vừa sắc lại vừa gai. Chị sẽ bị cứa cho mà xem!… Chị Ôn-ga ơi, đừng đi kỹ sư làm gì, đi bác sĩ hơn, – Giê-nhi-a khuyên chị và đặt cái gương để bàn, ngay trước mặt chị. – Đây, chị ngắm lại thử xem, chị có làm nổi kỹ sư không? Kỹ sư thì phải như thế này này… (Cô bé làm luôn một lúc ba vẻ mặt đầy nghị lục). Còn chị thì thế này này… thế này này… rồi lại thế này này… – Giê-nhi-a nheo mắt, nhếch lông mày lên rồi cười rất đỗi dịu dàng.

-Ngốc nghếch lắm!- Ôn-ga ôm lấy em hôn rồi khẽ đẩy ra. – Giê-nhi-a, em ra chỗ khác đi, đừng đến quấy chị. Em nên ra giếng xách nước về thì tốt hơn.

Giê-nhi-a lấy một quả táo trong đĩa rồi đi về phía góc nhà. Em đứng bên cửa sổ, tháo cái vỏ bọc đàn phong cầm ra và nói:

-Chị Ôn-ga này! Hôm nay có một chú nào ấy gặp em. Trông cũng được. Tóc vàng, quần áo trắng bốp. Chú ấy hỏi em: “Cô bé ơi, tên cô là gì?” Em nói: “Là Giê-nhi-a…”

-Giê-nhi-a! Đừng quấy rầy mà cũng đừng có động vào đàn của chị!- Ôn-ga không quay lại, mắt không rời cuốn sách.

Vừa lôi chiếc phong cầm ra Giê-nhi-a vừa nói tiếp: “Chị của em hình như tên là Ôn-ga, có phải không?”

-Giê-nhi-a! Đừng ồn nữa và đừng có động vào đàn! – Ôn-ga nhắc lại, miễn cưỡng lắng nghe.

-Chú ấy bảo: “Chị cô chơi đàn giỏi lắm. Chị ấy có muốn thi vào đại học âm nhạc không?” (Giê-nhi-a đã lôi được đàn ra, đeo dây qua vai). Em bảo: “Không ạ, chị cháu theo học ngành bê tông cốt sắt rồi”. Thế là chú ấy nói: “A-a!” (Giê-nhi-a bấm theo luôn một phím đàn). Em vội đáp lại: “Bê-ê!” (Giê-nhi-a lại bấm phím khác).

-Ranh con! Cất đàn đi! – Ôn-ga vừa quát, vừa đứng bật dậy. – Ai cho phép em lân la nói chuyện với ông chú, ông bác nào ấy hả?

-Được rồi, em khắc cất, – Giê-nhi-a tỏ vẻ giận dỗi, – em mà lân la à! Tự chú ấy chú. Em còn định kể nốt cho chị nghe, nhưng chị thế thì thôi em không kể nữa. Cứ đợi đấy, ba về ba sẽ bảo cho chị!

-Bảo chị ấy à? Có họa là ba sẽ bảo em ấy. Em quấy rối, không để cho chị học.

-Không, bảo chị ấy! – Giê-nhi-a cầm lấy chiếc thùng rỗng chạm xuống bậc thềm, nói với lại. – Em sẽ kể hết cho ba nghe là ở nhà ngày nào chị cũng sai em tới hàng trăm lần, hết sai đi mua dầu hỏa lại mua xà phòng rồi lại đi lấy nước! Em không phải là cái xe vận tải, không phải là con ngựa, mà cũng không phải là cái máy kéo của chị!

Giê-nhi-a lấy nước về, đặt thùng nước lên trên giá gỗ, nhưng liếc thấy Ôn-ga vẫn đang cặm cụi làm bài, không để ý đến công việc của mình, nên tấm tức bỏ ra vườn. Ra đến cái sân cỏ ở trước căn nhà kho có gác xép, Giê-nhi-a rút cái súng cao su ở trong túi ra, căng dây bắn một thằng nhảy dù nhỏ cắt bằng bìa cứng lên trên không.

Thằng nhảy dù chổng ngược hai chân bay lên trời đến tận lúc hết đà mới quay lộn trở lại. Trên đầu nó một cái dù giấy màu xanh mở tung ra. Nhưng lúc đó có một cơn gió mạnh thổi bạt thằng nhảy dù đi xa và biến mất vào phía sau cái ô cửa tối om trên gác xép nhà kho.

Nguy to rồi! Phải đi cứu thằng bìa cứng này mới được. Giê-nhi-a đi vòng quanh căn nhà kho. Em thấy những sợi dây điện mảnh tua tủa chui ra ở trong các lỗ thủng trên mái. Em bê chiếc thang gỗ ọp ẹp lại gần ô cửa nhỏ trên gác xép rồi leo lên và chui vào. Lạ quá! Có người ở trên này. Trên tường có treo mấy cuộn dây, một cái đèn, hai lá cờ hiệu, một bản đồ khu vực có những dấu hiệu kỳ lạ. Trong góc gác xép có một đống rơm phủ kín bằng bao tải. Ở đấy cũng có một cái hòm bằng gỗ dán. Ngay cạnh đó có một cái bánh xe giống như bánh lái tàu thủy. Phía trên là máy điện thoại tự làm lấy.

Giê-nhi-a nhìn qua khe hở. Những đám lá cây trong khu vườn um tùm rập rờn như sóng biển trước mắt em. Trên trời chim câu bay lượn. Giê-nhi-a thầm nghĩ: ta hãy coi những con chim câu ấy là những con hải âu, còn cái nhà kho cũ kỹ đầy những dây dợ, đèn và cờ này như một hạm tàu lớn; còn chính ta sẽ là thuyền trưởng.

Em bỗng thấy vui hẳn lên. Em quay tay lái. Những sợi dây buộc chặt vào tay lái ấy rung mạnh và reo lên. Gió vẫn nổi và thổi gợn lên những đợt sóng xanh. Giê-nhi-a tưởng như cái tàu-nhà kho này của em đang từ từ lượn vòng trên sóng đại dương vậy.

-Quay sang bên trái!- Giê-nhi-a cất tiếng chỉ huy và nắm chặt lấy bánh lái.

Những tia nắng xuyên qua những khe hở nhỏ bé trên mái nhà rơi lốm đốm lên mặt, lên áo Giê-nhi-a. Giê-nhi-a coi đó là những chiếc đèn pha từ tàu địch đang rọi vào tàu mình. Em quyết định phải tác chiến.

Em lấy hết sức để điều khiển tay lái. Chiếc bánh xe kêu cót két hết đưa qua trái, lại đưa qua phải, và Giê-nhi-a lớn tiếng ra lệnh.

Nhưng rồi những pha đèn bỗng tắt vụt đi. Dĩ nhiên đối với Giê-nhi-a thì đấy không phải là hiện tượng mây che mặt trời, mà là tàu địch đã bị em dìm xuống đáy biển sâu.

Cuộc chiến đấu kết thúc. Giê-nhi-a đưa cánh tay đầy bụi lên lau trán. Bỗng nhiên chuông điện thoại trên tường réo lên. Giê-nhi-a không ngờ đến chuyện đó. Em vẫn nghĩ rằng cái máy điện thoại này chẳng qua chỉ là một thứ đồ chơi, nên khi nghe thấy nó reo em hoảng hốt chạy lại cầm lấy ống nghe.

Có tiếng ai lanh lảnh và gay gắt:

-A-lô, a-lô! Trả lời đi! Con lừa nào vừa đánh đứt dây và ra những cái lệnh ngu xuẩn, khó hiểu như vậy đấy?

-Đây không phải là lừa, – Giê-nhi-a nghiêm nghị đáp. – Đây là tôi, Giê-nhi-a!

-Đồ điên!- vẫn cái giọng nói của người đó, vừa gay gắt, vừa hốt hoảng. – Bỏ tay lái ra mà chạy ngay đi không có bọn nó sẽ kéo đến đập chết bây giờ đấy!

Giê-nhi-a buông vội cái ống nói ra, nhưng muộn mất rồi. Có cái đầu của ai đã thò vào chỗ khung cửa sáng. Đó chính là Gây-ca. Theo sau là Xi-ma, rồi đến Cô-li-a và nhiều cậu khác.

-Các người là ai? – Giê-nhi-a vừa lùi xa cửa sổ, vừa hốt hoảng hỏi. – Cút đi! Đây là vườn nhà tôi. Tôi không mời các người đến đây.

Nhưng vai chen vai cả bọn con trai ấy đã kết thành một bức tường, chắc nịch lùi lũi bước lại trước mặt Giê-nhi-a. Cảm thấy mình đã bị dồn vào sát góc tường, Giê-nhi-a bật kêu lên.

Vừa lúc đó có thêm một bóng người nữa lướt vụt qua cửa sổ sáng. Tất cả đều quay lại và tản ra. Trước mặt Giê-nhi-a hiện ra một cậu con trai tóc đen, người dong dỏng, mặc chiếc áo xanh cộc tay, trên ngực áo có đính một ngôi sao đỏ.

-Khẽ mồm chứ, Giê-nhi-a!- cậu ta nói to. – Không nên làm ầm lên như thế. Không có ai động vào người cô đâu. Chúng ta đã có dịp biết nhau rồi đấy. Tôi là Ti-mua.

-Anh là Ti-mua à?! – Giê-nhi-a mở to đôi mắt đẫm nước ngờ vực thốt lên. – có phải chính anh đã đắp chăn cho tôi đêm hôm ấy? Chính anh đã viết giấy, để lại trên bàn cho tôi, chính anh đã gửi điện đi cho ba tôi và gửi chìa khóa với cái biên lai lại cho tôi không? Nhưng làm thế để làm gì? Tại sao lại làm như vậy? Sao anh lại biết tôi?

Ti-mua bước lại gần Giê-nhi-a, cầm lấy tay cô ta, trả lời:

-Hãy ở lại đây với chúng tôi! Ngồi xuống đây cùng nghe. Rồi cậu sẽ biết rõ tất cả!

 

Ti-mua trải tấm bản đồ khu vực ra trước mặt, các em trai ngồi ngay trên đống rơm có phủ các bao tải vây quanh Ti-mua.

Một cậu quan sát viên ngồi vắt vẻo trên chiếc đu dây, treo sát bên khe hở chênh chếch gần ô cửa sổ nhỏ. Cậu ta đeo ở cổ một cái ống nhòm loại nhỏ thường dùng để xem hát, đã bẹp rúm.

Giê-nhi-a ngồi gần Ti-mua. Em chăm chú lắng nghe và theo dõi tất cả những gì đang diễn ra trong cuộc họp của một bộ tham mưu chưa có ai quen biết này. Ti-mua đang nói:

-Tang tảng sáng mai, lúc mọi người còn đang ngủ say, tôi với cậu Cô-li-a sẽ sửa chữa lại những đoạn dây đã bị cô ấy (cậu ta chỉ Giê-nhi-a) làm đứt.

-Cậu ấy sẽ ngủ quên đấy, – Gây-ca đầu to, mặc chiếc áo lót thủy quân nhận xét ngay. – Cậu ấy phải ngủ đến tận lúc ăn sáng, hay có khi đến tận bữa cơm trưa mới mò dậy.

-Nói láo! – Cô-li-a nhảy chồm lên cãi lại. – Tớ bao giờ cũng dậy cùng với tia sáng mặt trời đầu tiên.

-Tớ chẳng biết tia sáng mặt trời nào là đầu tiên, tia nào là thứ hai, nhưng chắc chắn là cậu ấy thế nào cũng sẽ ngủ quên. – Gây-ca vẫn khăng khăng một mực như vậy.

Vừa lúc đó cậu quan sát viên ở trên đu dây huýt một tiếng sáo ngắn. Tất cả đều vùng đứng lên.

Trên con đường bụi cuốn mù mịt có một sư đoàn ngựa kéo pháo đang phi qua. Những con ngựa cường tráng nịt toàn những đồ da và giáp sắt đang vội vã kéo theo những hòm đạn màu xanh và những cỗ pháo phủ bạt xám.

Các chiến sĩ kỵ binh dày dạn nắng gió ngồi ngay ngắn trên lưng ngựa. Cả đoàn người, ngựa rẽ vào góc phố, nối theo nhau chạy hút về phía rừng thưa.

Cả một sư đoàn phóng đi mất hút.

-Họ đi ra ga, đi tải hàng đấy. – Cô-li-a giải thích ra vẻ quan trọng. – Tớ chỉ nhìn quân phục là biết khi nào bộ đội đi diễn tập, đi duyệt binh, hoặc đi làm việc gì khác.

-Biết thì im đi! – Gây-ca chặn lời. -Chúng tớ cũng có mắt. Này, các cậu có biết không, anh chàng ba hoa này định trốn vào Hồng quân đấy!

-Không nên, – Ti-mua tham gia, – đó chỉ là chuyện hoang đường.

-Sao lại không nên? – Cô-li-a đỏ bừng mặt lên, hỏi gặng, – trẻ con ngày trước cũng vẫn trốn ra mặt trận đấy thôi.

-Đấy là chuyện ngày trước! Còn bây giờ các thủ trưởng và các chỉ huy đã được lệnh là phải nghiêm ngặt tống cổ trẻ con ra khỏi đơn vị.

-Sao lại tống cổ? – Cô-li-a càng đỏ bừng mặt, kêu toáng lên. – Tống cổ người mình à?

-Chứ sao nữa!… – Ti-mua bỗng thở dài. – Người mình chứ còn người nào nữa! Thôi, bây giờ ta hãy bắt tay vào việc đi đã, các cậu.

Ai nấy trở về chỗ cũ.

-Trong vườn ở ngôi nhà số ba mươi tư ngõ Cơ-ri-vôi có một bọn nào đó thường vẫn đến rung táo, -Cô-li-a bực bội báo tin, – chúng nó đã làm gẫy mất hai cành táo và giẫm nát một khóm hoa.

-Đấy là nhà ai nhỉ? – Ti-mua nhìn vào cuốn vở có bìa bằng vải sơn. – Nhà của chiến sĩ Hồng quân Cơ-ri-u-cốp. Trong chúng ta có cậu nào trước đây là chuyên gia vào vườn ăn trộm táo?

-Tớ, – có một giọng ngượng ngập.

-Vậy thì thằng nào có thể làm chuyện này?

-Thằng Mi-sơ-ca và thằng tay chân của nó mang bí danh “Con bài hoa” đấy. Thứ táo chúng nó lấy trộm là thứ được chọn để đi thi, táo Mi-su-rin loại “vàng óng” đấy.

-Lại ông tướng Mi-sơ-ca! – Ti-mua suy nghĩ, – Gây-ca này! Cậu đã tiếp chuyện thằng ấy lần nào chưa?

-Rồi!

-Thế nào?

-Tớ cho nó hai cái tát tai.

-Còn nó?

-Nó cũng đấm được tớ hai quả.

-Gớm thật thôi, nghe chuyện cậu lúc nào cũng chỉ toàn thấy “tát tai” với lại “đấm”…, chẳng ra làm sao hết. Thôi được rồi! Ta phải tìm cách xử lý riêng với thằng đó. Nào tiếp tục.

-Ở số nhà hai mươi nhăm, con trai bà cụ bán sữa vừa mới được tuyển vào kỵ binh, – một người ngồi ở góc trong báo cáo.

-Khoan đã! – Tự nhiên Ti-mua lắc đầu tỏ vẻ khó chịu. – Đã ba ngày hôm này cổng nhà này được treo dấu hiệu của chúng ta. Ai phụ trách nhà ấy? Có phải cậu không, Cô-li-a?

-Phải.

-Sao cậu vẽ cái cánh sao bên trái ngoằn ngoèo như đỉa thế? Đã nhận làm thì phải làm cho ra trò chứ. Cẩn thận không có người ta cười cho đấy. Tiếp tục.

Xima nhổm người dậy nói một mạch đầy quả quyết:

-Con dê nhà số năm mươi tư ở phố Pu-sơ-ca-ri-ô-vai-a bị mất tích. Lúc đi qua tớ thấy bà cụ đang đánh con bé con. Tớ phải kêu lên: “Này, cụ ơi, đánh trẻ con là sai đấy!” Bà cụ bảo: “Mất con dê rồi. Trời ơi, con khốn kiếp!” – “Mất ở đâu mà kêu?” – “Ở ngoài thung lũng kia kìa, ở bìa rừng ấy, nó đang ăn cỏ thì bị lạc đi đâu mất, khéo chó sói ăn thịt mất rồi!”

-Khoan! Đấy là nhà ai?

-Nhà chú Hồng quân Pa-ven. Đứa bé kia là con gái của chú ấy. Tên nó là Nhu-rơ-ca. Bà nội nó đánh nó. Tên bà lão là gì tớ không biết. Con dê màu xám, có vạch lưng đen, gọi là con Man-ca.

-Đi tìm ngay con dê ấy! – Ti-mua ra lệnh. – Một tổ bốn người cùng đi. Cậu…cậu này và cậu này nữa. Thế là xong rồi chứ, các cậu?

-Nhà số hai mươi hai có một đứa bé rất hay khóc, – Gây-ca miễn cưỡng báo cáo.

-Sao nó khóc?

-Hỏi rồi, nhưng nó không nói.

-Vậy thì cậu hãy cố tìm cách hỏi cho khéo léo hơn. Chắc lại có đứa nào trêu nó… làm nó tức phải không?

-Hỏi rồi, nhưng nó không nói.

-Nó lớn không?

-Lên bốn.

-Gay đấy! Giá nó lớn một tí… đằng này lại mới chỉ có bốn tuổi. Khoan đã, đấy là nhà ai thế nhỉ?

-Nhà thiếu úy Páp-lốp, vừa hy sinh ở biên giới.

-“Hỏi rồi, nhưng nó không nói”, – Ti-mua đau khổ nhai lại Gây-ca. Cậu ta chau mày lại suy nghĩ. – Thôi được rồi… Tớ sẽ hỏi cho. Các cậu khác đừng có dính vào chuyện này.

-Tên Mi-sơ-ca đang xuất hiện ở phía chân trời, – có tiếng của cậu quan sát viên báo tin, – nó đang đi dọc phố kia kìa. Mồm nhai táo! Ti-mua cử ai ra gặp đi! Hãy cho nó nếm vài cái bợp tai đi.

-Không cần. Tất cả cứ ở yên đây. Tớ sẽ trở lại ngay.

Nói rồi Ti-mua nhảy qua cửa sổ, tụt xuống thang và vụt biến vào lùm cây. Liền đó cậu quan sát viên lại báo cáo: “Cạnh cổng, trong tầm quan sát của tôi có một thiếu nữ lạ mặt đẹp lắm, đang cầm bình đi mua sữa. Có lẽ đây là chủ ngôi nhà này”.

-Có phải chị cậu đấy không? – Cô-li-a kéo tay Giê-nhi-a hỏi. Rồi không đợi trả lờ, nó làm điệu bộ ra vẻ tức tối và quan trọng, lên tiếng cảnh cáo: – Coi chừng đấy, đừng có gọi chị ấy lại đây.

-Đừng có mà trêu vào cô ấy. – Gây-ca nhạo Cô-li-a, – không khéo cô ấy lại “mổ” cho một trận đấy!

-Mổ tớ ấy à? – Cô-li-a nổi cáu. – Cô ta có cái gì? Móng tay à? Còn tớ đây – bắp thịt nhớ. Đây này… cả tay lẫn chân nhớ!

-Cô ta sẽ chấp cậu cả tay lẫn chân! Các cậu, chú ý! Ti-mua sắp gặp Mi-sơ-ca.

 

Ti-mua cầm cái cành cây mới bẻ khe khẽ vung vẩy trên tay theo nhịp bước. Em đi chắn ngang đường Mi-sơ-ca. Thấy thế, thằng này bèn đứng dừng ngay lại. Cái mặt to bè bè của nó không lộ ra một vẻ gì ngạc nhiên, cũng không tỏ ra hoảng hốt.

-Xin chào ngài, ngài chính ủy! – nó nghiêng đầu nói khẽ. – Ngài đi đâu mà vội vã vậy?

-Chào thủ lĩnh! – Ti-mua cũng trả lời với điệu bộ như vậy. – Đi gặp cậu đấy.

-Rất hân hạnh được tiếp vị khách quí, song chẳng có gì để đãi ngài được. Hay là ngài dùng tạm món này vậy? – Nó thọc tay vào trong áo chìa ra cho Ti-mua một quả táo.

-Táo ăn trộm đấy phải không? – Ti-mua vừa ngoạm táo, vừa hỏi.

-Chính thế, – Mi-sơ-ca thản nhiên đáp, – loại “vàng óng” đấy. Chỉ phải tội chưa được chín lắm.

-Còn chua loét! – Ti-mua nói rồi ném quả táo đi. – Này, cậu có nhìn thấy cái dấu hiệu này trên hàng rào số nhà ba mươi tư không đấy? – Ti-mua chỉ vào ngôi sao đỏ thêu trên ngực áo xanh cộc tay của mình.

-Thấy chứ! – Mi-sơ-ca thận trọng trả lời. – Tớ ấy mà, người anh em ạ, ngày, đêm có cái gì là cũng trông thấy tuốt.

-Nếu vậy thì từ nay dù là ngày, hay là đêm mà cậu còn trông thấy cái dấu hiệu này ở đâu thì liệu mà cuốn gói chạy cho xa ra, như bị người ta đổ nước sôi vào người ấy. Rõ chưa?

-Ồ, ngài chính ủy, ngài quá ư là nóng nảy. – Mi-sơ-ca kéo dài giọng. – Nói chuyện với nhau như thế là quá đủ rồi đấy!

-Ồ, thủ lĩnh, người mới thật cứng cổ làm sao! – Ti-mua không thèm cao giọng. – Hãy nhớ lấy và bảo cho cả bè lũ biết rằng đây là lần nói chuyện cuối cùng giữa chúng tôi với các người.

 

Người ngoài khó ai có thể ngờ được rằng đây là một cuộc nói chuyện không phải giữa hai người bạn chí thiết mà là giữa hai kẻ thù. Cũng chính vì thế mà chị Ôn-ga vừa ôm bình sứ trên tay, vừa hỏi bà bán sữa xem cái chú bé đang bàn bạc gì với thằng du côn Mi-sơ-ca kia là ai.

-Chịu, không biết được, – bà bán sữa chân thành đáp, – chắc cũng là một thằng du côn và mất dạy như thế. Hình như nó vẫn hay lảng vảng quanh nhà cô luôn đấy. Cẩn thận đấy cô ạ, kẻo chúng nó sẽ gây gổ với em gái cô lúc nào không biết đấy.

Chị Ôn-ga vô cùng lo lắng. Chị nhìn hai đứa trẻ với vẻ đầy căm giận, rồi bước qua hành lang ngoài, đặt bình sữa vào một nơi, khoá trái cửa lại, ra đường tìm Giê-nhi-a. Đã hai tiếng đồng hồ rồi chị không thấy bóng nó đâu.

 

Ti-mua trở lại gác xép nhà kho, kể lại cho các bạn nghe về cuộc gặp gỡ của mình. Tất cả đều nhất trí là sáng mai sẽ gửi cho bọn thằng Mi-sơ-ca một tối hậu thư.

Các em lặng lẽ rời khỏi gác xép rồi chui qua các lỗ rào ra về. Có người còn trèo cả qua hàng rào chạy bủa về khắp các ngả. Ti-mua bước lại gần Giê-nhi-a.

-Thế nào? -cậu ta hỏi. – Bây giờ cô đã rõ cả rồi chứ?

-Rõ, – Giê-nhi-a trả lời, – nhưng chưa rõ hết. Cậu giải thích lại thật dễ hiểu cho tôi đi.

-Thế thì xuống đây và đi theo tôi. Dẫu sao thì chị cô cũng không có nhà.

Khi hai người đã tụt xuống khỏi gác xép, Ti-mua liền nhấc cái thang đặt sang chỗ khác. Trời đã tối, nhưng Giê-nhi-a vẫn tin cậy bước theo Ti-mua.

Cả hai dừng lại bên căn nhà bà bán sữa. Ti-mua đưa mắt nhìn quanh. Không có một bóng người. Em lấy ở túi ra một ống sơn đỏ, bước lại gần cánh cổng: cánh sao ở bên trái cổng vừa lệch lại vừa cong trông giống y như con đỉa thật.

Ti-mua lấy sơn sửa lại cánh sao cho thật thẳng, thật đẹp và thật đều.

-Để làm gì vậy? – Giê-nhi-a hỏi. – Cậu hãy giải thích cho dễ hiểu vào, làm thế để làm gì?

Ti-mua cất ống sơn vào túi. Em ngắt một chiếc lá ké, lau ngón tay bị dính sơn rồi nhìn thẳng vào mặt Giê-nhi-a trả lời:

-Thế nghĩa là nhà này có một người tham gia Hồng quân. Và từ này trở đi ngôi nhà này đặt dưới sự chăm sóc và bảo vệ của chúng tôi. Ba cậu cũng ở quân đội phải không?

-Ừ. – Giê-nhi-a hồi hộp và tự hào trả lời. – Ba tôi là chỉ huy.

-Như vậy là cả cậu cũng được chúng tôi chăm sóc và bảo vệ.

Hai em dừng lại trước cổng một ngôi nhà khác. Ở đây cũng có một ngôi sao vẽ trên hàng rào. Nhưng chung quanh những cánh sao rất thẳng lại còn có một viền đen rộng.

-Ở nhà này, – Ti-mua nói, – cũng có người đi Hồng quân. Nhưng người đó đã không còn nữa. Đây là nhà nghỉ mát của thiếu úy Páp-lốp vùa bị bọn chúng nó giết ở biên giới. Vợ và con gái chú ấy hiện nay ở đây. Đó là cô bé mà cậu Gây-ca tốt bụng không tài nào hỏi được tại sao lại hay khóc ấy. Giê-nhi-a, nếu cậu có dịp cậu nên làm một việc gì hay hay cho đứa bé ấy.

Cậu ta nói thật thản nhiên, nhưng sao Giê-nhi-a lại cảm thấy gai ốc cứ sởn lên khắp người, mặc dầu tối nay khí trời rất ấm có khi còn hơi oi bức nữa.

Em cúi đầu im lặng. Rồi em hỏi chuyện Ti-mua như thế cố tình gợi chuyện ra mà nói:

-Gây-ca mà lại tốt bụng à?

-Ừ, – Ti-mua đáp, – cậu ấy là con một thủy thủ, một chiến sĩ hải quân. Cậu ta hay gắt trẻ con và nhất là đối với cậu Cô-li-a có tính ba hoa, nhưng bất cứ ở đâu và lúc nào Gây-ca cũng sẵn sàng bênh vực Cô-li-a.

Có tiếng người gọi gay gắt, thậm chí còn có vẻ đầy căm phẫn nữa, làm cho cả hai em đều quay phắt lại. Thì ra chị Ôn-ga đã đến gần đó.

Giê-nhi-a nắm lấy tay Ti-mua. Em định giới thiệu bạn với chị gái.

Nhưng một tiếng quát nữa, vừa nghiêm nghị vừa lạnh lùng buộc em phải thôi ngay dự định ấy.

Em gật đầu như nhận lỗi với Ti-mua, nhún vai tỏ vẻ không hiểu, bước lại gặp chị.

-Giê-nhi-a! – Ôn-ga thở dài não nuột, giọng đầy nước mắt. – Chị cấm em nói chuyện với thằng ấy. Rõ chưa?

-Ơ kìa, chị Ôn-ga, -Giê-nhi-a lẩm bẩm, – chị làm sao thế?

-Chị cấm em không được gần thằng ấy, – Ôn-ga nghiêm nghị nhắc lại, – em mới có mười ba tuổi mà chị thì đã mười tám rồi. Chị là chị của em… Chị lớn hơn. Trước khi đi ba cũng đã dặn chị là…

-Nhưng, chị Ôn-ga, chị chả hiểu một tý gì hết! – Giê-nhi-a thất vọng kêu lên. Em rùng mình. Em muốn thanh minh, muốn phân trần nhưng em không làm nổi. Em không có quyền. Em chỉ còn biết phẩy tay, không nói thêm được với chị câu nào.

Em lên giường nằm ngay. Nhưng mãi không sao ngủ được. Rồi đến khi ngủ thiếp đi thì em lại không được biết là ngay đêm hôm ấy có người đến gõ cửa sổ nhà em và chuyển đến cho em bức điện của ba.

 

Trời sáng. Tiếng tù và của mục đồng kêu vang. Bà lão bán sữa mở cổng đuổi con bò ra cho nó nhập đàn. Bà lão còn chưa kịp đi khuất góc phố thì đã có năm chú bé ở trong các bụi nhảy ra. Các chú cố giữ cho những chiếc xô rỗng không bị kêu, chạy thẳng tới giếng nước.

-Múc đi!

-Này!

-Cầm lấy!

-Đủ rồi!

Các chú xách nước chạy trên sân, tung tẩy, nước sóng ra mát cả những đôi chân đất. Các chú vội vã đổ nước vào chiếc thùng gỗ to, xong lại quay trở về giếng, không chậm trễ một giây. Ti-mua chạy lại gặp Xi-ma giữa lúc người cậu ta bị ướt sũng vì phải luôn tay múc nước giếng. Em hỏi bạn:

-Cậu có thấy Cô-li-a đâu không? Không à? Vậy ra cậu ấy lại dậy muộn rồi. Nhanh lên! Bà lão sắp về rồi đấy!

Ti-mua chạy tới khu vườn nhà Cô-li-a thì dừng lại. Em đứng dưới gốc cây huýt sáo gọi. Rồi không đợi trả lời, em leo lên cây nhìn vào phòng. Từ trên cành cây cao em chỉ nhìn thấy được một nửa chiếc giường kê gần cửa sổ và một phần chân của một người trùm chăn. Ti-mua bóc vội một miếng vỏ cây ném vào giường, khẽ gọi:

-Cô-li-a, dậy đi!

Người đang nằm ngủ không hề cựa quậy! Ti-mua bèn rút con dao con ra cắt một cành cây gần đấy. Em vót nhọn một đầu rồi thò vào cửa sổ móc mép chăn kéo ra.

Chiếc chăn mỏng bị kéo lên thành cửa sổ. Bỗng có tiếng kêu khàn khàn kinh ngạc từ trong phòng bật ra. Ông già lịch thiệp cố giương to cặp mắt còn ngái ngủ ra để nhìn. Rồi ông cứ mặc nguyên cả bộ quần áo ngủ lao xuống khỏi giường. Ông chạy lại cửa túm chặt lấy mép chăn giữ lại.

Biết mình sắp bị ông lão đáng kính bắt gặp, Ti-mua chỉ còn biết nhảy vội từ trên cây xuống.

Ông già lịch thiệp ném vội cái chăn vừa giằng lại được lên giường, rồi với khẩu súng hai nòng treo trên tường xuống, đeo kính lên, kê súng vào thành cửa sổ ngắm thẳng lên trời mà bắn.

 

Ti-mua hoảng hốt chạy miết tới giếng mới dừng lại. Một sự nhầm lẫn đã xảy ra. Em thì cho rằng cái người nằm đắp chăn ngủ ở đấy là Cô-li-a, còn con người lịch thiệp có mái tóc bạc phơ kia lại tưởng em là một tên ăn trộm.

Chợt trông thấy bà lão bán sữa đang quảy đôi xô đi ra giếng gánh nước, Ti-mua vội chui ngay vào bụi keo gần đấy ngồi quan sát. Em thấy bà lão gánh nước ở giếng trở về, bê xô nước lên định đổ vào chiếc thùng lớn. Nhưng bà bỗng giật nẩy người, nước ở thùng lớn bắn toé lên và trào ra làm ướt cả chân bà.

Bà lão kinh ngạc, đi quanh thùng nước ngờ vực. Bà thò tay vào vốc nước đưa lên mũi ngửi. Sau đó bà chạy ra cửa nhà kiểm tra lại xem cái ổ khóa có còn nguyên chỗ không. Cuối cùng, chẳng biết nên nghĩ như thế nào, bà bèn chạy sang gõ cửa bên hàng xóm.

Ti-mua bật cười, rời khỏi vị trí quan sát của mình. Vội quá! Mặt trời đã lên cao mất rồi mà vẫn chưa thấy Cô-li-a đến, mà dây điện thì vẫn chưa nối được tí nào.

…Lúc đến nhà kho, Ti-mua ghé mắt qua khung cửa sổ để mở, khung cửa này nhìn ra phía vườn.

Giê-nhi-a mặc quần đùi, áo may-ô, đang ngồi bên chiếc bàn kê gần giường. Cô ta vừa hất mớ tóc rơi xuống trán vừa cặm cụi viết.

Chợt thấy Ti-mua, em không hề tỏ ra sợ hãi và cũng không tỏ ra ngạc nhiên. Em chỉ giơ ngón tay ra hiệu cấm không được làm chị Ôn-ga thức giấc. Giê-nhi-a giấu bức thư đang viết dở vào ngăn kéo rồi kiễng chân rón rén bước ra khỏi phòng.

Nghe câu chuyện không may vừa xảy ra với Ti-mua, em quên ngay cả mọi điều chị Ôn-ga đã cấm đoán và sẵn sàng giúp đỡ bạn nối lại những sợi dây do chính mình làm đứt.

Mãi đến khi làm xong, và Ti-mua đã đi đến tận đầu vườn đằng kia, Giê-nhi-a mới nói:

-Không hiểu sao chị mình lại ghét cậu đến thế.

-Lạ thật!- Ti-mua bực dọc trả lời. – Cả chú mình, cũng ghét cậu.

Ti-mua định bỏ đi, nhưng Giê-nhi-a giữ lại:

-Khoan, hãy chải đầu đi đã. Hôm nay trông đầu tóc cậu bù xù quá.

Cô bé lấy lược đưa cho Ti-mua. Nhưng ngay lúc đó chị Ôn-ga đã đứng ở cửa sổ quát lên:

-Giê-nhi-a, mày làm cái trò gì thế kia, hả?…

 

Hai chị em đứng bên nhau ở hành lang.

-Em có chọn bạn cho chị chơi đâu, -Giê-nhi-a tự vệ một cách tuyệt vọng, – một người như thế nào chứ? Thật giản dị. Mặc toàn đồ trắng. “Trời, sao chị cô chơi đàn hay tuyệt như vậy!” Hay tuyệt! Giá người ấy nghe được chị ấy quát mắng hay tuyệt như thế nào thì hơn. Này! Em đang viết thư mách ba đây này.

-Giê-nhi-a! Thằng bé vừa rồi là thằng du côn, còn em là con ngốc, – Ôn-ga nói giọng lạnh lùng và cố giữ vẻ bình tĩnh, – muốn viết thư cho ba thì đi mà viết, xin mời! Nhưng nếu mà chị còn trông thấy em đứng gần thằng ấy một lần nữa thì chúng ta sẽ lập tức bỏ nhà nghỉ và rời khỏi đây, trở về Mát-xcơva. Em vẫn biết là chị đã nói là làm đấy chứ?

-Phải… bà ạ! – Giê-nhi-a trả lời trong nước mắt. – Tôi biết rồi.

-Bây giờ cầm lấy cái này, đọc đi! – Chị Ôn-ga đặt bức điện nhận được đêm qua lên bàn rồi bỏ đi.

Trong bức điện viết:

“Sắp tới sẽ rẽ qua Mát-xcơ-va vài tiếng. Ngày giờ sẽ báo sau. Ba”.

Giê-nhi-a quệt nước mắt, đặt bức điện lên môi khẽ lẩm bẩm:

-Ba ơi, ba về mau lên! Ba ơi, con bé Giê-nhi-a của ba khổ lắm rồi!

 

Có hai chuyến củi vừa chở về sân nhà bà cụ bị mất dê, bà cụ này vẫn hay đánh cô bé Nhu-rơ-ca nhanh nhẹn.

Bà lão vừa trách móc những người chở củi làm ăn cẩu thả đem củi về đổ ngổn ngang khắp cả sân, lại vừa thở vắn than dài. Cụ xếp củi vào đống, nhưng mệt quá, cụ lên cơn ho rồi ngồi thụp xuống bậc thềm mà thở. Lát sau cụ xách thùng ra vườn tưới rau. Lúc ấy, trên sân chỉ còn lại có đứa em trai của Nhu-rơ-ca. Chú bé này mới lên ba tuổi nhưng có vẻ hay làm. Bà cụ chưa kịp đi khuất chú ta đã vớ ngay lấy cái que chọc cả vào ghế lẫn cái chậu giặt nằm úp sấp ở gần đấy.

Trong lúc đó Xi-ma vừa mới tìm thấy con dê. Con vật này chạy lung tung trong các bụi cây, lùm cỏ y như con cọp Ấn Độ. Em cắt một bạn ở lại bãi trông nó rồi cùng với ba bạn khác chạy như bay về sân. Em ấn vào mồm thằng bé một vốc quả dâu tây, cho nó một cái lông cánh quạ đen óng ánh và thế là bốn người cùng chạy ra xếp củi thành đống.

Riêng Xi-ma thì chạy lăng xăng quanh bờ rào để tìm cách giữ chân bà lão ở lại vườn. Nó đứng lại gần cây táo, cây anh đào bên bờ rào, nhìn qua kẽ hở vào vườn theo dõi bà lão.

Bà lão hái dưa chuột bỏ vào vạt áo toan quay về sân.

Thấy vậy Xi-ma khẽ gõ vào mấy tấm gỗ hàng rào.

Bà lão đứng im lắng nghe. Thấy thế Xi-ma liền giơ cây gậy lên nhè nhẹ rung cành táo.

Bà lão tưởng như có đứa nào đang lặng lẽ leo qua hàng rào trèo lên hái táo. Bà đổ vội dưa chuột xuống rãnh, bẻ một cành lá han to sù lần bước đến nấp sau hàng rào.

Xi-ma lại nhìn qua kẽ hở. Không thấy bà cụ đâu, nó lo lắng đứng phắt dậy, nắm tay vào mép rào, đánh đu người lên mà nhìn.

Thế là được dịp bà cụ kêu lên, nhảy ra khỏi vị trí, cầm cành lá han quật vào tay Xi-ma tới tấp. Vừa xoa hai cánh tay bị bỏng rát, Xi-ma vừa bỏ chạy về phía cổng. Các bạn cùng tổ vừa mới làm việc xong cũng đang chạy ra.

Trong sân lại chỉ còn mỗi một mình thằng bé con. Nó nhặt một thanh củi vụn lên đặt vào bên cạnh đống củi to rồi bóc một cái vỏ khô ra.

Bà cụ về, thấy đứa cháu đang làm cái việc ấy, bà trợn mắt lên, sững người ra mà nhìn đống củi đã được xếp lại quá gọn gàng. Bà hỏi:

-Ai làm việc này lúc bà vắng mặt thế?

Chú bé đặt cái vỏ vào đống củi, ra vẻ quan trọng:

-Bà không thấy à, cháu làm đấy!

Bà bán sữa bước vào sân. Thế là hai bà bắt đầu bán tán về những chuyện là kỳ vừa xảy ra – đó là chuyện nước và chuyện củi. Hai bà ra công gặng hỏi thằng bé, nhưng cũng chẳng biết được gì hơn. Thằng bé chỉ nói là có người chạy vào cổng, nhét vào mồm nó một vốc dâu tây ngọt lắm, cho nó một cái lông chim và hứa sẽ bắt cho nó một con thỏ có hai tai và bốn chân. Họ đến xếp củi thành đống, xong bỏ đi đâu mất.

Nhu-rơ-ca vào cổng.

-Nhu-rơ-ca! – bà nội hỏi em. – Cháu có thấy ai vừa ở sân nhà ta ra không?

-Cháu mắc đi tìm dê, – Nhu-rơ-ca càu cạu trả lời. – Suốt từ sáng đến giờ cháu còn phải lang thang khắp rừng, khắp bãi để tìm nó.

-Người ta ăn trộm mất rồi! – bà lão đau đơn than vãn với bà hàng xóm. – Cái con dê ấy mới quý làm sao!

-Quý gì! – Nhu-rơ-ca đay lại. – Suốt đời chỉ biết chúi sừng vào mà chạy chẳng biết nghe ai.

-Câm mồm đi, Nhu-rơ-ca! Câm ngay, con chết toi kia! – bà cụ hét. – Tất nhiên nó là một con dê bướng bỉnh. Tôi cũng đã có ý định bán nó đi, cái con dê quí của tôi ấy. Nhưng bây giờ thì con dê quí ấy chẳng còn nữa rồi.

Cánh cổng tự nhiên ken két mở ra. Con dê cúi đầu xuống mà chạy thẳng vào sân. Nó xông tới chỗ bà bán sữa. Bà lão kêu lên, ôm vội lấy bình sữa chạy ngay lên thềm. Còn con dê thì húc sừng vào tường và dừng lại.

Lúc ấy mọi người mới trông thấy một tấm bảng con bằng gỗ dán buộc chặt vào sừng dê. Trên bảng đó có viết:

Tôi là con dê, là con dê

Làm tình, làm tội đủ mọi bề

Nhưng ai còn đánh Nhu-rơ-ca mãi

Sẽ khổ suốt đời, bảo cho nghe!

Bọn trẻ đứng ngoài hàng rào thấy vậy thích chí cười rú lên.

Xi-ma cắm phập cây gậy xuống đất rồi tự hào nhảy chung quanh mà hát:

Chúng ta đâu phải bọn bầy,

Chúng ta đâu có trèo cây, trèo rào

Đội ta vui vẻ biết bao

Tiền phong tên gọi vinh nào lớn hơn

Ái-cha-cha

Rồi như một bầy chim sẻ các em lẳng lặng tản đi chỗ khác.

 

Công việc hôm nay thật chẳng phải là ít, nhưng điều chủ yếu là phải viết ngay và gửi ngay tối hậu thư cho thằng Mi-sơ-ca.

Cả đội không ai biết viết tối hậu thư như thế nào. Ti-mua đành phải về nhà hỏi chú.

Chú của Ti-mua giải thích là mỗi nước có một cách viết tối hậu thư riêng, nhưng ở phần cuối bao giờ cũng phải ghi một câu theo phép xã giao:

“Ngài bộ trưởng, chúng tôi xin gửi ngài lời chào trân trọng”.

Rồi sau đó tối hậu thư sẽ do đại sứ nước mình đặt tại nước thù địch đó trình lên kẻ cầm quyền.

Nhưng riêng điều này thì cả Ti-mua lẫn toàn đội của em đều không thích. Một là, các em thấy không cần có một sự trân trọng nào đối với thằng du côn Mi-sơ-ca; hai là, các em không hề có một đại sứ hay một đại diện nào ở phía bên kia. Thế rồi, sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, các em đi đến một quyết định: gửi cho bọn chúng một tối hậu thư tương đối giản đơn. Tối hậu thư này sẽ viết theo kiểu bức thư của những nghĩa quân vùng Da-pô-rô-gi-e gửi tên vua Thổ Nhĩ Kỳ mà các em ai cũng đã được xem trong bức tranh minh họa truyện về những người dân Cô-dắc* chiến đấu chống lại bọn Thổ Nhĩ Kỳ, Tác-ta và Ba Lan.

———–

*Trong những năm cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917 và nội chiến ở Nga bọn Cô-dắc giàu có là trụ cột của bọn phản cách mạng và bọn can thiệp (ND)

 

Có một đứa bé con tóc vàng óng đang đi trên con đường rải cát trong khu vườn râm mát của ngôi nhà có vẽ ngôi sao đỏ viền đen trước cổng. Ngôi nhà này đối diện với nhà của Ôn-ga và Giê-nhi-a. Mẹ đứa bé đó là một người đàn bà còn trẻ, đẹp, nhưng vẻ mặt lúc nào cũng rầu rầu, mệt mỏi. Bà đang ngồi trên ghế đu gần cửa sổ. Trên bậu cửa sổ có một bó hoa đồng lớn. Trước mặt bà là cả một đống toàn những điện, thư từ của bạn bè, người thân, gia đình và những người chưa từng quen biết.

Trong những bức thư và điện đó bà đọc thấy những lời lẽ ấm áp và dịu dàng. Những lời đó từ xa vang tới đây hệt như tiếng vọng của rừng cây, không hề lôi kéo ai, không hề hứa hẹn điều gì nhưng nó lại có sức thôi thúc và nhắc nhở cho ta biết rằng mọi người vẫn sống bên ta và cho dù ta có phải ở một nơi rừng núi âm u đi nữa, cũng chẳng hề bị cô độc bao giờ.

Đứa bé tóc vàng óng kéo ngược chân con búp bê lôi đi, khiến cho đôi tay gỗ và hai cái đuôi tóc làm bằng sợi gai của nó cứ lết trên mặt cát. Đứa bé dừng lại gần hàng rào. Có một con thỏ làm bằng gỗ dán tô màu đang chạy trên mép hàng rào. Con thỏ đưa cánh tay đều đặn trên mặt đàn ba-la-lai-ca có vẽ dây. Trông mặt nó thật buồn cười.

Thấy vậy đứa bé vội bỏ con búp bê, bước tới sát tận hàng rào. Cái thứ trò chơi lạ kỳ tưởng như khó hiểu và trên thế gian này không đâu có đã hấp dẫn nó. Bỗng con thỏ từ trên hàng rào ngoan ngoãn nhảy xuống tận tay đứa bé. Ngay sau đó khuôn mặt hài lòng và láu lỉnh của Giê-nhi-a cũng lập tức hiện ra.

-Chị chơi với em đấy à? – Em bé nhìn Giê-nhi-a hỏi.

-Ừ, chị chơi với em đấy. Em có muốn chị nhảy vào chơi với em không?

-Ở chỗ này có lá han đấy, – đứa bé con nghĩ ngợi rồi báo trước cho Giê-nhi-a biết. – Hôm qua em bị bỏng tay ở đây đấy.

-Không sao! – Giê-nhi-a vừa nhảy qua rào, vừa nói. -Chị không sợ đâu. Nào trỏ cho chị xem cây nào làm bỏng tay em? Đây hả? Em xem chị bứt nó ra, vứt nó đi, giẫm nát và nhổ toẹt vào nó đây này. Nào, chúng mình cùng chơi nhé! Em cầm lấy chú thỏ, còn chị sẽ giữ con búp bê.

Ôn-ga đứng trên bậc thềm chợt trông thấy Giê-nhi-a đang lúi húi làm gì gần hàng rào bên hàng xóm, nhưng chị không có ý định ngăn cản em vì sáng nay em đã khóc quá nhiều. Tuy vậy khi thấy em trèo qua hàng rào vào vườn nhà người lạ thì chị sợ hãi vội chạy ngay ra cổng. Giê-nhi-a và em bé gái đã đến bên cửa sổ với người đàn bà nọ. Đứa con gái nhỏ giơ cho bà mẹ xem con thỏ có cái mặt buồn cười đang chơi đàn ba-la-lai-ca. Bà mẹ mỉm cười.

Qua nét mặt lo lắng của Giê-nhi-a bà đoán được ra ngay là Ôn-ga đang đi vào vườn với ý bực dọc.

-Cô đừng giận em ấy, – bà ta nhẹ giọng nói, – em ấy chỉ chơi với cháu bé nhà tôi thôi. Chúng tôi đang gặp chuyện buồn… – Người đàn bà im lặng. – Tôi thì khóc mà cháu nó, – bà ta chỉ về phía đứa bé con xinh xắn, rồi nói thêm: – cháu nó không hề biết gì về việc bố cháu đã bị giết ở biên giới.

Bây giờ đến lượt Ôn-ga thấy bối rối. Giê-nhi-a thì đứng ở xa nhìn hai người vẻ đau đớn và thương xót.

-Tôi chỉ có một mình, cô ạ, – người đàn bà nói tiếp. – Mẹ tôi ở tận miền rừng tai-ga xa lắm, các em trai tôi đều đi Hồng quân cả, mà chị em gái thì chẳng có ai.

Lúc Giê-nhi-a bước tới gần, bà ta nắm lấy vai em, hất đầu về phía cửa sổ, hỏi:

-Em à, có phải đêm hôm qua em đem bó hoa này đến đặt ở cửa sổ nhà tôi đấy không?

-Không ạ, – Giê-nhi-a vội đáp, – không phải cháu đâu ạ. Nhưng chắc là của một bạn nào đó trong bọn chúng cháu.

-Ai cơ? – Ôn-ga ngờ vực nhìn Giê-nhi-a.

-Em không biết, – Giê-nhi-a lo sợ nói, – nhưng không phải em. Em không biết gì hết. Kìa có người đến kìa.

Tiếng ô tô dừng lại ở ngoài cổng. Có hai vị chỉ huy không quân đang đi theo con đường nhỏ từ cổng vào.

-Họ đến thăm tôi đấy, – người đàn bà nói, – chắc lại đến đề nghị đưa tôi đi trại an dưỡng ở vùng Cơ-rưm hay Cáp-ca-dơ đấy…

Hai vị chỉ huy bước tới, đưa tay ngang viền mũ ca-lô chào. Hình như họ đã nghe thấy câu nói vừa rồi của bà chủ nhà, nên đồng chí cấp trên – đại úy – nói ngay:

-Không đi Cơ-rưm, cũng không đi Cáp-ca-dơ, không đi nhà nghỉ, mà cũng không đi trại an dưỡng nào đâu. Chị có muốn gặp bà cụ chị không? Ngay hôm nay cụ đang đáp tàu hỏa từ thành phố Iếc-cút-xcơ đến đây với chị. Chúng tôi đã đưa máy bay đặc biệt về nhà đón cụ ra Iếc-cút-xcơ rồi.

-Ai đưa đi? – người đàn bà vui quá, luống cuống hỏi. – Có phải các đồng chí không?

-Không, – đồng chí đó đáp. – Đấy là các đồng chí của chúng tôi và của chị.

Đứa bé con chạy lại mạnh dạn ngước mắt nhìn những người mới đến. Rõ ràng là em đã thuộc bộ quân phục màu xanh biển này từ lâu rồi.

– Mẹ ơi, – em nói với mẹ, – mẹ làm cho con cái đu bay để bay đi, bay về. Con sẽ bay thật xa, xa như ba ấy.

-Ôi, không đâu, con ạ! – bà mẹ ôm chặt con vào lòng, – không, con không bay xa… như ba con làm gì!

 

…Ở cái nhà thờ nhỏ phố Khe Nhỏ có những hình vẽ đã bong sơn, miêu tả những ông già khắc khổ đầu tóc bờm xờm và những thiên thần mày râu nhẵn nhụi. Nhích sang phía phải một tý là cảnh xử tội khủng khiếp với những hình ảnh vạc dầu, quỷ sứ trên tường, bọn Mi-sơ-ca đang ngồi chơi tú-lơ-khơ trên bãi cúc dại ngay sau nhà thờ bỏ hoang.

Những tay chơi bài ở đây đều không có lấy một xu, nên chúng phải sát phạt nhau bằng “bợp gáy”, “búng trán” và “chết đi sống lại”. Thằng thua bị buộc khăn vào mắt, đặt nằm ngửa ra bãi cỏ tay cầm một cái que giả làm cây nến. Những người đứng xung quanh dùng lá han quật tới tấp vào đầu gối và mắt cá, gót chân “người chết”, mong cho người đó sống lại. Và “người chết” thì tìm mọi cách chống đỡ lại bằng “cây nến” kia.

Cuộc chơi đang lúc sôi nổi thì có tiếng kèn hiệu gay gắt vang lên phía bên kia bờ tường. Đó chính là các đặc phái viên của Ti-mua đã đến.

Anh lính kèn Cô-li-a nắm chặt chiếc kèn đồng trong tay, còn Gây-ca lầm lì, chân đất cầm một cuộn giấy bọc bằng giấy gói hàng nhưng được dán lại tử tế.

-Ở đây sắp có gánh xiếc, hay hài kịch nào về diễn hay sao thế? – Cái thằng mang biệt hiệu là “Con bài hoa” rướn người qua bờ tường, lớn tiếng hỏi. – Mi-sơ-ca! – nó quay đầu lại gọi to. – Quẳng bài xuống, ngoài này đang có cuộc lễ ra mắt long trọng đây!

-Tao ra đây, – Mi-sơ-ca vừa nói vừa leo qua bờ tường. – Ái chà chà, Gây-ca! Chào ông bạn! thế cái anh chàng thò lò mũi xanh đi cùng với ông bạn kia ở đâu ra đấy?

-Nhận thư đây, – Gây-ca chìa bức tối hậu thư ra cho nó. – Thời gian cho bọn mày suy nghĩ là hai mươi tư tiếng đồng hồ. Ngay mai chúng tao sẽ đến lấy trả lời cũng vào đúng giờ này.

Anh lính kèn Cô-li-a bị bọn kia gọi là thò lò mũi xanh, ức quá đưa kèn lên, phùng mồm ra mà thổi lệnh rút quân. Thế là không cần nói thêm nửa lời, hai đặc phái viên cùng kiêu hãnh bước đi trước những con mắt tò mò của bọn kia.

-Cái này là cái gì mới được chứ? – Mi-sơ-ca hỏi. Nó vừa mở phong bì thư vừa đưa mắt nhìn bọn trẻ đang đứng há hốc mồm vây xung quanh. – Đang sống yên lành thì… đột nhiên… kèn… khiêu khích. Bọn bay ạ, nói tình thực, tớ chẳng hiểu cái này là cái chó gì hết!…

Nó giở bì thư ra nhưng không chịu nhảy xuống khỏi bờ tường mà cứ ngồi nguyên trên đó đọc:

-“Gửi tên Mi-sơ-ca thủ lĩnh của một bọn chuyên đi càn táo vườn người”. Gửi đích danh cho tớ đấy nhớ, – Mi-sơ-ca lên giọng. – Viết loại chữ to, rất đúng kiểu cách “…đồng gửi cả tên bợ đỡ nổi danh đê tiện của y là Pi-ốt, hay gọi giản đơn là “Con bài hoa”…” Mày đấy! – Mi-sơ-ca đắc chí nói với “Con bài hoa”. – Gớm bọn chúng nó chơi chữ ác thật: “nổi danh đê tiện”! Gọi thế này vẫn có vẻ lịch thiệp quá. Có thể gọi là thằng ngốc cho giản đơn hơn. “…và gửi tất cả những đứa khác thuộc cái nhóm nhục nhã này một bức tối hậu thư”. Là cái gì, tớ cóc hiểu, – Mi-sơ-ca cười gằn. – Có lẽ đây là một cách chửi hay là một câu đại loại gần như thế.

-Đấy là một danh từ quốc tế. Nghĩa là chúng nó sẽ nện cậu đấy, – anh chàng A-li-ô-sa trọc lốc đứng cạnh “Con bài hoa” vội giải thích.

-Thế thì thà cứ viết như vậy cho dễ hiểu! Mi-sơ-ca cắt lời. – Tao đọc tiếp đây. Điểm thứ nhất:

“Các người đêm nào cũng mở những cuộc đột nhập vào vườn nhà của những thường dân vô tội, bất chấp cả những nhà có dấu hiệu ngôi sao đỏ, thậm chí cả những nhà có ngôi sao đỏ viền tang đen nữa, nên chúng ta ra lệnh cho các người, những tên vô lại hèn nhát…”

-Mày xem bọn chó chửi bới đã khiếp chưa! – Thằng Mi-sơ-ca tức tối lắm, nhưng vẫn cố gượng cười để tiếp tục. – Lại còn tỏ cái vẻ văn chương dùng phẩy dùng phiếc nữa chứ này. Ôi dào!

“…chậm nhất là sáng mai tên Mi-sơ-ca và riêng tên đê tiện “Con bài hoa” phải có mặt ở nơi các đặc phái viên đã quy định và cầm theo bảng danh sách những tên trong cái tổ chức ô nhục của các người.

Trong trường hợp ngoan cố cưỡng lại, chúng ta sẽ toàn quyền tự do hành động”.

-Tự do cái kiểu gì thế này nhỉ? – Mi-sơ-ca gặng hỏi. – Chúng mình đã giam giữ tụi nó bao giờ đâu?

-Đấy là danh từ quốc tế. Chúng nó sẽ nện đấy. – Thằng A-li-ô-sa đầu trọc lốc lại giải thích.

-Thì cứ nói thế cho gọn! – Mi-sơ-ca tiếc rẻ. – Thật đáng tiếc, thằng Gây-ca lại chuồn mất rồi. Chắc đã lâu lắm nó chưa được khóc.

-Nó không khóc đâu, – thằng trọc lốc nói, – anh nó là lính thủy quân đấy.

-Thì đã sao?

-Cả bố nó cũng là lính thủy. Không đời nào nó lại khóc.

-Thì có việc gì đến mày?

-Vì chú tao cũng là chiến sĩ hải quân.

-Thật là thằng ngốc, cứ lảm nhảm mãi thôi, -Mi-sơ-ca cáu tiết. – Hết bố đến anh, rồi lại đến chú. Còn biết ai vào với ai nữa. Liệu về mà cấy tóc đi, A-li-ô-sa ạ, kẻo nắng rọi vỡ gáy ra đấy. Còn cái “Con bài hoa” kia, mày làm gì mà rống như bò thế?

-Ngày mai phải tóm bằng được bọn đặc phái viên. Phải dần cho thằng Ti-mua và phe lũ một mẻ mới được, – từ nãy “Con bài hoa” cứ hậm hực mãi về cái bức tối hậu thư, đến giờ nó mới nói bật được lên lời đề nghị ngắn ngủi và hung hăng này.

Chúng nó đều nhất trí như vậy.

Lúc chỉ còn lại có hai đứa đứng trong bóng rợp sau nhà thờ, thằng Mi-sơ-ca mới vừa ngắm nghía bức tranh vẽ mấy con quỷ gân guốc đang vứt những người có tội vào vạc dầu, vừa hỏi thằng “Con bài hoa”:

-Này, có phải mày vẫn mò vào vườn táo nhà cái con bé có bố chết không đấy?

-Ừ, tao.

-Vậy thì xem đây, – Mi-sơ-ca cằn nhằn và ấn ngón tay vào mặt tường, – dĩ nhiên tao chẳng coi những dấu hiệu của bọn thằng Ti-mua ra cái gì đâu và bao giờ tao cũng sẵn sàng tẩn cho cái thằng ôn ấy…

-Được, – “Con bài hoa” công nhận, – nhưng mày chỉ ngón tay vào lũ quỷ ấy với tao để làm gì?

-Để bảo mày rằng, – Mi-sơ-ca trề môi ra, – mày tuy là bạn của tao thật đấy, “Con bài hoa” ạ, nhưng mày thật chẳng giống người một tí nào cả. Tao trông mày giống y như cái con quỷ béo xấu xí này.

 

…Sáng dậy bà cụ bán sữa không thấy ba người khách mua thường xuyên đến lấy sữa. Giờ này ra chợ thì cũng đã muộn mất rồi. Nghĩ vậy nên cụ đành quàng cái bình sữa to tướng lên vai mang đến từng nhà một. Đi mãi, cuối cùng bà cụ dừng lại trước cửa nhà Ti-mua.

 

Ngay từ lúc còn đứng bên ngoài hàng rào bà cụ đã nghe thấy có tiếng người hát giọng trầm và ấm ở trong nhà. Như vậy là có chủ nhà ở nhà và có thể bán được ít nhiều sữa rồi.

Vừa bước qua cái cổng gỗ bà lão đã cất tiếng rao:

-Mua sữa không nào, trong nhà có mua sữa tươi không?

-Hai ca!- có tiếng trầm trầm trả lời ra.

 

Bà lão vừa buông cái bình sữa xuống khỏi vai và quay người lại thì chợt nhìn thấy một ông già què quần áo rách rưới, râu tóc bờm xờm đang bước ở bụi cây đi ra. Tay ông ta cầm khư khư một thanh kiếm tuốt trần.

-Cụ già ạ, tôi chỉ hỏi ở đây có cần sữa không thôi mà! – bà bán sữa dè dặt bước lùi lại phía sau, luôn miệng nói. – Gớm sao trông cụ dữ tợn thế? Cụ già định mang kiếm đi phát cỏ hả?

-Hai ca. Cái ca để ở trên bàn kia kìa, – ông già trả lời ngắn gọn rồi cắm phập mũi kiếm xuống đất.

-Sao cụ không đi mua cái lưỡi hái về mà dùng có hơn không? – bà lão tay luống cuống đong sữa, nhưng mắt vẫn sợ hãi nhìn ông già. – Bỏ quách cái kiếm ấy đi cho rảnh. Cứ cầm nó không, cũng đủ làm cho người trần mắt thịt chúng tôi phát khiếp lên rồi.

-Bao nhiêu tiền? – ông già thò tay vào túi quần thụng và cất tiếng hỏi.

-Như mọi người thôi, – bà bán sữa đáp, – một rúp tư một ca, vị chi là hai rúp tám. Tôi chả lấy hơn làm gì.

Ông già nọ lần túi rồi rút ra một khẩu súng lục to sụ đã có nhiều chỗ sây sát.

-Thôi, thế thì để lúc khác vậy, cụ ạ… – bà bán sữa cuống cuồng ôm vội lấy bình sữa vừa lủi ra cổng vừa khẩn khoản van nài. – Này, cụ già ơi, cụ đừng có nhỡ tay đấy! – Thế rồi chân vẫn rảo bước, bà lão còn cố ngoái cổ lại nói thêm. – Tôi chưa vội cần tiền làm gì đâu, cụ già quí hóa ạ.

Bà lão chạy vút ra ngoài đường đóng sập cổng lại và bắt đầu la lối om xòm:

-Đem mà quăng cái con quỷ già ấy vào nhà thương điên đi thôi. Phải cùm chặt chân vào chứ không thể thả rông như thế được đâu.Phải, phải! Cứ đem tống cổ vào nhà thương điên mà nhốt lại.

Ông lão so vai, nhét tờ giấy bạc trở lại túi, rồi vội vàng giấu khẩu súng lục ra sau lưng, vì nhác trông thấy ông già lịch thiệp bác sĩ Cô-lô-côn-tri-cốp đang đi vào vườn.

Ông ta chống gậy bước đi khoan thai trên con đường nhỏ. Dáng đi của ông thật cứng đơ đơ, còn vẻ mặt xem ra vừa có vẻ đăm chiêu, lại vừa nghiêm nghị.

Chợt thấy ông già kỳ quặc, con người lịch thiệp vội hắng giọng và sửa lại gọng kính:

-Cụ già làm ơn mách giúp ai là chủ cái ngôi nhà này.

-Chủ ngôi nhà này là tôi, – ông già kia trả lời.

-Nếu vậy thì, – con người lịch thiệp đưa tay lên nắn nắn vành mũ cói và nói tiếp, – xin cụ cho biết thằng bé Ti-mua có phải là bà con họ hàng với cụ không?

-Phải, nó có họ với tôi, – ông lão trả lời, – nó là cháu gọi tôi bằng chú.

-Tôi rất lấy làm đau xót, – con người lịch thiệp bật ho. Ông vừa đưa mắt e ngại nhìn thanh kiếm trên mặt đất, vừa bắt đầu câu chuyện. – Đứa cháu của cụ sáng tinh mơ hôm qua đã định ăn cướp nhà chúng tôi.

-Sao?! – Ông già kinh ngạc. – Thằng Ti-mua nhà tôi định cướp nhà cụ à?

-Vâng chính thế! – con người lịch thiệp liếc mắt nhìn ra sau lưng ông già nọ, trong lòng bắt đầu thấy lo sợ. Nhưng ông vẫn nói tiếp. – Nó đã lợi dụng lúc tôi còn đang ngủ say để cướp lấy cái chăn chiên mỏng mà tôi đang đắp trên người.

-Ai kia chứ? Thằng Ti-mua cướp của cụ thật à? Nó định đánh cắp cái chăn chiên à? – ông già đâm ra hoang mang. Khẩu súng lục ông vẫn giấu sau lưng bỗng nhiên rơi bộp xuống.

Mối lo sợ càng dội mạnh vào tim con người lịch thiệp đáng kính. Ông ta làm ra vẻ bình thản lủi dần về phía cổng. Rồi ông nói với vào:

-Dĩ nhiên tôi không khẳng định điều đó. Nhưng sự thực thì vẫn là… sự thực! Thưa ngài! Tôi yêu cầu ngài đừng có bước lại gần tôi. Lẽ tất nhiên tôi còn chưa biết nên xử lý thế nào… Nhưng cứ nhìn cái dáng dấp của ngài, cái hành vi kỳ quặc của ngài…

-Nhưng, cụ ạ, – ông lão vừa nói vừa chạy lại gần con người lịch thiệp, – có lẽ chuyện vừa rồi chỉ là một sự nhầm lẫn.

-Thưa ngài! – con người lịch thiệp không rời mắt khỏi khẩu súng lục, vẫn tiếp tục tìm lối rút lui và nói gần như quát lên. – Cuộc tiếp xúc giữa chúng ta đã bắt đầu có chiều hướng không thích hợp với tuổi tác của chúng ta.

Ông ta nhảy ra khỏi cổng vườn rồi co cẳng chạy, vừa la to:

-Không, không, đúng là có chiều hướng không thích hợp; không xứng đáng một tí nào hết…

Ông già què bước lại gần cổng đúng lúc Ôn-ga đang đi ra sông tắm và đang bước tới trước mặt con người lịch thiệp hốt hoảng kia.

Đột nhiên ông lão què trong vườn vung cao tay lên gọi Ôn-ga đứng lại. Nhưng con người lịch thiệp nhanh như con dê, đã nhảy qua rãnh cầm lấy tay Ôn-ga kéo đi. Lập tức cả hai người biến mất sau chỗ ngoặt. Ông già nọ thấy thế phá lên cười. Vừa say sưa, vừa thú vị, ông lão nện manh cái chân gỗ lên mặt đất mà nhảy, mà hát:

Trên đường bay mê mải

Anh nào thấy được em

Chờ anh, chờ anh mãi

Đến khi trời nắng lên,

Hỡi anh!

Thế là ông ta tháo cái dây da buộc ở đầu gối ra, vứt cái chân gỗ xuống cỏ, vừa chạy vào nhà vừa tháo nốt bộ râu tóc giả đi.

Mười phút sau đồng chí kỹ sư trẻvui tính Ghê-oóc-ghi Ga-ra-ép chạy xuống bậc thềm, dắt chiếc xe mô tô ở nhà kho ra. Anh gọi con chó Ri-ta lại bảo nó giữ nhà rồi dận ga, nhảy lên và phóng thẳng ra bờ sông tìm Ôn-ga vừa bị anh ta làm cho một mẻ sợ hãi.

 

…Khoảng mười một giờ Gây-ca và Cô-li-a đến lấy trả lời tối hậu thư.

-Cậu đi cho thẳng người lên một tí nào!-Gây-ca cằn nhằn nhận xét bạn. – Bước cho nhẹ, nhưng phải cho vững chãi. Trông cậu đi gì mà cứ như con gà mổ giun ấy. Áo quần của cậu hẳn hoi tử tế thế này mà sao trông cậu chẳng có tí tư thế nào cả. Cậu đừng giận vì tớ nói đứng đắn. Đấy, cậu xem, tại sao vừa đi cậu lại vừa cứ liếm môi làm gì? Nhét tụt cái lưỡi vào mồm rồi cứ để yên nó ở trong mồm ấy… – chợt trông thấy Xi-ma chạy ngang qua đường, Gây-ca vội hỏi: – Cậu ra đây làm gì?

-Ti-mua cử tớ đi liên lạc, – Xi-ma nói liến thoắng, – cần phải như thế, cậu chẳng biết cóc gì hết. Các cậu có việc của các cậu, còn tớ có việc của tớ. Cô-li-a, cho tớ thổi kèn một cái. Trông cậu hôm nay có vẻ oách tệ! Gây-ca, cậu ngốc lắm! Đi làm công việc nghiêm túc đáng lẽ phải mang giày hay bốt vào mới đúng! Đại sứ gì mà lại đi chân đất bao giờ? Thôi, các cậu đi về phía ấy, còn tớ rẽ sang phía này đây. Hấp-hấp! Tạm biệt nhé!

-Đúng là đồ ba hoa! – Gây-ca lắc đầu. – Đáng lẽ chỉ cần nói có bốn câu là đủ rồi, đây lại làm một lúc hàng trăm câu. Bờ tường chắn đây rồi, kèn lên đi, Cô-li-a!

-Bảo thằng Mi-sơ-ca lên đấy! – Gây-ca ra lệnh cho thằng bé đang ló người ra ở phía bên kia đường.

-Đi vòng sang phía bên phải ấy! – có tiếng thằng Mi-sơ-ca nói vọng ra. – Chỗ ấy có lối dành riêng cho bọn các cậu đấy!

-Đừng đi vội – Cô-li-a giật mạnh tay áo Gây-ca lại, nói khẽ. – Chúng nó sẽ bắt cóc bọn mình để đánh đấy.

-Cả bọn chúng nó đánh hai đứa mình ấy à? – Gây-ca ngạo mạn hỏi. Thổi nữa lên đi, Cô-li-a, thổi cho to lên. Đội chúng ta có mặt ở khắp các ngả đường.

Hai em bước qua cái cổng sắt gỉ tiến đến trước mặt một bọn con trai. Đứng đầu nhóm là “Con bài hoa” và Mi-sơ-ca.

-Đưa thư trả lời đây! – Gây-ca nói, giọng chắc nịch và quả quyết.

Mi-sơ-ca mỉm cười, còn thằng “Con bài hoa” thì cau có.

-Hãy nói chuyện cái đã, – Mi-sơ-ca đề nghị. – Nào, ngồi xuống đây, ngồi một tí đã, đi đâu mà vội?

-Đưa thư trả lời đây, – Gây-ca lạnh lùng nhắc lại một lần nữa. – Còn việc nói chuyện với các cậu thì sau sẽ hay.

Kể cũng lạ lùng và khó hiểu thật: không biết cái anh chàng lùn tịt mặc chiếc áo lót thủy quân nom rất chững chạc đang đứng cạnh anh lính kèn bé nhỏ với sắc mặt tái mét kia đùa hay thật? Hay là sau khi nghiêm khắc nheo đôi mắt sáng lại, thằng vai rộng, chân đất kia tự cho mình cái quyền bắt người khác phải trả lời thật sự?

-Này, cầm lấy, – Mi-sơ-ca chìa mảnh giấy ra.

Gây-ca giở tờ giấy ra xem. Trên mảnh giấy chỉ có hình vẽ một nắm đấm rất nguệch ngoạc và kèm theo một câu chửi bậy ở dưới.

Gây-ca không chút thay đổi thái độ. Em bình tĩnh xé toạc tờ giấy đi. Lập tức cả em lẫn Cô-li-a bị bọn kia ghì chặt lấy vai và tay.

Cả hai đều không hề chống cự lại.

Mi-sơ-ca bước lại trước mặt Gây-ca, nói:

-Đáng lẽ chúng tao phải nện cho tụi mày mấy cái về chuyện tối hậu thư mới đúng. Nhưng… chúng tao vốn người hiền hậu. Bây giờ thì chúng tao phải nhốt tụi mày vào đây tới đêm, – nó chỉ tay vào nhà thờ, – và đêm nay bọn tao sẽ dọn sạch nhẵn cái vườn táo ở nhà số hai mươi tư cho chúng mày biết tay.

-Không dọn được đâu, – Gây-ca bình thản trả lời.

-Không, nhất định được! – thằng “Con bài hoa” hét lên và đấm mạnh một cái vào mặt Gây-ca.

-Có giỏi đấm thử một trăm quả liền đi! – Gây-ca nheo mắt vào rồi lại mở trừng mắt ra. – Cô-li-a này, – em quay lại khích động bạn, – chớ có nhút nhát nhớ. Mình đã cảm thấy là hôm nay thế nào đội ta cũng sẽ có lệnh tập trung khẩn cấp đấy.

Hai tù binh đã bị bọn kia đẩy vào ngôi miếu thờ bé nhỏ có những cánh cửa chớp bằng sắt đóng chặt. Cả hai cánh cửa đều bị bọn kia đóng sập và cài then cẩn thận. Đã thế chúng lại còn chèn thêm cả một khúc gỗ nữa.

-Thế nào? – thằng “Con bài hoa” bước lại gần cửa, đặt tay lên mồm làm loa, kêu to. – Bây giờ định sao đây: theo bọn tớ hay theo chúng mày?

Từ phía trong cánh cửa có tiếng trả lời, giọng khàn khàn:

-Không đâu, lũ lêu lổng ơi, từ nay trở đi sẽ không bao giờ lại có cái chuyện làm theo ý bọn bay nữa đâu.

“Con bài hoa” nhổ phì phì.

-Anh nó là thủy quân đấy! – thằng A-li-ô-sa đầu trọc lốc càu cạu nói. – Anh nó phục vụ trên tàu cùng với chú tớ đấy.

-Thì đã sao nào! – “Con bài hoa” sẵng giọng. – Còn mày là cái gì, thuyền trưởng chắc?

-Tay nó bị ghì chặt rồi, mày lại còn đấm nó. Như thế liệu có đáng không?

-Này thì cả mày nữa! – “Con bài hoa” nổi khùng và giáng luôn cho A-li-ô-sa một quả.

Thế là hai đứa vật nhau ra bãi cỏ. Những đứa kia phải vội xông vào lôi tay, lôi chân mà gỡ ra…

Không một đứa nào để ý tới bộ mặt của Xi-ma đang ló ra trong đám lá gia rậm rạp gần bờ tường chắn.

Cậu ta tụt rất nhanh xuống đất rồi chạy thẳng một mạch tắt qua các khu vườn ra bờ sông để gặp Ti-mua và các bạn.

 

Ôn-ga trùm đầu bằng chiếc khăn mặt và nằm dài trên bãi cát đọc sách.

Giê-nhi-a cũng đang tắm. Bỗng có người đến ôm lấy vai em.

Giê-nhi-a quay phắt lại.

-Chào bạn,- một cô bé cao, mắt đen láy nói, – Ti-mua cử tôi đến đây đấy. Tôi là Ta-nhi-a, cũng là người cùng đội với cậu ấy. Cậu ấy rất ân hận về việc chỉ vì cậu ấy mà chị bạn đã mắng bạn.Chị bạn ác lắm phải không?

-Bảo hộ cậu ấy cứ yên tâm, – Giê-nhi-a đỏ bừng mặt lên và nói ấp úng. – Chị Ôn-ga không ác tý nào đâu, tính chị ấy như vậy đấy thôi. – Rồi Giê-nhi-a khoát tay thất vọng nói thêm. – Hừm, chị ơi là chị! Cứ chờ đấy! Ba về sẽ hay!…

Đôi bạn gái cũng thôi tắm và cùng đi lên đoạn bờ phía bên trái bãi tắm. Đến đấy hai em bỗng gặp Nhu-rơ-ca.

-Này, cậu có nhận ra tôi không? – Nhu-rơ-ca lí nhí hỏi Giê-nhi-a. – Đúng rồi! Tôi nhận ra cậu ngay! Ti-mua kia kìa! – Cô bé cởi cái áo xuống rồi chỉ về phía bờ bên kia, chỗ có mấy cậu con trai đang đứng ở đó. – Tôi biết ai đã tìm hộ con dê, ai xếp củi, ai đã cho em tôi ăn dâu tây rồi. Tôi cũng biết cả chị cậu nữa, – cô bé quay về phía Ta-nhi-a. – Có lần thấy bạn ngồi khóc bên luống rau. Đừng khóc. Chả hay gì đâu!… Này, đứng im đấy, con quỷ kia, kẻo tao lại đem mày đi vứt xuống sông bây giờ! – cô bé quay lại quát con dê đang bị buộc vào bụi cây. – Nhảy xuống tắm nữa đi, các cậu!

Giê-nhi-a và Ta-nhi-a đưa mắt nhìn nhau. Trông cô bé Nhu-rơ-ca này thật là ngộ nghĩnh. Người bé nhỏ, da cháy nắng, chẳng khác nào một cô gái Xư-gan.

Tay cầm tay cả ba cô cùng chạy ùa xuống sông, đón làn sóng xanh đang vỗ dào dạt.

-Thế nào, nhảy chứ?

-Nhảy đi!

Thế là cả ba cô cùng nhảy ùa xuống nước.

Nhưng, các cô chưa kịp lặn thì bỗng có người thứ tư nhảy xuống theo.

Đó là Xi-ma. Cậu ta vội đến nỗi cứ để y nguyên cả quần áo, đi dép xăng-đan mà nhảy xuống nước. Cậu ta vừa hất tung mớ tóc dính nước, vừa phun phì phì để bơi từng sải rộng sang tới bờ bên kia cho thật nhanh.

-Nguy quá! Giê-nhi-a ơi! Nguy to rồi! – cậu ta quay về phía Giê-nhi-a kêu to. – Gây-ca và Cô-li-a bị bọn nó phục kích rồi!

 

…Ôn-ga vừa đọc sách vừa đi lững thững lên đồi. Đến chỗ con đường mòn thoai thoải chạy ra đường nhựa chị bỗng trông thấy anh Ghê-oóc-ghi đang đứng bên cạnh chiếc mô-tô. Hai người chào nhau.

-Tôi đang phóng, – anh giải thích, – thì trông thấy chị đi về. Tôi nghĩ, hay là ta đợi ở đây rồi đưa về, nếu cùng đi một đường.

-Nói dối! – Ôn-ga không tin. – Anh cố tình đứng đây đợi tôi.

-Vâng, đúng là như vậy đấy, – anh Ghê-oóc-ghi thú nhận, – định nói dối cũng không xong. Tôi định xin lỗi chị về chuyện vừa rồi đã làm chị sợ. Cái lão già thọt đứng cạnh cổng ấy chính là tôi. Tôi hoá trang để chuẩn bị cho một cuộc tổng duyệt đấy mà. Chị ngồi lên đây, tôi đưa chị về.

Ôn-ga lắc đầu từ chối.

Anh đặt lên cuốn sách của chị một bó hoa. Bó hoa khá đẹp. Ôn-ga đỏ mặt, lúng túng… ném bó hoa xuống đường.

Ghê-oóc-ghi quả là chưa ngờ được tới chuyện đó.

-Ôn-ga ạ! – anh buồn rầu nói. – Chị chơi đàn giỏi, hát lại hay, chị có đôi mắt nhìn rất thẳng thắn và rất sáng. Tôi chưa làm điều gì để chị phải phật ý. Nhưng tôi thiết nghĩ, chẳng có ai lại xử sự như chị bao giờ… Kể cả những người làm nghề bê tông cốt sắt.

-Không cần hoa! – hoảng hốt về hành vi của mình, Ôn-ga nhận lỗi. – Chẳng cần phải tặng hoa tôi cũng vẫn đi với anh được như thường.

Nói rồi chị ngồi lên chiếc đệm da. Và thế là chiếc mô tô chạy vút đi như bay trên đường cái.

Con đường đã đến chỗ rẽ đôi, nhưng chiếc mô tô đã lờ con đường rẽ vào khu trại nghỉ mát, lao thẳng ra phía cánh đồng.

-Anh đi sai đường, – Ôn-ga kêu to, – rẽ sang phải mới đúng.

-Đường này tốt hơn, – anh Ghê-oóc-ghi đáp, – ở đây đường vui hơn nhiều.

Lại một con đường rẽ nữa. Hai người phóng vút qua một khu rừng nhỏ rợp bóng mát, lá reo rì rào. Một con chó nhảy bổ ra khỏi đàn bò, cừu vừa cố sức đuổi theo mô tô, vừa sủa inh ỏi. Nhưng đuổi làm sao nổi! Xe chạy xa rồi!

Một chiếc xe tải chạy ngược đường rú ga y như tiếng đạn đại bác cỡ lớn.

Thế rồi khi hai người vượt được ra khỏi đám bụi vàng bốc cuộn lên cao thì bỗng thấy ở phía dưới chân đồi có khói, ống khói, tháp lọc nước, những khung cửa bằng kính và bằng sắt của một thành phố lạ.

-Xưởng máy của chúng tôi đấy! – anh Ghê-oóc-ghi nói to. – Ba năm về trước tôi còn đến quãng này để hái nấm và dâu rừng đấy.

Chiếc xe rẽ quặt rất mạnh mà không hề giảm tốc độ.

-Đi thẳng đi! -chị Ôn-ga cảnh giác. – Đi thẳng về nhà thôi.

Bỗng nhiên động cơ bị tắc và thế là xe phải dừng lại.

Anh Ghê-oóc-ghi vừa xuống xe vừa nói:

-Đợi tôi tý nhé. Xe bị mắc cái gì đó thôi.

Anh ngả xe ra bãi cỏ ngay dưới bóng cây bạch dương, lấy túi phụ tùng chữa xe ra và bắt đầu tháo, vặn.

-Anh sắm vai gì trong vở ca kịch của nhà máy thế? – Ôn-ga vừa ngồi xuống bãi cỏ vừa hỏi. – Tại sao trông anh hoá trang vừa kỳ quặc vừa dữ tợn như vậy?

-Tôi đóng vai một ông già tàn tật, – anh Ghê-oóc-ghi trả lời, tay vẫn không ngừng chữa xe, – trước kia ông lão là du kích, tính tình có phần… hơi không bình thường. Ông ta sống tại một vùng gần biên giới nên luôn có cảm giác như bọn địch giảo quyệt vẫn tìm cách đánh lừa ta. Ông ta già rồi nhưng tinh thần cảnh giác rất cao. Các chiến sĩ Hồng quân của chúng ta còn trẻ lắm, đi tuần tra về chỉ cười đùa, hay đi chơi bóng chuyền thôi. Anh em ở đấy quen biết đủ loại các cô.

Anh Ghê-oóc-ghi chau mày lại rồi khe khẽ hát:

Trăng lại khuất rồi sau đám mây đen tối

Ta ngồi đây lặng lẽ gác đã ba đêm

Đừng ngủ, đất nước ta ơi! Kẻ thù đang len lỏi

Ta yếu. Ta già. Ôi, sao chẳng ở yên!

Đến đây anh Ghê-oóc-ghi đổi giọng bắt chước cả một dàn đồng ca:

Cụ già hỡi cứ bình tâm… cứ bình tâm!

-“Cứ bình tâm” thế nào được? – Ôn-ga lấy khăn tay lau môi bị dính bụi, hỏi gặng.

-Thế có nghĩa là, – anh Ghê-oóc-ghi tiếp tục gõ cái lắc-lê vào ổ máy xe mô tô, giải thích – thế nghĩa là: hãy ngủ cho yên, lão già ngốc ơi, các chiến sĩ và các vị chỉ huy đều đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu từ lâu rồi… Chị Ôn-ga này, cô em gái của chị có nói gì về chuyện tôi gặp cô ấy không?

-Có, tôi đã mắng cho nó một trận.

-Không nên. Cô bé ấy rất hóm hỉnh. Tôi nói “A”, nó liền trả lời tôi “B”!

-Tôi cũng đến khổ về cái con bé hóm hỉnh ấy. – Ôn-ga nhắc lại. – Có một thằng tên là Ti-mua gì đó suốt ngày cứ ám nó. Thằng này đồng bọn với thằng du côn Mi-sơ-ca. Tôi không có cách nào để cấm cửa nó được.

-Ti-mua à? Hừm… – Anh Ghê-oóc-ghi bối rối, gặng hỏi. – Chẳng lẽ nó cùng trong bọn ấy à? Có lẽ nó không phải là thằng…. nó không đến nỗi… Mà thôi! Chị đừng lo… Để tôi sẽ bắt nó không được bén mảng đến nhà chị. Chị Ôn-ga này, sao chị không theo học trường đại học âm nhạc? Kỹ sư có ra gì đâu. Chính tôi là kỹ sư đây, nhưng đã làm được gì?

-Có lẽ anh là một kỹ sư kém chăng?

-Sao lại kém? – anh Ghê-oóc-ghi nhích lại gần Ôn-ga. Lúc này anh đã bắt đầu gõ sang trục bánh trước. – Chẳng kém một tẹo nào, nhưng chị chơi đàn và hát rất hay.

-Anh Ghê-oóc-ghi này, – Ôn-ga e thẹn đứng lùi lại, – tôi không biết anh là kỹ sư tài giỏi đến mức nào, nhưng… xem anh chữa máy thì thật lạ làm sao.

Chị giơ tay bắt chước các động tác lúc thì gõ vào ổ máy, lúc thì gõ vào ổ bi, có lúc lại gõ cả vào vành xe nữa.

-Chả có gì cả. Cần làm như thế nào thì làm như thế thôi. – Anh đứng phắt dậy, cầm cái lắc-lê gõ mạnh vào khung xe. – Đấy, xong rồi đấy! Chị Ôn-ga này, ông cụ chị là chỉ huy à?

-Vâng.

-Thế thì tốt. Bản thân tôi cũng là chỉ huy đây.

-Ai hiểu nổi được anh nữa! – Ôn-ga nhún vai. – Lúc thì bảo là kỹ sư, lúc lại là diễn viên và bây giờ lại là chỉ huy. Có lẽ anh còn là phi công nữa đấy nhỉ?

-Không! – anh Ghê-oóc-ghi bật cười. – Phi công thì bay từ trên cao giội bom xuống còn tôi thì đánh thẳng vào tim qua bê tông cốt sắt ở ngay trên mặt đất này.

Thế rồi ruộng lúa, đồng cỏ, rừng cây, sông nước lại loang loáng hiện ra trước mắt họ. Cuối cùng họ đã về đến khu trại nghỉ.

Nghe thấy tiếng động cơ mô tô, Giê-nhi-a ở bao lơn vội chạy bổ ra. Thấy anh Ghê-oóc-ghi, em tỏ vẻ lúng túng, nhưng khi anh đã phóng xe đi thì em chỉ nhìn theo xe rồi chạy lại ôm lấy Ôn-ga, giọng đầy tị nạnh: “Gớm, sao hôm nay chị sướng thế!”

 

Lũ trẻ hẹn nhau tụ tập ở gần vườn ngôi nhà số hai mươi tư xong, liền chạy tản ra khỏi bờ tường chắn.

Duy có “Con bài hoa” là ở lại. Cái im lặng ở bên trong ngôi nhà thờ làm cho nó ngạc nhiên và tức giận. Hai tù binh không hề kêu gào, đập phá; cũng không thèm trả lời những câu hỏi của nó.

“Con bài hoa” thấy vậy bèn giở trò ranh mãnh. Nó mở cánh cửa sắt ở gian ngoài nhà thờ rồi lẻn vào bên trong đứng im thin thít như thể đã bỏ đi rồi.

Nó cứ đứng ép chặt người vào tường mãi cho đến khi tấm cánh cửa kêu đánh rầm một cái như có ai lấy gỗ nện vào vậy.

-Này, ai đấy? – nó lao về phía cửa, tức tối. – Này, đừng có đùa dai. Ông lại bớp cho bây giờ!

Nhưng nào có tiếng ai trả lời. Ngoài ấy chỉ có tiếng xì xào lạ tai vọng vào mà thôi. Nhưng rồi nó nghe thấy tiếng khóa kêu lách cách. Lại có cả tiếng ai ở bên ngoài chấn song nói chuyện với tù binh. Bên trong nhà thờ có tiếng cười phá lên. Nghe thấy tiếng cười ấy, “Con bài hoa” thấy lòng bực bội lắm.

Cuối cùng cánh cửa ngoài mở tung ra. Trước mặt “Con bài hoa” sừng sững hiện ra ba người. Đó là Ti-mua, Xi-ma và La-đư-ghin.

-Mở chốt cửa ra! – Ti-mua ra lệnh. Em đứng im không hề nhúc nhích. – Mở ra không có thiệt thân đấy.

“Con bài hoa” buộc phải mở khóa. Cô-li-a và Gây-ca bước ra khỏi nhà thờ.

-Chui vào trong ấy thay! -Ti-mua ra lệnh. – Chui vào đấy, con rắn độc! Nhanh! – em nắm tay lại mà quát lớn. – Tao không có thì giờ nói chuyện nhiều với mày đâu!

Khi “Con bài hoa” bước vào rồi, cả hai cánh cửa đóng sập lại. Các em cài then cửa một cái chốt ngoài rồi mới móc khóa.

Ti-mua lấy ra một tờ giấy viết mấy nét chì tím nguệch ngoạc:

“Mi-sơ-ca, không cần canh làm gì. Tao khóa tụi nó lại và cầm chìa đi rồi. Tối này tao sẽ đến thẳng địa điểm gần vườn”.

Thế rồi cả nhóm chạy biến đi ngay. Năm phút sau Mi-sơ-ca chạy đến bờ tường chắn.

Nó đọc tờ giấy, sờ khoá, rồi cười khẩy, bỏ ra cổng giữa lúc “Con bài hoa” bị nhốt bên trong đang lấy chân và nắm tay hết sức đập vào cửa sắt.

Mi-sơ-ca đứng ngoài cổng quay vào thờ ơ nói:

-Cứ đập đi! Gây-ca ạ, đập nữa đi! Không đời nào tao lại mở đâu, cứ việc đập cho đến tối, người anh em ạ!

Sau đó mọi việc đã diễn ra như sau:

Mặt trời chiều sắp lặn. Ti-mua và Xi-ma rủ nhau chạy đến bãi chợ. Ở đây có một dãy quầy hàng bán hoa quả, nước giải khát, kem, và các loại hàng khô. Ở đầu dãy có một cái lều thợ giầy, ở đó người ta thường đánh giày mỗi một ngày chủ nhật thôi.

Ti-mua và Xi-ma đứng ở đó một lát.

Xẩm tối hôm ấy, cái bánh lái tàu thủy trên gác xép căn nhà kho bắt đầu làm việc. Những đường dây điện thay nhau chạy truyền những tín hiệu đến các nơi cần thiết.

Lực lượng tiếp viện đã đến. Các em trai đã đến tập trung khá đông đủ. Có chừng hai ba chục em. Nhiều em khác cũng đến bằng cách lặng lẽ chui qua các kẽ rào.

Ta-nhi-a và Nhu-rơ-ca bị đuổi trở lại. Giê-nhi-a ngồi ở nhà. Em làm nhiệm vụ giữ chân, không cho chị Ôn-ga ra vườn.

Ti-mua đứng trên guồng lái ở gác xép.

-Đánh lại tín hiệu theo đường dây số 6! – Xi-ma thò đầu qua cửa sổ lo lắng nói. – Chẳng thấy trả lời gì cả.

Có hai cậu đang viết khẩu hiệu vào một mảnh gỗ dán. Phân đội của La-đư-ghin đã có mặt.

Cuối cùng các trinh sát viên đều đã trở về. Bọn Mi-sơ-ca đã tụ tập cả trên cái bãi sông gần vườn nhà số hai mươi tư.

-Đến giờ rồi, – Ti-mua nói. – Tất cả chuẩn bị!

Em buông guồng lái ra, nắm lấy cái dây kéo cờ. Và lá cờ của Đội từ từ kéo lên cao trên mái nhà kho cũ, trong ánh trăng khi mờ khi tỏ của bầu trời vẩn mây. Lệnh chiến đấu bắt đầu!

 

…Một lũ gần mười đứa bám vào nhau dò dẫm bước theo hàng rào nhà số hai mươi tư. Mi-sơ-ca dừng lại trong bóng tối, nó nói:

-Tất cả đều có mặt, thế mà thằng “Con bài hoa” vẫn chưa thấy đến.

-Nó khôn lỏi đấy, – có tiếng trả lời, – có lẽ nó đã ở trong vườn rồi. Bao giờ nó chẳng chuồn đi ăn mảnh trước.

Mi-sơ-ca gỡ hai mảnh ván đã được nậy đinh từ trước ra để chui vào. Những đứa khác lục tục chui theo. Chỉ còn lại mình thằng A-li-ô-sa trọc lốc phải ở lại để gác.

Ở cái rãnh bên kia đường lập tức có năm cái đầu ló ra khỏi bụi lá han và ngải cứu. Bốn cái đầu đã biến mất hút, còn lại cái thứ năm là đầu Cô-li-a vừa ló ra, liền bị một bàn tay chộp lấy kéo giật lại. Thế là cái đầu ấy biến mất ngay.

Tên lính gác A-li-ô-sa nghiêng nghiêng, ngó ngó. Bốn bề im lặng. Nó vội thò cái đầu trọc vào kẽ hàng rào lắng nghe xem đồng bọn đang làm gì trong ấy. Ba người ở bên rãnh bên kia tách ra. Và chỉ trong nháy mắt tên lính gác kia bỗng thấy có một sức mạnh gân guốc nào đó đến kéo chân, kéo tay nó ra. Và không kịp kêu, nó đã bị lôi ra khỏi hàng rào.

-Gây-ca! – nó ngửa mặt lên nhìn, miệng lẩm bẩm. – Cậu ở đâu chui ra thế?

-Ở chỗ ấy đấy! – Gây-ca rít răng lại. – Liệu mà câm mồm lại! Nếu không tao sẽ không đếm xỉa đến việc mày đã bênh vực tao đâu.

-Được rồi, – A-li-ô-sa nhận lời, – tớ sẽ im. – Nhưng bất thình lình nó huýt lên một tiếng sáo lanh lảnh.

Lập tức có ngay bàn tay to tướng của Gây-ca bịt lấy mồm nó. Rồi sau đó có tay ai nắm chặt lấy vai, lấy chân nó lôi đi.

Ở trong vườn, bọn kia đã nghe thấy tiếng sáo. Mi-sơ-ca quay lại. Không thấy tiếng sáo huýt nữa, nó chăm chú nhìn quanh. Bỗng nó có cảm giác như các bụi cây trong góc vườn đều lay động.

-Này “Con bài hoa”! – Mi-sơ-ca khẽ gọi. – Mày đang nấp đấy hả thằng ngốc?

-Mi-sơ-ca, có ánh đèn kia kìa! – có tiếng ai bỗng kêu lên. – Chủ nhà ra đấy!

Nhưng đâu có phải là chủ nhà ra vườn.

Từ phía sau có tới hàng chục ánh đèn pin loé lên trong đám lá cây. Những ánh đèn ấy cứ chiếu thẳng vào mắt bọn trộm vườn đang hoang mang kia mà lao tới.

-Đánh đến cùng! Không được lui! – thằng Mi-sơ-ca vừa móc túi lấy táo ném về phía những ngọn đèn, vừa hò hét. – Tước ngay đèn khỏi tay chúng nó! Thằng Ti-mua đấy!

-Đấy là Ti-mua, còn đây là Xi-ma! – Xi-ma lao người ra khỏi lùm cây quát to.

Và khoảng chừng mươi em khác cũng lao khỏi các vị trí chiến đấu và các tuyến phòng thủ.

-Ái chà! – Mi-sơ-ca gào to. – Bọn nó đông quá! Trèo qua rào mà rút thôi, chúng mày ơi!

Bị sa vào vòng vây, cả lũ điên cuồng tìm cách tẩu thoát.

Chúng vừa chen đẩy, vừa vấp ngã sưng cả trán, vừa cố lao qua hàng rào ra đường, nhưng lại bị rơi ngay vào tay La-đư-ghin và Gây-ca.

Mặt trăng đã bị lấp hẳn sau những đám mây đen. Người ta chỉ còn nghe thấy những tiếng kêu:

-Bỏ ra!

-Buông ra!

-Không được động đậy!

-Tất cả im lặng! – tiếng Ti-mua bật lên trong bóng tối. – Không được đánh tù binh! Gây-ca đâu rồi?

-Đây!

-Dẫn tất cả về vị trí tập trung.

-Nhỡ có thằng không chịu đi thì sao?

-Giữ tay, lôi chân, kéo đi long trọng như rước tượng thánh ấy.

-Buông ra, đồ quỷ sứ! – có giọng lè nhè của một thằng nào đó.

-Thằng nào lè nhè đấy? – Ti-mua giận dữ hỏi. – Có gan ăn trộm mà không có gan chịu đòn hả? Gây-ca đâu, cho lệnh tiến đi!

Bọn tù binh bị dẫn đến cái lều trống ở đầu chợ. Chúng lần lượt bị đẩy vào trong lều.

Ti-mua yêu cầu:

-Cho Mi-sơ-ca đến gặp tôi!

Mi-sơ-ca được dẫn đến.

-Xong cả chưa? – Ti-mua hỏi.

-Xong hết cả rồi!

Tên tù binh cuối cùng vừa bị đẩy vào lều thì cánh cửa được đóng vào, cài then và khoá lại bằng một cái khoá to sù.

-Cút đi! – Ti-mua nói với Mi-sơ-ca. – Trông mày buồn cười lắm! Chẳng ai cần mày và cũng chẳng ai còn sợ mày nữa đâu.

Mi-sơ-ca cúi đầu chưa rõ đầu đuôi ra sao. Nó vẫn đinh ninh rằng thế nào cũng bị đánh.

-Cút đi! – Ti-mua nhắc lại. – Cầm lấy cái chìa khóa này đến mà mở cửa nhà thờ ra, thằng “Con bài hoa” bạn mày đang ở đấy đấy.

Mi-sơ-ca vẫn không đi.

-Thả hết tất cả bọn chúng nó ra! – nó nhăn nhó nói. – Nếu không hãy giam cả tao cùng với bọn nó.

-Không được. – Ti-mua từ chối. – Giờ đây mọi chuyện đều kết thúc cả rồi. Chẳng có việc gì mày cần phải làm với chúng nó và chúng nó cũng chẳng cần đến mày nữa đâu.

Mi-sơ-ca đành cúi đầu lùi lũi bước đi giữa tiếng còi mồm chế giễu, tiếng hò reo nhạo báng. Đi được khoảng chục bước, nó quay lại rướn thẳng người lên.

-Tao sẽ quật chết mày! – nó quay lại thét vào mặt Ti-mua. – Tao sẽ quật một mình mày thôi. Một chọi một. Chết thì thôi. – Nói rồi nó nhảy chồm lên và lẩn vào trong bóng tối.

-La-đư-ghin và năm người của cậu được tự do. – Ti-mua nói. – Công việc cậu là gì nhỉ?

-Nhà số hai mươi hai, chuyển củi phố Bôn-sai-a Va-xi-li-ép-xcai-a.

-Được rồi. Tiến hành đi!

Có tiếng còi vang lên ở ga. Tàu chở khách đi nghỉ mát đã đến. Hành khách trên tàu đổ xuống. Ti-mua vội vã.

-Xi-ma và năm người của cậu làm việc gì nhỉ?

-Số nhà ba mươi tám ở phố Ma-lai-a Pê-tơ-ra-cốp-xcai-a. – Cậu ta cười vang lên, rồi nói thêm: – Việc của bọn chúng tớ vẫn là gàu, thùng và nước… Có vậy thôi, xin chào!

-Được rồi, làm đi! Thôi bây giờ mọi người sắp đi qua đây đấy. Các cậu khác cũng về nhà cả đi… Nhanh lên!

 

… Có tiếng ầm ầm đập phá vang lên trên bãi chợ. Những hành khách từ trên tàu xuống ngơ ngác dừng cả lại. Tiếng đập phá và gào thét lại náo lên. Đèn ở các nhà nghỉ gần đó đã loé sáng trong các ô cửa sổ. Có người nào đó bật đèn cái lều trống. Và ai nấy đều ngạc nhiên khi nhìn thấy một bảng yết thị:

KHÁCH QUA ĐƯỜNG XIN CHỚ CÓ THƯƠNG!

Bọn người bị giam ở đây là những kẻ hèn nhát

đêm nào cũng mò đi càn quét vườn cây của những

người dân lương thiện.

Chìa khóa lều này treo ở ngay phía sau bảng yết thị.

Nếu có ai mở cửa cho bọn bị giam ở đây thì trước hết

hãy xem kỹ trong số này có đứa nào là người nhà

hay quen thuộc không?

Đêm đã khuya. Ngôi sao đỏ có viền đen ở trước cổng nhà tuy không nhìn rõ nữa, nhưng nó vẫn còn nguyên đấy.

Đây là vườn của gia đình em gái nhỏ xinh xinh. có nhiều sợi dây mảnh được buông xuống từ các cành cây cao. Tiếp ngay sau đó là một chú bé tụt từ trên cây xuống theo cái thân cây sần sùi. Chú bé đặt một tấm ván lên dây đu rồi ngồi xuống, lá cây rì rào reo theo. Có con chim hốt hoảng kêu ré lên và bay đi mất. Khuya rồi. Chị Ôn-ga và Giê-nhi-a đã ngủ từ lâu. Những người bạn của chú bé đó cũng đã ngủ êm rồi. Đó là Xi-ma vui tính; là La-đư-ghin lầm lì; là Cô-li-a ngộ nghĩnh. Riêng Gây-ca dũng cảm thì hẳn là giờ này đang trằn trọc và lẩm bẩm trong giấc mơ.

Chiếc đồng hồ trên tháp canh điểm giờ dõng dạc: “Ban ngày bận việc! Bính…boong… Bính… Boong… một… hai!…”

Đúng, muộn thật rồi!

Chú bé đứng dậy, đưa tay lần lần trên mặt cỏ nhặt lên một bó hoa đồng to.

Bó hoa ấy là do Giê-nhi-a hái về.

Cố thận trọng để không đánh thức, không làm giật mình những người đang ngủ, chú bé bước lại gần hiên nhà tràn ngập ánh trăng và lẹ làng, nâng niu đặt bó hoa lên bậc thềm trên cùng. Chú bé ấy chính là Ti-mua.

 

Buổi sáng ngày nghỉ. Để chào mừng một năm ngày chiến thắng của Hồng quân bên hồ Kha-xan, các đoàn viên thanh nhiên cộng sản ở khu nghỉ mát có tổ chức tại vườn hoa một ngày hội hóa trang lớn – có cả hòa nhạc lẫn vui chơi.

Các em gái đã có mặt tại bãi rừng thưa ngay lúc còn sớm tinh sương. Chị Ôn-ga vội là nốt chiếc áo khoác. Trong lúc tìm chiếc váy, chị giũ luôn cả cái áo của Giê-nhi-a.

Vô tình chị bắt được mảnh giấy ở túi áo rơi ra.

Ôn-ga nhặt lên đọc:

“Cô bạn. Ở nhà đừng có sợ gì ai. Mọi việc đâu đã vào đấy cả rồi. Tôi sẽ không nói chuyện với ai đâu. Ti-mua”.

“Không nói chuyện với ai. Tại sao lại không sợ? Con bé bí ẩn và ranh mãnh này có chuyện gì bí mật vậy? Không, nhất định phải kết thúc chuyện này ngay. Ba đi vắng, ba đã dặn kỹ rồi… Phải hành động kiên quyết và mau lẹ mới được”.

Anh Ghê-oóc-ghi gõ cửa sổ.

-Chị Ôn-ga ơi, – anh khẩn khoản, – chị giúp tôi với! Có một đoàn đại biểu đến chỗ tôi yêu cầu tôi phải hát một bài. Giữa ngày vui như hôm nay mà lại đi từ chối thì thật là không nên. Chị đệm đàn phong cầm cho tôi nhé!

-Vâng… nhưng chị chơi đàn dương cầm có thể giúp anh làm việc ấy chứ! – Ôn-ga ngạc nhiên. – Sao lại cứ phải đệm bằng phong cầm mới được?

-Chị Ôn-ga ạ, tôi không muốn đệm bằng dương cầm. Tôi muốn chị đệm đàn cơ! Ta cùng biểu diễn thú hơn nhiều! Tôi nhảy qua cửa sổ vào được chứ? Chị hãy bỏ bàn là xuống, lấy phong cầm ra đi! Đây, tôi tự lấy ra hộ chị rồi đây này. Chị chỉ còn có việc bấm phím và tôi lấy giọng hát lên là xong.

-Này, Ghê-oóc-ghi này, – Ôn-ga hơi bực, – nói thực ra thì nhà tôi còn có cả cửa, và anh có thể không phải nhảy qua cửa sổ…

 

Vườn hoa bắt đầu ồn ào. Xe chở khách đi nghỉ mát kéo nhau đến từng đoàn dài. Những chuyến xe tải chở đến đây nào là bánh mì, bánh kẹp thịt, kẹp xúc xích, nào là nước chanh, nước cam với những kẹo và bánh ngọt. Những bà bán kem xách tay hoặc đẩy xe mặc toàn quần áo màu xanh trông đến là đẹp mắt.

Máy hát quay tay trên bãi rộng thi nhau hát đủ giọng. Những người vừa đến và những người vốn sinh sống ở đây ăn bánh, uống nước quanh máy hát.

Nhạc đã cử lên.

Ông cụ gác cửa đứng bên cổng ra vào rạp hát ngoài trời đang quát tháo anh thợ điện vì anh ta đòi mang cả lắc lê lẫn móc leo cột vào nhà hát.

-Này, ông bạn thân mến, không ai cho đem những thứ dụng cụ ấy vào đây đâu. Hôm nay là ngày hội. Trước hết anh bạn hãy về nhà rửa mặt đi rồi mặc quần áo cho tử tế vào.

-Nhưng vào xem có cần vé đâu, bố già?

-Cũng không được. Ở đây là nơi ca hát. Hay là anh bạn lại còn định đem cả cột dây điện thoại vào nữa. Còn ông kia, khoan đã, – Ông cụ giữ một người khác lại. – Đây là chỗ người ta ca hát… đàn nhạc. Vậy mà túi ông lại để thòi ra một cái chai kìa.

-Nhưng, thưa với bố, – người kia ấp úng nói, – tôi cần… bản thân tôi là danh ca giọng nam cao đây.

-Thôi, đi ngay đi, ông giọng nam cao, – ông cụ chỉ tay vào anh thợ điện nói, – đây ông giọng nam trầm này còn không phản đối được thì ông, ông bạn giọng nam cao chẳng nên phản đối làm gì.

Giê-nhi-a được các bạn trai báo cho biết là chị Ôn-ga sẽ lên sân khấu chơi đàn nên em cứ nhấp nha nhấp nhổm ngồi không yên chỗ.

Thế rồi chị Ôn-ga và anh Ghê-oóc-ghi bước ra. Giê-nhi-a rất lo: em có cảm giác là thế nào người ta cũng sẽ cười chị Ôn-ga. Nhưng không có một ai cười cả.

Anh Ghê-oóc-ghi và chị Ôn-ga đứng trên bậc cao với dáng điệu giản dị, trẻ trung và vui vẻ đến nỗi Giê-nhi-a chỉ muốn chạy lên ôm chặt lấy cả hai người.

Chị Ôn-ga mắc dây đeo đàn qua vai.

Một nếp nhăn sâu hoắm vạch dài ngang trán anh Ghê-oóc-ghi. Anh cúi khom khom, khẽ nghiêng đầu sang một bên. Giờ đây anh đã trở thành một ông già và cất tiếng trầm trầm:

“Đã ba đêm rồi ta không ngủ. Ta vẫn tưởng như có chuyện

gì bí ẩn trong vắng lặng đây đó đang rình mò.

Súng xiết cháy tay. Tim lo đè nặng,

Như hai mươi năm trước trong chiến tranh đêm lắng.

Hỡi tên giặc trong đội lính đánh thuê,

Nếu giờ đây ta gặp bay một lần nữa

Thì lão già đầu bạc này vẫn sẵn sàng hăm hở xông lên.

Như hai mươi năm về trước, bình tĩnh, ngoan cường,

lão vẫn chưa quên”.

-Úi trời ơi, hay quá! Thật tội nghiệp cho ông già thọt can đảm quá chừng! Giỏi quá! Cừ quá! – Giê-nhi-a cứ lẩm bẩm một mình. – Được đấy. Chơi đàn nữa lên, chị Ôn-ga ơi! Chỉ tiếc ba không được nghe chị chơi đàn thôi.

Sau buổi hòa nhạc anh Ghê-oóc-ghi và chị Ôn-ga thân mật khoác tay nhau đi trong vườn hoa.

-Thế là xong! – Ôn-ga nói. – Nhưng tôi không biết Giê-nhi-a đã biến đâu mất rồi.

-Cô ấy đứng ngay trên ghế băng – anh Ghê-oóc-ghi đáp, – và kêu to: “Hoan hô! Hoan hô!” Sau đó có một chú bé đến gần… – nói đến đây anh bỗng ngừng lại, – không rõ là đứa nào và cả hai đều biến mất.

-Đứa nào nhỉ? – Ôn-ga lo lắng. – Anh Ghê-oóc-ghi, anh lớn tuổi hơn tôi, anh hãy bảo xem tôi nên xử sự với em gái tôi như thế nào bây giờ? Anh xem đấy, sáng nay tôi tìm thấy cái mảnh giấy này trong túi áo của nó.

anh Ghê-oóc-ghi đọc. Bây giờ đến lượt anh đắn đo, suy nghĩ.

-Đừng sợ ở đây có nghĩa là đừng nghe lời ai cả. Hừm, cái thằng bé ấy mà vào tay tôi, tôi sẽ cho nó một trận! – Ôn-ga nói.

Chị cất mảnh giấy đi. Hai người cùng im lặng hồi lâu. Nhưng tiếng nhạc vẫn reo vui. Chung quanh mọi người vẫn cười vang và thế là họ lại khoác tay đi trong vườn hoa. Đến ngã tư bất chợt họ chạm trán với một cặp khác khiến cả hai đều sững lại. Cặp kia cũng tay cầm tay thân ái bước thẳng tới chỗ họ. Cặp đó chính là Ti-mua và Giê-nhi-a.

Sau giây phút ngỡ ngàng cả hai cặp đều lễ phép cúi đầu chào nhau rồi lại đi tiếp.

-Thằng ấy đấy! – Ôn-ga thất vọng kéo tay anh Ghê-oóc-ghi nói. – Chính cái thằng ranh ấy đấy, anh ạ!

-Ồ, – anh Ghê-oóc-ghi tỏ vẻ ngượng nghịu, – nhưng cái chính lại ở chỗ nó là thằng cháu trai táo bạo của tôi.

-Vậy là cả anh… cũng biết chuyện rồi! Ôn-ga bực bội. – Thế mà anh không thèm nói gì với tôi hết!

Chị hẩy tay anh ra rồi chạy đi. Nhưng Ti-mua và Giê-nhi-a đã không còn ở đấy nữa.

Chị quặt sang con đường hẹp chạy ngoằn ngoèo. Đến đây, chị bắt gặp Ti-mua đang đứng với “Con bài hoa” và Mi-sơ-ca.

-Này, – chị Ôn-ga sấn sổ bước sát tới trước mặt Ti-mua, – bọn chúng mày chuyên trèo vào vườn nhà người ta, làm gãy cây quả nhà người ta, bất chấp cả bà già và trẻ mồ côi còn chưa đủ hay sao? Chó nó trông thấy mày cũng phải khiếp sợ bỏ chạy, thế mà mày còn phải xúi giục em tao về cãi lại tao. Cổ mày đeo khăn quàng đỏ thật, nhưng ra mày chỉ là… một thằng mất dạy!

Ti-mua tái người đi.

-Không phải như vậy đâu! – em nói. – Chị không biết gì hết.

Chị Ôn-ga phất tay rồi chạy bổ đi tìm Giê-nhi-a.

Ti-mua lặng người đứng đó.

Cả “Con bài hoa” lẫn Mi-sơ-ca cũng bị bối rồi nên đứng im.

-Thế nào, chính ủy? – Mi-sơ-ca bỗng hỏi. – Xem ra thì cũng có lúc cuộc đời của ngài gặp những phút không vui nhỉ?

-Đúng thế, thủ lĩnh ạ, – Ti-mua từ từ ngước mắt lên nhìn nó, đáp. – Lúc này không những không vui mà còn đau đớn nữa. Giá như bị các cậu bắt, đánh, nện… thì có lẽ còn thấy dễ chịu hơn là chỉ vì bọn các cậu mà tớ phải nghe những lời như vậy…

-Thế sao cậu lại lặng im? – Mi-sơ-ca cười khẩy. – Sao cậu không nói toạc ra rằng: đấy không phải em, mà là tụi nó. Chúng tớ đứng ngay đây, ngay bên cạnh cậu mà.

-Phải đấy! Cậu cứ nói thế đi rồi chúng tớ sẽ cho cậu một trận, – thằng “Con bài hoa” mừng rỡ đế ngay.

Nhưng Mi-sơ-ca hoàn toàn không có ý chờ đợi sự ủng hộ này. Nó im lặng và lạnh lùng nhìn tên đồng bọn của mình. Còn Ti-mua thì đưa tay sờ những thân cây bên ven đường, lẳng lặng bỏ đi.

-Kiêu kỳ lắm! – Mi-sơ-ca khẽ nói. – Nó muốn khóc lắm mà vẫn cố nén.

-Thì cứ nện ngay cho nó một quả là nó bật lên khóc thôi, – thằng “Con bài hoa” nói chưa dứt câu đã vội nhặt một quả thông ném theo Ti-mua.

-Nó… kiêu kỳ, – Mi-sơ-ca khàn khàn nhắc lại, – còn mày thì… đốn mạt! – Và thế là nó dang tay nện luôn cho “Con bài hoa” một quả vào trán.

“Con bài hoa” bị châng hẩng một lúc mới kêu lên mà bỏ chạy. Mi-sơ-ca còn cố đuổi theo thụi thêm cho nó hai quả nữa vào lưng.

Cuối cùng Mi-sơ-ca dừng lại, nhặt cái mũ vải bị rơi lên đập mạnh vào đầu gối phủi bụi rồi bước đến quầy bán kem mua một chiếc, tựa lưng vào gốc cây ăn. Nó vừa thở gấp vừa ngoạm từng miếng thật to.

 

Ti-mua tìm đến gặp Xi-ma và Gây-ca ở chỗ chơi bắn súng, ngay trên sân hội.

-Ti-mua này, – Xi-ma báo cho bạn biết, – chú cậu đang tìm cậu đấy, trông chú ý có vẻ bực tức lắm.

-Tớ về đây, biết rồi.

-Cậu có quay lại đây nữa không?

-Không biết nữa!

-Ti-mua! – bỗng Gây-ca nắm lấy tay bạn nhẹ giọng nói. – Sao thế? Chúng mình có làm điều gì xấu cho ai đâu. Cậu biết đấy, khi con người có lẽ phải…

-Ừ, tớ biết… họ chẳng sợ bất cứ một điều gì trên trái đất này. Nhưng dẫu sao họ cũng vẫn thấy đau đớn.

Ti-mua bước đi. Giê-nhi-a chạy lại gặp Ôn-ga giữa lúc chị đang xách đàn về nhà.

-Chị Ôn-ga!

-Cút đi! – Ôn-ga trả lời, không nhìn em. – Tao không thèm nói chuyện với mày nữa. Tao sẽ về Mát-xcơ-va ngay tức khắc. Còn mày có thể cứ ở lại đây rồi muốn đi chơi với đứa nào thì đi, đi đến sáng cũng mặc.

-Nhưng, chị Ôn-ga ạ…

-Tao không muốn nói chuyện với mày. Ngay mai sẽ dọn tất cả về Mát-xco-va. Sẽ đợi ở đấy.

-Đúng rồi, phải có ba, chứ không phải là chị. Ba sẽ hiểu tất cả! -Giê-nhi-a giận dữ kêu lên. Em khóc và lao đi tìm Ti-mua.

Em tìm hỏi Gây-ca, Xi-ma xem Ti-mua ở đâu.

-Cậu ấy bị gọi về nhà rồi. – Gây-ca nói. – Chú cậu ấy bực mình về chuyện gì giữa các cậu lắm đấy.

Giê-nhi-a giậm chân đến điên lên. Em nắm chặt tay lại, rồi kêu:

-Thế đấy… chẳng có gì mà cũng làm khổ người ta!

Em ôm lấy thân cây bạch dương, nhưng vừa lúc đó thì Ta-nhi-a và Nhu-rơ-ca chạy đến.

-Giê-nhi-a! – Ta-nhi-a gọi. – Cậu làm sao thế? Lại đằng kia đi, mau lên! Có người đệm đàn rồi đấy, mọi người bắt đầu nhảy rồi. Bọn con gái cũng đến nhảy cả đấy.

Hai cô bạn nhỏ nắm lấy tay Giê-nhi-a kéo đến một vòng người. Trong đó những chiếc váy màu và những chiếc áo hoa rực rỡ đang quay loang loáng.

-Giê-nhi-a, đừng khóc nữa! – Nhu-rơ-ca vẫn ríu rít giọng liến thoắng. – Bà tôi cốc tôi mà tôi cũng chẳng khóc nữa là! Này, các cậu ơi! Chúng mình vào nhảy đi!… Nhảy đi!…

-“Nhảy-ảy đi-i!” – Giê-nhi-a lặp lại giọng Nhu-rơ-ca.

Và thế là các cô lọt qua vòng nhảy chạy vào trong nắm vai nhau nhảy say sưa và phấn khởi.

 

Ti-mua vừa về đến nhà đã bị chú em gọi vào hỏi chuyện.

-Chú chán ngấy những chuyện đêm đêm đi rình mò của cháu lắm rồi đấy, – anh Ghê-oóc-ghi nói. – Chú chán cả những hiệu lệnh những chuông điện thoại và cả những mớ dây dợ nữa. Câu chuyện kỳ quặc về cái chăn chiên là như thế nào hả?

-Đó là một sự hiểu lầm.

-Một sự hiểu lầm thú vị đấy! Cháu đừng có bén mảng đến gần cái cô bé ấy nữa. Chị cô ta chẳng ưa gì cháu đâu.

-Tại sao?

-Không biết. Như vậy cũng là đáng thôi. Cháu viết giấy, viết tờ gì mà lạ vậy? Những cuộc hẹn hò kỳ quặc vào lúc tờ mờ sáng ấy là như thế nào? Chị Ôn-ga bảo là cháu toàn dạy cho nó toàn những trò du côn thôi.

-Chị ấy nói sai! – Ti-mua tức giận.- Thế mà cũng đòi là đoàn viên. Nếu chị ấy có điều gì chưa hiểu thì ít nhất chị ấy cũng có thể gọi cháu đến để mà hỏi chứ. Tất nhiên cháu sẽ trả lời cho chị ấy đầy đủ để chị ấy rõ.

-Được, nhưng chừng nào cháu còn chưa trả lời được cho người ta rõ thì chú cấm cháu không được bén mảng đến cái vườn nhà đó, còn nếu cháu cứ tự tiện thì chú sẽ gửi ngay cháu về với mẹ cháu!

Thấy chú định bỏ đi, Ti-mua ngăn lại:

-Chú ạ, hồi còn bé chú hay làm gì? Chơi trò gì?

-Chú ấy à?… Chạy, nhảy, trèo nóc nhà, cũng có khi đánh nhau. Nhưng mọi trò chơi đều giản đơn và dễ hiểu.

 

Để cho Giê-nhi-a một bài học, ngay chiều hôm đó Ôn-ga đã bỏ về thẳng Mát-xco-va, không thèm nói với em nửa lời.

Chẳng có việc gì cần phải làm ở Mát-xco-va nên Ôn-ga không về nhà ngay mà tạt qua nhà bạn ngồi chơi cho đến mười giờ tối mới về nhà. Chị mở cửa phòng, bật điện lên và giật mình thấy tờ điện báo ngay ở cửa. Ôn-ga xé ra đọc. Đó là bức điện của ba.

 

Đến chiều, khi những chiếc xe tải rời vườn hoa chạy toả đi khắp nơi thì Giê-nhi-a và Ta-nhi-a mới chạy về nhà. Các em bàn nhau chơi bóng chuyền. Giê-nhi-a phải vào nhà để thay dép.

Lúc em đang buộc dây giày thì người đàn bà – mẹ em bé tóc vàng bước vào. Em bé đang ngủ gật trên tay mẹ.

Nghe nói chị Ôn-ga vắng nhà bỗng nhiên mặt bà xịu xuống. Bà nói:

-Tôi định sang gửi em ở bên này. Tôi không biết là chị cô đã đi vắng… Đêm nay tàu sẽ đến Mát-xco-va mà tôi thì phải cấp tốc đi đón bà cụ.

-Cô cứ để em ở đây, – Giê-nhi-a nói. – Cứ gì phải chị Ôn-ga… Cháu không phải là người hay sao? Cô cứ đặt em vào giường cháu, cháu sẽ nằm sang chỗ khác.

-Em nó ngủ ngoan lắm, phải đến sáng mới thức giấc, – bà mẹ mừng rỡ. – Chỉ họa hoằn lắm mới phải sửa lại gối cho em một tí thôi.

Cô bé được thay quần áo và đặt vào giường. Bà mẹ đi khỏi. Giê-nhi-a vén bức rèm cửa sổ lên để đứng ngoài sân có thể nhìn được rõ giường em gái nhỏ đó ngủ. Em đóng cửa hành lang lại rồi chạy ra chơi bóng chuyền với Ta-nhi-a. Hai em hẹn nhau là cứ chơi một “séc” lại thay nhau chạy vào xem đứa bé ngủ có ngoan không.

Các em vừa đi khỏi thì bác đưa thư già đến. Bác ta gõ cửa khá lâu mà vẫn không thấy trả lời, đành phải sang nhà hàng xóm hỏi thăm xem có phải chủ nhà này đã bỏ về thành phố cả rồi không.

-Không, – ông hàng xóm trả lời, – tôi vừa mới thấy cô em ở nhà mà. Bác đưa tôi nhận điện cho.

Ông ta ký nhận điện bỏ túi, rồi ngồi xuống chiếc ghế kê ở trong vườn, nhồi thuốc vào tẩu, hút. Ông đợi Giê-nhi-a khá lâu.

Một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua. Bác đưa thư già lại đến gặp ông hàng xóm.

-Đây nữa này, – ông nói – chẳng hiểu có việc gì mà vội vã thế không biết. Bác nhận giúp cho bức điện nữa đây.

Ông hàng xóm lại ký nhận. Trời đã tối hẳn. Ông ta đi qua cổng bước lên bậc thềm rồi nhìn qua cửa sổ vào trong nhà. Đứa bé gái vẫn ngon giấc. Con mèo sắc hung nằm cuộn tròn bên chiếc gối của nó. Như vậy tức là chủ nhà vẫn chỉ quanh quẩn đâu đây.

Ông ta mở cánh cửa sổ con ra bỏ hai bức điện báo vào đấy. Hai bức điện nằm gọn gàng trên bậu cửa sổ. Như vậy là khi nào trở về thế nào Giê-nhi-a cũng phải trông thấy ngay. Nhưng Giê-nhi-a không trông thấy. Trở về nhà trong ánh sáng trăng, em chỉ sửa lại gối cho em bé, đẩy con mèo ra chỗ khác rồi cởi quần áo và đi ngủ.

Em nằm một lúc lâu suy nghĩ, mới thấy cuộc đời hóa ra lại như vậy. Em chẳng có tội lỗi gì và hình như cả chị Ôn-ga cũng vậy. Thế mà lần đầu tiên hai chị em lại sinh sự giận nhau ghê gớm.

Thật bực mình. Không sao chợp mắt ngủ được nữa. Tự nhiên Giê-nhi-a muốn ăn bánh phết mứt. Em nhỏm dậy, bước lại tủ, bật đèn. Và mãi tới lúc này em mới chợt trông thấy hai bức điện trên bậu cửa sổ. Em hoảng hốt. Đôi tay run run bóc điện. Em đọc.

Bức điện thứ nhất viết:

“Sẽ qua nhà đêm nay từ mười hai giờ đến ba giờ sáng, đợi ở nhà trong thành phố. Ba”.

Bức điện thứ hai:

“Về ngay đêm nay, ba sẽ ở nhà. Ôn-ga”.

Giê-nhi-a hoảng hốt nhìn đồng hồ. Đã mười hai giờ kém mười lăm rồi. Em mặc vội áo vào, bế xốc đứa bé đang ngủ lên, chạy thộc ra cửa như người bị mất trí. Sực tỉnh ra, em lại đặt em bé trở lại giường. Em lao ra phố và chạy thẳng tới nhà bà lão bán sữa. Em đấm tay, đạp chân vào cửa, mãi cho tới khi bà hàng xóm ló đầu ra cửa sổ.

-Đập cái gì thế? -bà ta hỏi, giọng ngái ngủ. – Làm gì mà hét lên thế?

-Cháu không hét đâu. – Giê-nhi-a khẩn khoản. – Cháu cần gặp bác bán sữa, bác Ma-sa ấy mà. Cháu nhờ bác ấy trông giúp cho đứa bé.

-Nói năng gì mà vớ vẩn thế? – bà hàng xóm vừa trả lời vừa đóng sập cửa lại, – bà ấy sang thăm người em bên làng từ sáng sớm rồi.

Có tiếng còi tàu vọng lại từ phía ga. Giê-nhi-a vừa chạy ra đường thì va ngay phải ông già lịch thiệp tóc bạc. Đó là ông bác sĩ.

-Cháu xin lỗi cụ ạ! – em lúng túng nói. – Cụ có biết đó là tiếng còi tàu nào không?

Ông già lịch thiệp rút đồng hồ ra xem.

-Hai mươi ba giờ năm mươi lăm phút, – ông cụ trả lời, – đó là chuyến tàu cuối cùng đi Mát-xco-va trong ngày hôm nay.

-Sao lại cuối cùng ạ? – Giê-nhi-a nuốt nước mắt, nói không ra lời. – Thế chuyến tới thì vào lúc mấy giờ ạ?

-Chuyến sau vào buổi sáng, ba giờ bốn mươi. Cô bé có chuyện gì thế? – ông lão nắm lấy đôi vai đang rung lên của Giê-nhi-a lo lắng hỏi. – Cháu khóc à? Liệu ta có thể giúp được cháu việc gì không?

-Không đâu ạ! – Giê-nhi-a cố ghìm để không bật lên khóc rồi vừa bỏ chạy đi, vừa trả lời. – Bây giờ thì chẳng có ai trên đời này có thể giúp cháu được nữa rồi!

 

Về nhà em gục đầu lên gối, nhưng lại bật dậy chạy đến chỗ đứa bé đang ngủ nhìn nó đầy căm tức. Sực tỉnh ra em bèn sửa lại chăn cho em bé, đẩy con mèo sắc hung ra khỏi gối.

Em bật đèn ngoài hành lang, trong bếp, trong phòng rồi ngồi xuống đi-văng lắc đầu lia lịa. Em cứ ngồi như thế một lúc lâu, nhưng có lẽ đầu óc không nghĩ nổi một việc gì. Tự nhiên em khoác cây đàn phong cầm lên vai. Cây đàn này để lay lắt ở ngay đó. Em nâng đàn lên một cách máy móc và đưa tay lần phím đàn. Một điệu nhạc khe khẽ vang lên trang nghiêm và buồn buồn. Giê-nhi-a đặt đàn xuống, bước lại gần cửa sổ. Đôi vai em rung lên.

Không! Em không tài nào có đủ sức để chịu đựng nổi sự đau khổ một mình như thế này được. Em đốt nến rồi chạy qua vườn đến nhà kho.

Đây là gác xép. Dây, bản đồ, bao tải, cờ. Em bật đèn hiệu, bước lại gần buồng lái, tìm sợi dây cần thiết mắc vào tay quay quay thật mạnh.

 

…Ti-mua đang ngủ ngon thì con chó Ri-ta chạy đến lấy chân đập nhẹ vào vai em. Em chẳng hề hay biết gì cả. Ri-ta thấy vậy bèn lấy răng cắn mép chăn lôi tụt xuống sàn. Ti-mua choàng dậy.

-Mày đấy à, Ri-ta, – em sửng sốt hỏi. – Có chuyện gì thế?

Con chó nhìn thẳng vào mặt em, ve vẩy đuôi, mấp máy cái mõm. Ti-mua chợt nghe thấy tiếng chuông đồng rung lên ở phía ngoài.

Em chạy ra hành lang chưa hiểu ra là ai lại cần đến mình giữa đêm hôm khuya khoắt này. Ti-mua nhấc ống nghe lên.

 

-Phải rồi, tôi Ti-mua đang đứng bên máy đây. Ai đấy? Cậu… cậu đấy à, Giê-nhi-a đấy à?

Thoạt đầu Ti-mua nghe còn có vẻ bình tĩnh, nhưng sau bỗng môi em run lên. Trên mặt em những vệt đỏ cứ nổi dần lên. Em thở gấp không đều nhịp.

-Chỉ có ba tiếng đồng hồ thôi à? – em lo lắng hỏi Giê-nhi-a. – Giê-nhi-a ơi, cậu khóc đấy à? Mình nghe thấy cậu khóc đấy. Không được thế! Không nên đâu! Mình sẽ đến ngay bây giờ đây…

Ti-mua mắc ống nghe trở lại, giật vội bảng giờ tàu ở trên giá xuống.

-Phải rồi, chuyến tàu cuối cùng chạy vào lúc hai mươi ba giờ năm mươi lăm. Chuyến sau sẽ chạy vào lúc ba giờ bốn mươi phút sáng. – Em cắn môi đứng im. – Muộn rồi! Chẳng lẽ không còn cách nào khác nữa hay sao? Không! Chậm mất rồi!

Nhưng ngôi sao đỏ ngày và đêm vẫn đang rực cháy trên cánh cổng nhà Giê-nhi-a. Chính em đã đốt lên ngôi sao ấy bằng chính tay mình. Và những ánh sao vừa thẳng thắn, vừa nhọn ấy vẫn sáng rực, nhấp nháy trước mắt em.

Con gái vị chỉ huy gặp chuyện không may. Con gái vị chỉ huy bất ngờ bị rơi vào vòng vây.

Em vội mặc quần áo chạy ra đường. Và chỉ trong vài phút sau em đã có mặt trên thềm nhà của con người lịch thiệp có mái tóc bạc. Trong phòng làm việc của bác sĩ vẫn còn đèn.

Ti-mua gõ cửa. Người trong nhà ra mở cửa cho em.

-Cậu cần gặp ai? – con người lịch thiệp ngạc nhiên hỏi em, giọng khô khan.

-Cháu xin gặp ông ạ, – Ti-mua trả lời.

-Gặp ta à? – ông già lịch thiệp suy nghĩ rồi đưa tay mở rộng cửa ra, nói: – Nếu vậy thì… xin mời vào!

Hai người gặp nhau chóng vánh.

-Đó là tất cả những việc mà chúng cháu làm, – mắt Ti-mua long lanh, em kết thúc câu chuyện, – đó là tất cả những gì mà chúng cháu đã làm như một trò chơi và vì sao cháu lại cần được gặp Cô-li-a của ông lúc này.

Ông lão im lặng đứng lên. Cụ đưa tay nhanh nhẹn nắm lấy cằm Ti-mua, nâng mặt em lên mà nhìn thẳng vào tận mắt em, rồi đi ra.

Cụ vào phòng Cô-li-a, lay vai cháu.

-Dậy, cháu ơi! – ông cụ nói. – Có người đến tìm cháu đấy.

-Nhưng cháu có biết gì đâu ạ, – Cô-li-a hoảng hốt mở to mắt ra, nói với ông. – Ông ơi, cháu chẳng biết chuyện gì đâu. Thật đấy, ông ạ.

-Dậy đi cháu, – con người lịch thiệp giọng khô khan nhắc lại, – bạn cháu đến tìm cháu đấy.

 

…Giê-nhi-a ngồi bó gối trên đống rơm ở gác xép nhà kho. Em đang đợi Ti-mua đến. Nhưng bỗng em lại thấy cái đầu bù của Cô-li-a thò vào qua lỗ hổng trên cửa sổ, chứ không phải là Ti-mua.

-Cậu đấy à, Cô-li-a, – Giê-nhi-a ngạc nhiên. – Cậu cần gì thế?

-Tớ cũng chẳng biết nữa, – Cô-li-a sợ sệt trả lời khe khẽ, – Tớ đã đi ngủ rồi. Thấy cậu ấy đến gọi. Tớ tỉnh dậy. Cậu ấy bảo tớ và cậu đi ra cổng.

-Để làm gì?

-Tớ cũng chẳng biết nữa. Đầu tớ đang kêu o o lên đây này. Giê-nhi-a à, tớ chẳng biết gì đâu.

 

Không có ai ở nhà để xin phép. Chú Ghê-oóc-ghi đêm nay về Mát-xco-va và ngủ lại ở đó. Ti-mua bèn đốt đèn lên, lấy rìu và gọ con chó Ri-ta cùng đi ra vườn. Em dừng lại trước cánh cửa nhà kho đã khóa kỹ. Em hết nhìn cái búa rìu trên tay lại nhìn cái khoá treo trên cửa. Gay go thật! Em hiểu rằng – làm như thế là không nên, nhưng không còn cách nào khác. Em dang mạnh tay chặt băng cái khóa, vào dắt chiếc xe mô tô ra.

-Ri-ta! – em quỳ xuống hôn vào mõm con chó và đau khổ nói với nó. – Mày đừng giận tao nhớ! Tao không còn cách nào khác nữa.

 

Giê-nhi-a và Cô-li-a đứng bên cổng vườn. Xa xa có ánh đèn đang lao vun vút. Ánh đèn phóng thẳng tới chỗ hai em cùng với tiếng mô tô nổ giòn. Hai em bị lóa mắt vội lùi lại sát hàng rào. Vừa lúc đó ánh đèn phụt tắt, tiếng máy nổ cũng bặt đi. Ti-mua hiện ngay ra trước mắt hai người.

-Cô-li-a, – Ti-mua không chào hỏi, đi ngay vào việc, – cậu sẽ ở lại đây trông đứa bé con đang ngủ. Cậu phải chịu trách nhiệm về em bé ấy trước toàn đội ta. Giê-nhi-a ngồi lên xe! Thẳng hướng Mát-xco-va. Tiến lên!

Giê-nhi-a sung sướng kêu lên. Em lấy hết sức ôm chặt lấy Ti-mua mà hôn lên má bạn.

-Ngồi lên, Giê-nhi-a, ngồi lên!- Ti-mua hét to, cố tỏ ra mình vốn là một con người nghiêm khắc. Bám cho chặt vào! Nào, tiến lên! Tiến lên thôi!

Mô tô nổ máy, tiếng còi vang lên. Và chẳng mấy chốc ánh đèn đỏ sau xe đã biến đi trước đôi mắt còn ngơ ngác của Cô-li-a. Em đứng đó, đưa cây gậy lên ngang thắt lưng như thể cầm súng mà bước đi chung quanh ngôi nhà nghỉ rực sáng ánh đèn.

-Đúng thế đấy, – vừa bước những bước ra vẻ quan trọng em vừa lẩm bẩm, – công việc của người chiến sĩ thật là vất vả biết bao! Ngày, đêm chẳng lúc nào được yên tĩnh.

 

Sắp ba giờ sáng rồi. Đại tá A-léc-xan-đơ-rốp ngồi bên bàn. Ấm trà để bên những mẩu xúc xích, phó mát và những lát bánh mì trên mặt bàn đã nguội từ lâu.

-Nửa tiếng nữa ba sẽ đi, – ông nói với Ôn-ga, – rất tiếc là ba không được gặp em Giê-nhi-a. Ôn-ga, con khóc đấy à?

-Con chả biết tại sao em ấy lại không về. Con thương nó lắm. Em ấy đợi ba suốt ngày. Thế này thì khéo em ấy phát điên lên mất. Cứ nguyên như hiện nay nó cũng đã điên rồi.

-Ôn-ga, – người cha đứng dậy, – ba không rõ lắm, nhưng ba không tin là em Giê-nhi-a lại có thể rơi vào một nhóm trẻ xấu, lại có thể bị chúng làm cho hư hỏng, hoặc có thể bị chúng điều khiển. Không, tính tình của nó không phải vậy đâu!

-Đấy! – Ôn-ga giận hơn. – Ba cứ nói thử với em ấy câu đó xem. Xưa nay nó vẫn tự hào rằng tính nó giống hệt tính ba. Giống cái gì? Nó leo lên mái nhà, ròng dây qua ông khói. Con định lấy bàn là ra là thì tự nhiên cái bàn là bị rút nhảy bật lên. Ba ạ, lúc ba đi ở nhà em ấy có tất cả bốn cái áo. Bây giờ có hai cái đã biến thành giẻ rách rồi. Còn cái thứ ba nó lớn quá, mặc không vừa, cái thứ tư thì con chưa cho mặc. Con đã khâu cho nó ba cái mới. Nhưng nó mặc như phá ấy. Suốt ngày, con chỉ thấy em ấy bị xước, bị bầm tím. Lúc nào bị gọi về môi em ấy cũng bặm im thin thít như cái nơ hồng vậy. Còn đôi mắt xanh biếc thì cứ trố ra. Thật, ai cũng bảo rằng em ấy là hoa chứ không phải là đứa con gái nữa. Cứ đợi đấy rồi xem! Gớm thật! Hoa! Động vào là sầy tay ra cho mà xem. Ba ạ. Ba đừng nghĩ là tính em ấy giống tính ba nữa. Ba cứ thử nói câu ấy với em mà xem! Em ấy sẽ múa suốt ba ngày liền trên ống khói đấy chứ chẳng đùa đâu.

-Thôi được rồi, – người cha ôm lấy Ôn-ga, đồng tình, – ba sẽ bảo em. Ba sẽ viết thư cho em ấy. Còn con, Ôn-ga ạ, con cũng đừng quá khắt khe với em làm gì. Con bảo với em là ba rất yêu và nhớ nó, ba sẽ sớm trở về và đừng có khóc khi nhớ ba, vì em ấy là con gái của một người chỉ huy.

Chị Ôn-ga ôm chặt lấy bố, nói:

-Thế nào em ấy cũng khóc. Con cũng là con gái của người chỉ huy. Nhưng rồi cả con cũng sẽ phải khóc.

Người cha xem đồng hồ, bước lại trước gương, thắt dây lưng và sửa lại áo. Bỗng cánh cửa phía ngoài mở toang, làm chiếc rèm cửa tung lên và Giê-nhi-a xuất hiện với đôi vai nhô cao lên như chuẩn bị lao tới.

Lẽ ra thì em đã kêu ầm lên mà chạy ùa tới gặp bố, nhưng lần này em lại nhẹ nhàng bước đến, im lặng nép đầu vào ngực ông. Trán em nhọ nhem. Chiếc váy liền áo nhàu nát và đầy những vết bẩn. Ôn-ga sợ hãi hỏi em:

-Giê-nhi-a, em ở đâu đến đây? Em làm cách nào mà về đây được?

Giê-nhi-a không ngoái cổ lại, chỉ đưa cánh tay ra khẽ hất hàm làm hiệu như muốn nói rằng: “Khoan đã!… Để yên!… Đừng hỏi gì vội!…”

Người cha cầm lấy tay Giê-nhi-a, ngồi xuống đi-văng và đặt con lên lòng. Ông nhìn thẳng vào mặt con và lấy lòng bàn tay mình lau vết bẩn trên trán con.

-Tốt lắm, thật đấy! Giê-nhi-a! Con là một con người cừ lắm.

-Nhưng người em bẩn thỉu quá, mặt mũi nhem nhuốc đến thế kia kìa! Em về đây bằng cách nào vậy? – Chị Ôn-ga lại hỏi gặng.

Giê-nhi-a chỉ cho chị ra phía rèm cửa. Và thế là chị Ôn-ga nhận ra được ngay người đứng đó là Ti-mua.

Em đang tháo đôi găng da đi mô tô. Trên thái dương em còn vương một vết dầu máy mầu vàng. Mặt em ướt và mệt mỏi như một người công nhân vừa hoàn thành tích cực công việc của mình. Em cúi đầu chào mọi người.

-Ba à! – Giê-nhi-a nhảy ra khỏi lòng bố, chạy lại gần Ti-mua. – Ba đừng có vội tin ai! Họ chẳng biết tí gì đâu. Đây là Ti-mua – người bạn rất tốt của con!

Ông bố đứng dậy và không nghĩ ngơi, nắm chặt tay Ti-mua. Một nụ cười chiến thắng thoáng hiện trên khuôn mặt Giê-nhi-a. Em đưa mắt nhìn sang chị Ôn-ga như thách thức. Chị Ôn-ga bước lại gần Ti-mua mà trong lòng vẫn còn bỡ ngỡ và nghi ngờ:

-Nào… nếu vậy thì chào em…

 

Lát sau đồng hồ điểm ba tiếng.

-Ba ơi! – Giê-nhi-a hoảng hốt, – ba đã đứng dậy rồi đấy à? Đồng hồ nhà mình chạy nhanh đấy, ba ạ!

-Không, con ạ, nó chạy chính xác đấy!

-Ba ơi, cả đồng hồ của ba cũng nhanh đấy. – Em chạy lại máy điện thoại, quay số hỏi giờ và trong ống nghe vang lên một giọng nói như máy:

-Ba giờ bốn phút!

Giê-nhi-a nhìn lên tường, thở dài nói:

-Đồng hồ nhà mình chạy nhanh, nhưng chỉ có một phút thôi. Ba ơi, ba cho chúng con ra ga với. Chúng con sẽ tiễn ba ra tận tàu.

-Không, Giê-nhi-a ạ. Không cần. Ở ngoài đó ba bận nhiều việc lắm!

-Tại sao thế ạ? Ba ơi, chắc ba đã có vé rồi đấy chứ?

-Có rồi.

-Toa mềm hả ba?

-Toa mềm, con ạ.

-Úi trời ơi, sao con muốn được đi toa mềm với ba đến tận nơi nào xa, thật xa thế không biết!…

 

Và đây đâu phải là một nhà ga. Nó chỉ là một trạm phụ mới làm để bốc dỡ hàng ở ngoại ô Mát-xco-va. Ở đây chỉ có đường tàu, cột ghi, mũi tên chỉ đường, toa hàng và đầu máy. Không có lấy một bóng người đi lại. Trên đường ray có một đoàn xe bọc thép. Cánh cửa sắt toa đầu hé mở làm rạng lên khuôn mặt hồng ánh lửa của người thợ máy lúc ẩn, lúc hiện. Bố Giê-nhi-a, đại tá A-léc-xan-đơ-rốp, mặc áo da đứng trên bậc thềm trong sân ga. Một thiếu úy quân đội bước tới chào và đề nghị:

-Đồng chí chỉ huy! Xin đồng chí cho lệnh xuất phát.

-Đồng ý! – Đại tá nhìn đồng hồ: ba giờ năm mươi ba phút. – Lệnh xuất phát vào đúng ba giờ năm mươi ba phút.

Đại tá A-léc-xan-đơ-rốp đến toa và thấy trời bắt đầu hửng sáng, nhưng nhiều mây đen. Ông nắm lấy tay vịn ướt sương nơi cửa toa. Cánh cửa từ từ mở ra. Ông đặt chân lên bậc, mỉm cười, và tự hỏi:

-Toa mềm hả ba?

-Ừ, toa mềm!

Cánh cửa sắt lại rầm rầm đóng vào. Cả đoàn tàu bọc thép khổng lồ chuyển bánh. Tàu từ từ tăng tốc độ. Đầu máy lướt qua. Những đại bác lướt qua. Mát-xco-va lùi dần lại phía sau. Sương mù. Những ngôi sao vụt tắt. Trời sáng.

 

Sáng hôm sau, khi đi làm trở về anh Ghê-Oóc-ghi không thấy cả Ti-mua lẫn mô tô đâu cả. Anh nhất định gửi trả Ti-mua về cho mẹ em. Anh đang ngồi viết thư thì thấy có một chiến sĩ Hồng quân đi tới.

Đồng chí Hồng quân rút một phong thư ra đưa cho anh và hỏi:

-Đồng chí là Ga-ra-ép Ghê-oóc-ghi phải không?

-Vâng.

-Xin đồng chí nhận thư này và ký giùm vào đây.

Đồng chí Hồng quân đi khỏi.

Anh Ghê-oóc-ghi nhìn phong bì rồi huýt gió rõ to như một người thành thạo.

Phải rồi! Đây chính là điều mà từ lâu anh vẫn hằng mong đợi. Anh bóc thư ra đọc và vò nhàu bức thư anh vừa viết được mấy dòng kia đi. Bây giờ không phải là trả Ti-mua về cho mẹ nó nữa mà là gửi điện gọi mẹ nó đến đây, đến khu trại nghỉ mát này.

Ti-mua bước vào phòng, lập tức chú Ghê-oóc-ghi nổi giận, đập tay xuống bàn. Nhưng tiếp ngay sau đó Ôn-ga và Giê-nhi-a cũng bước vào.

-Khẽ chứ! – Ôn-ga nói. – Không nên quát mắng và đập bàn. Ti-mua không có lỗi gì cả. Người có lỗi là anh và cả tôi nữa.

-Đúng đấy, – Giê-nhi-a tiếp vào ngay. – Anh đừng quát bạn ấy. Chị Ôn-ga, chị đừng động vào bàn. Khẩu súng lục ở đây nổ to lắm đấy.

Anh Ghê-oóc-ghi nhìn Giê-nhi-a, rồi nhìn khẩu súng rồi lại nhìn cái quai gạt tàn thuốc lá bằng đất nung bị gãy. Anh hình như đã bắt đầu hiểu ra được một điều gì, anh thầm đoán và hỏi:

-Thế ra đêm hôm đó em đã ở lại đây đấy à, Giê-nhi-a?

-Vâng, chính em. Chị Ôn-ga, chị hãy kể lại đầu đuôi cho anh ấy nghe để chúng em đi lấy dầu hỏa và giẻ lau lau lại cái xe đã.

 

Hôm sau, khi Ôn-ga đang ngồi ngoài hành lang thì có một người chỉ huy bước qua cổng vườn vào nhà chị. Anh ta bước những bước chắc nịch và quả quyết tựa như đi về nhà mình vậy. Ôn-ga ngạc nhiên chạy ra đón. Trước mặt chị lúc này chính là anh Ghê-oóc-ghi. Anh bận bộ đồ đại úy binh chủng xe tăng.

-Thế này là thế nào? – chị Ôn-ga khẽ hỏi. – Lại… một vai mới trong vở ca kịch à?

-Không, – anh Ghê-oóc-ghi đáp, – tôi đến đây để chia tay với chị trong giây lát. Đây không phải là một vai kịch mới mà là một bộ đồ mới.

-Thế còn cái này? – chị Ôn-ga chỉ vào phù hiệu. Mặt chị ửng đỏ. – Có phải là… “chúng tôi xuyên qua bê-tông và cốt sắt đánh thẳng vào tim” đấy phải không?

-Phải, chính thế đấy. Chị Ôn-ga, chị hãy hát và đệm đàn cho tôi nghe một bài gì để tiễn tôi lên đường xa đi.

Anh ngồi xuống. Ôn-ga đi lấy đàn:

…Chàng phi công! Súng đạn

Tung cánh bay xa vời

Đến khi nào trở lại?

Biết làm sao anh ơi,

Miễn là anh trở lại

Một lần thôi… đủ rồi.

 

Ôi! Dù anh ở nơi nao

Bầu trời hay mặt đất

Dù anh ở nước nào

Đôi cánh

Đôi cánh bay cao ngất

Sao đỏ – yêu tuyệt vời

Vẫn như xưa, anh ơi

Em vẫn đợi.

-Thế đó, -chị Ôn-ga nói, – nhưng đây lại là những lời hát về các chàng lái máy bay, còn bài hát hay như vậy về các chàng lái xe tăng thì tôi còn chưa được biết.

-Không sao! – anh Ghê-oóc-ghi nói. – Chị sẽ tìm cho tôi những lời nói hay mà không cần điệu hát cũng được.

Chị Ôn-ga suy nghĩ và khi tìm ra được lời nói hay cần thiết rồi thì chị im bặt nhìn vào đôi mắt màu xám đã thôi cười của anh.

 

Giê-nhi-a, Ti-mua và Ta-nhi-a đang ở trong vườn.

Giê-nhi-a đề nghị:

-Các cậu này. Anh Ghê-oóc-ghi sắp đi rồi. Chúng mình triệu tập cả đội lại rồi cùng đi tiễn anh lên đường đi. Ta ra lệnh tập trung khẩn cấp đi. Tất cả rồi sẽ huyên náo cả lên cho mà xem.

-Không nên đâu, – Ti-mua phản đối.

-Tại sao?

-Không nên! Chúng ta từ trước đến nay chưa tiễn ai đi như thế cả.

-Thì thôi, không nên thì không nên, – Giê-nhi-a đồng ý như vậy, – các cậu ngồi đây, mình đi uống nước một cái đã.

Em bỏ đi, còn Ta-nhi-a thì tự nhiên phá lên cười.

-Cậu làm sao thế? – Ti-mua không hiểu.

Ta-nhi-a lại càng cười to hơn.

-Giỏi thật đấy! Giê-nhi-a khôn thật! “Mình đi uống nước một cái đã”.

-Chú ý! – giọng của Giê-nhi-a trong vắt và nghiêm trang vang lên trên gác xép ngôi nhà kho. – Tôi phát lệnh tập trung khẩn cấp.

-Cậu điên à? – Ti-mua đứng chồm ngay dậy. – Hàng trăm người sẽ kéo đến đây bây giờ. Cậu làm trò gì thế?

Song cái guồng lái nặng nề đã quay tít và kêu ken két lên. Những đường dây tỏa đi khắp nơi đã rung lên! Và thế là tất cả những chuông, những hộp kẽm, những chai lọ, ống bơ dưới các mái nhà kho, nhà ngang, trong các chuồng gà đều rung lên. Trăm thì chả đủ trăm nhưng ít nhất phải có tới năm chục em lao vội đến nơi đã phát ra cái hiệu lệnh quen thuộc ấy.

-Chị Ôn-ga ơi! -Giê-nhi-a chạy vào hành lang. -Chúng em cũng đi tiễn đây! Bọn em đông lắm, chị nhìn ra cửa sổ mà xem.

-Ái chà! – anh Ghê-oóc-ghi vén rèm cửa sổ lên, ngạc nhiên. – Ồ, đội của các em đông thật. Có thể chật một toa tàu ra mặt trận đấy.

-Không nên! – Giê-nhi-a thở dài nhắc lại lời Ti-mua… – Tất cả các thủ trưởng và các chỉ huy đã được lệnh là phải nghiêm ngặt tống cổ những người anh em đó ra khỏi mặt trận rồi. Tiếc thật! Nếu không thì chính em cũng sẽ có mặt ở nơi đó rồi… Xung phong! Tiến lên! Các loại súng máy hãy vượt lên tuyến đầu!… Có tôi lên đầu tiên đây!

-Em là con bé thủ lĩnh ba hoa đầu tiên trên thế giới này thì có! – chị Ôn-ga nhại lại em rồi mắc dây đeo đàn phong cầm qua vai, nói: – Thôi được, đã là tiễn thì phải có nhạc cử lên hẳn hoi.

 

Tất cả đổ ra đường. Chị Ôn-ga chơi đàn. Còn các em người thì gõ vào lọ, vào chai, người thì gõ ống bơ, hoặc cầm những thanh gỗ gõ vào nhau. Đội âm nhạc nghiệp dư tiến lên hàng đầu, cất cao tiếng hát.

Mọi người đi dọc theo những đường rợp bóng cây xanh. Họ thu hút mỗi lúc mỗi thêm nhiều người đi tiễn.

Thoạt đầu người ta chẳng hiểu làm sao lại có chuyện ồn ào, huyên náo như vậy. Có chuyện gì mà lại hát vang lên như thế? Nhưng khi biết chuyện thì ai nấy đều mỉm cười. Có người thầm thì, có người nói to chúc anh Ghê-oóc-ghi lên đường may mắ.

Khi đã tiến đến sân ga thì có một đoàn tàu quân sự lao qua. Tàu không dừng lại ở ga này.

Ở những toa đầu cũng có các chiến sĩ Hồng quân. Những người đi tiễn ở ga đều giơ tay vẫy chào. Tiếp đến những toa trống chở xe ngựa kéo pháo với cả một rừng càng màu xanh chổng lên. Sau nữa đến toa chở ngựa. Đàn ngựa chiến đang nhai cỏ. Chúng cũng được mọi người ở dưới ga “hoan hô”. Cuối cùng là những toa chở những gói gì vừa vuông lại vừa to, có bọc loại vải bạt màu xám rất cẩn thận. Cuối đoàn tàu có một chiến sĩ đứng gác đang lắc lư theo nhịp chuyển động của tàu.

Tàu hành khách đã đến. Ti-mua từ biệt người chú thân yêu.

Rồi đến lượt Ôn-ga bước lại bên anh Ghê-oóc-ghi.

-Thôi, tạm biệt anh! – chị nói. – Có lẽ sẽ còn lâu đấy nhỉ?

Anh lắc đầu và nắm lấy tay chị:

-Cũng chẳng biết được… còn tùy theo số phận!

Tiếng còi tàu, tiếng ồn ào, tiếng nhạc váng tai. Đoàn tàu chuyển bánh.

Chị Ôn-ga bỗng trở nên trầm lặng hẳn đi. Trước mắt Giê-nhi-a vụt hiện ra một niềm hạnh phúc lớn lao mà bản thân em chưa thể nào hiểu nổi.

Ti-mua rất xúc động, nhưng em cố ghìm lại.

-Thế đấy, – em hơi đổi giọng nói, – thế là từ nay tôi chỉ còn lại có một mình thôi. – Nhưng ngay sau đó em vươn người thẳng lên, nói thêm: – Nhưng ngày mai mẹ tôi sẽ đến.

-Thế tôi? – Giê-nhi-a nói to, – thế các bạn còn cả đấy thì sao? – Em chỉ tay vào các bạn. – Còn cái này nữa? – Em đưa ngón tay nhẹ đặt lên ngôi sao đỏ.

-Cứ yên tâm! – chị Ôn-ga ngừng suy nghĩ, nói với Ti-mua. – Em vẫn thường hay nghĩ đến mọi người thì mọi người cũng sẽ trả ơn em như vậy.

Ti-mua ngẩng cao đầu.

Phải rồi, ngay cả ở đây em cũng không thể trả lời thế nào khác được. Em là một chú bé thật giản dị và đáng yêu!

Em đưa mắt nhìn các bạn, mỉm cười và nói:

-Tôi đứng đây… Tôi nhìn. Mọi người đều tốt đẹp! Tất cả đều yên tâm. Như thế nghĩa là tôi cũng yên tâm. 1940